Pháp luật về quản trị công ty cổ phần tại việt nam - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

PHẠM HẢI YẾN
LKT 12-03

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 51010168

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hà Nội, 5/2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

PHẠM HẢI YẾN
LKT 12-03

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 51010168

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG

Tác giả Khóa luận

PHẠM HẢI YẾN


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tên đầy đủ

Tên viết tắt
BKS

Ban kiểm soát

CTCP

Công ty cổ phần

ĐHĐCĐ
GCN ĐKDN


Đại hội đồng cổ đông
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Giám đốc

HĐQT

Hội đồng quản trị


nghiệm đối với Việt Nam ......................................................................................... 9
1.3.1. Mô hình quản trị công ty cổ phần của Nhật Bản .......................................... 9
1.3.2. Mô hình quản trị công ty cổ phần của Hoa Kỳ........................................... 10
1.3.3. Mô hình quản trị công ty cổ phần của Châu Âu ......................................... 11
1.3.4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam ..................................................... 12
CHƯƠNG II .............................................................................................................. 13
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ
CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1. Nội dung cơ bản của pháp luật về quản trị công ty cổ phần ............................. 13
2.1.1. Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông .............. 13
2.1.2. Các quy định về Hội đồng quản trị ............................................................ 22
2.1.3. Quy định về Ban kiểm soát ....................................................................... 27


2.1.4. Quy định về Tổng giám đốc (Giám đốc).................................................... 29
2.1.5. Mối quan hệ giữa các thiết chế quản trị trong công ty cổ phần................... 30
2.2. Một số nhận xét về pháp luật quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay ... 31
2.2.1. Những kết quả đạt được ............................................................................ 31
2.2.2. Những hạn chế .......................................................................................... 32
2.2.3. Nguyên nhân ............................................................................................. 40
2.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần tại Việt
Nam ....................................................................................................................... 43
2.3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần ......................... 43
2.3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần tại Việt
Nam .................................................................................................................... 44
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 49



dung các quy định về quản trị CTCP theo LDN 2014. Thông qua đó, chỉ ra thực
trạng pháp luật về quản trị CTCP, phân tích và đánh giá tác động, ảnh hưởng của
chúng trong thực tiễn quản trị CTCP. Trên cơ sở phân tích thực trạng, đưa ra một số
giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản trị CTCP.
1


Việc nghiên cứu đề tài này đem lại những ý nghĩa sau:
Một là, làm rõ vấn đề lý luận cũng như quy định của LDN 2014 về quản trị CTCP.
Hai là, đánh giá thực trạng áp dụng quy định của LDN 2014 vào thực tiễn quản trị
CTCP, chỉ ra những điểm hợp lý và vướng mắc của quy định pháp luật.
Ba là, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định của LDN 2014 về quản trị
CTCP.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề pháp lý về quản trị CTCP, đặc
biệt là quản trị các CTCP đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt
Nam. Hiện nay, trong các CTCP không chỉ có việc quản trị mà có đến ba lĩnh vực
liên quan đến việc điều hành công ty. Một là, quản trị CTCP, đây là cách thức tổ
chức các cơ quan quyền lực của công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan
đó (hay còn gọi là cơ cấu quản lý CTCP). Hai là, cơ cấu tổ chức trong công ty – tức
là cách thức sắp xếp các đơn vị khác nhau của công ty thành các phòng, ban, tổ, v.v.
Ba là, quản trị công ty (corporate governance), theo Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế (OECD).
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong việc quản trị CTCP với những
vấn đề như: mô hình quản trị CTCP, cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực trong
công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan đó.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận là các nguyên tắc và phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta
về hội nhập kinh tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của các nước phù hợp với tình

trường có điều tiết. CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay cho nên để tìm hiểu khái niệm CTCP trước tiên cần tìm hiểu khái niệm và đặc
điểm của một doanh nghiệp nói chung. Theo khoản 7 Điều 4 LDN 2014, doanh
nghiệp được định nghĩa là “tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được
đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp theo LDN 2014 nên ngoài mang
các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng
về số lượng thành viên, cơ cấu góp vốn, trách nhiệm pháp lý của cổ đông, tư cách
pháp nhân của công ty, việc chuyển nhượng vốn và phát hành chứng khoán, CTCP
theo Điều 110 LDN 2014 được định nghĩa như sau:
“1. CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không
hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

3


d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 tại luật này;
2. CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCN ĐKDN.
3. CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”.
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần
CTCP là điển hình của công ty đối vốn. Loại hình công ty này có những đặc điểm
cơ bản để phân biệt với công ty TNHH và công ty hợp danh. Cụ thể đó là:
 Về vốn điều lệ
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá
trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ

chế độ trách nhiệm hữu hạn mà cổ đông được hưởng cũng kèm theo những ràng
buộc nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba. Khi công ty thanh toán cổ
phần mua lại hoặc trả cổ tức trái quy định, tất cả số cổ đông phải hoàn trả số tiền
hoặc tài sản đã nhận của công ty. Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút
mạnh mẽ các nhà đầu tư đầu tư vào CTCP nhiều hơn so với các loại hình doanh
nghiệp khác. Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng hiểu rằng khi mình đầu tư vào CTCP với
tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông thì không bao giờ mình bị mất
nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra đầu tư nên họ ít sợ rủi ro hơn đầu tư vốn vào công
ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân.
 Về phát hành chứng khoán
CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật
về chứng khoán để huy động vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn và
rộng ra công chúng của CTCP. CTCP có khả năng chủ động vốn một cách linh hoạt
khi cần nguồn vốn lớn để tham gia các dự án đầu tư. Sự chủ động này là yếu tố
quan trọng hàng đầu góp phần vào thành công của doanh nghiệp.
Khả năng huy động vốn lớn và rộng rãi trong công chúng cũng kéo theo nguy cơ
gây rủi ro rất cao. Bởi vậy, CTCP phải chịu nhiều quy chế pháp lý khắt khe hơn so
với loại hình doanh nghiệp khác.
 Về tư cách pháp lý
CTCP là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCN ĐKDN.
Pháp luật về công ty xác lập một cách cụ thể CTCP với tư cách là một pháp nhân
độc lập, có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý
theo luật định và tách biệt với cổ đông công ty. Trong quá trình hoạt động công ty
chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình. Thông
qua người đại diện của mình theo quy định của pháp luật, công ty có thể trở thành
nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án.
1.2. Khái quát về quản trị công ty cổ phần
1.2.1. Khái niệm quản trị công ty cổ phần
Khái niệm quản trị CTCP xuất phát từ khái niệm quản trị tổ chức và quản trị doanh
nghiệp nói chung. Quản trị tổ chức được hiểu là sự duy trì và thúc đẩy hoạt động

sát thực hiện chặt chẽ.
1.2.2. Vai trò của quản trị công ty cổ phần
Quản trị CTCP có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các cổ đông, các
đối tác của công ty; ảnh hưởng tới sự ổn định và phát triển của chính công ty và xa
hơn chính là nền kinh tế.
 Với quyền và lợi ích của cổ đông CTCP
Một hệ thống quản trị tốt sẽ đảm bảo về mặt tài chính cho các cổ đông, tạo được
lòng tin, giúp cổ đông gắn bó với công ty. Quản trị công ty không hiệu quả là
nguyên nhân chính khiến công việc kinh doanh của công ty kém hiệu quả, mất đi
niềm tin nơi thành viên và khiến họ muốn rời bỏ công ty nhằm bảo toàn, cứu vãn
6


vốn đầu tư đã bỏ ra. Một hệ thống quản trị tốt còn là yếu tố đảm bảo tiếng nói của
các cổ đông công ty, đặc biệt là các cổ đông thiểu số. Tại môi trường này, mỗi cổ
đông đều được thực hiện quyền tham gia vào quá trình đưa ra những quyết định về
hoạt động kinh doanh. Đây cũng là điều kiện giúp cổ đông gắn bó với công ty.
 Với đối tác và khách hàng của công ty
Khi lựa chọn đối tác, bộ máy quản trị cũng là một yếu tố cần xem xét. Vì vậy, hoàn
thiện quản trị làm tăng sức hấp dẫn của doanh nghiệp. Có nhiều đối tác là công ty
có cơ hội phát triển lớn hơn. Với người tiêu dùng, vai trò quản trị công ty mờ nhạt
hơn. Trong thương mại hàng hóa, quản trị CTCP thể hiện vai trò với khách hàng
chủ yếu thông qua phân phối sản phẩm, người tiêu dùng luôn lựa chọn sản phẩm,
dịch vụ từ nhà cung cấp tin cậy. Muốn vậy bộ máy quản trị tốt là không thể thiếu.
Trong thương mại dịch vụ, quản trị công ty có ý nghĩa lớn hơn với khách hàng bởi
người sử dụng dịch vụ cần xem xét nhà cung cấp có hoạt động ổn định hay không.
 Với sự tồn tại và phát triển của chính công ty
Quản trị công ty tốt thì công ty mới bền vững. Một công ty có cơ sở vững chắc
như nguồn vốn lớn, nhân lực dồi dào, giàu kinh nghiệm, nhưng trong quá trình hoạt
động để có được hiệu quả kinh doanh và phát triển hơn nữa thì cần thiết phải có bộ

yếu quam tâm đến phần vốn góp. Vốn là toàn bộ tài sản hữu hình thuộc sở hữu của
công ty có quyền quản lý, sử dụng và được đưa vào bất kỳ giai đoạn nào của chu
trình sản xuất kinh doanh nhằm kiếm lợi nhuận. Vốn của công ty được hình thành
từ nhiều nguồn: vốn vay, vốn tích lũy, vốn góp… Với CTCP, vốn điều lệ được thể
hiện dưới dạng các cổ phần, đó là phần chia nhỏ nhất của vốn điều lệ và được thể
hiện dưới hình thức cổ phiếu. Cổ phần bao gồm: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu
đãi.
Với tính chất sở hữu, cơ cấu bộ máy và cơ chế quản trị trong CTCP dựa trên sức
mạnh kinh tế của nhóm sở hữu công ty. Trong cơ cấu bộ máy quản trị công ty có sự
phân quyền rõ ràng giữa các bộ phận. Sự phân quyền này trước hết dựa trên tỷ lệ
vốn góp của các cổ đông nhằm đảm bảo một cơ cấu quản trị chặt chẽ, bảo vệ đến
mức tối đa quyền lợi của các cổ đông.
Trong cơ cấu tổ chức quản trị CTCP, ĐHĐCĐ là cơ quan có quyền lực cao nhất,
nơi thể hiện tập trung nhất vai trò của các cổ đông. Cổ đông là người góp vốn tạo
nên công ty, tùy thuộc vào số lượng cổ phần nắm giữ, họ có vai trò lớn trong việc
tồn tại và phát triển của công ty.
HĐQT là cơ quan quản lý điều hành hoạt động của CTCP. Cấu trúc vốn góp phần
quan trọng trong việc hình thành HĐQT. Điều này thể hiện rằng các cổ đông hoặc
nhóm cổ đông sở hữu tỷ lệ nhất định trong vốn điều lệ công ty có quyền đề cử
người vào HĐQT. HĐQT do cổ đông bầu tại ĐHĐCĐ theo nguyên tắc bầu dồn
phiếu. Quyền bỏ phiếu gắn liền với cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Sự chi phối này
cũng thể hiện qua tỷ lệ cổ phần có quyền bầu thành viên BKS.
 Cơ cấu thành viên của CTCP
CTCP thường có số lượng cổ đông lớn và dễ thay đổi cơ cấu thành viên. Với khả
năng huy động, chuyển nhượng vốn linh hoạt, cổ đông CTCP dễ dàng ra nhập hoặc
8


rút khỏi công ty, linh động trong việc chuyển nhượng cổ phần giữa các cổ đông
trong công ty với nhau. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới tính ổn định trong nội bộ

những người này được gọi là “đổng sự đại diện”, có quyền đại diện công ty quản lý
điều hành các mặt mà mình đảm nhiệm. HĐQT còn bổ nhiệm một số chuyên gia
làm cán bộ quản lý cao cấp để trợ giúp công việc quản lý kinh doanh. BKS giữ
9


quyền và nhiệm vụ giám sát, kiểm toán các hoạt động kinh doanh của HĐQT, điều
tra và xử lý hành vi vi phạm pháp luật hoặc không hợp lý gây hậu quả nghiêm trọng.
Ngoài ra, ĐHĐCĐ còn thuê công ty kiểm toán độc lập làm “người giám sát kế toán”
để thẩm tra tính hợp pháp hoạt động kinh doanh của HĐQT trong phạm vi tài chính.
Ngoài ra, khi tiến hành điều tra một vụ việc nghiêm trọng, ĐHĐCĐ sẽ trực tiếp bổ
nhiệm một “người điều tra” nhằm giám sát HĐQT cũng như BKS một cách thiết
thực.
Năm 1950 khi sửa đổi luật thương mại quyền lực của các giám sự đã bị cắt giảm,
họ chỉ thực hiện quyền kiểm soát tài chính còn quyền kiểm soát nghiệp vụ thuộc về
HĐQT. Nhưng sau một thời gian thi hành HĐQT đã không thực sự làm tốt nhiệm
vụ này. Luật thương mại Nhật sửa đổi năm 1974 đã tăng cường quyền lực cho các
kiểm soát viên và khôi phục quyền giám sát nghiệp vụ công ty cho họ. Ngoài ra,
nhằm tăng cường giám sát tài chính trong các CTCP Nhật Bản đã ban hành luật
thương mại đặc biệt về việc giám sát CTCP, trong đó quy định bắt buộc những
CTCP lớn phải thiết lập cơ chế kiểm soát viên song trùng, tức là ngoài có kiểm soát
viên theo luật thương mại, các công ty có quy mô lớn còn phải thiết lập kiểm soát
viên về tài chính. Năm 1993 luật thương mại Nhật Bản sửa đổi, quy định CTCP có
quy mô lớn phải thành lập BKS có ít nhất ba kiểm soát viên, trong đó có ít nhất 01
kiểm soát viên độc lập. Những CTCP nhỏ chỉ cần 01 kiểm soát viên với trách nhiệm
chủ yếu là giám sát tài chính công ty.
Năm 2002, mô hình công ty có thiết lập ủy ban được du nhập vào Nhật Bản. Khác
với CTCP có thiết lập BKS, mô hình CTCP có thiết lập ủy ban gồm ĐHĐCĐ,
HĐQT, các ủy ban, bên cạnh đó có người điều hành, giám sát viên kế toán. Việc du
nhập mô hình này trong hoàn cảnh HĐQT, BKS trong mô hình truyền thống bị hình

BKS bổ nhiệm. HĐQT có nghĩa vụ báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước
BKS. BKS giám sát hoạt động điều hành nghiệp vụ của HĐQT bao gồm kiểm tra sổ
sách tài chính, văn kiện và vật tư tài sản của công ty.
BKS có thể triệu tập họp ĐHĐCĐ để giải quyết việc thực hiện nghiệp vụ của
HĐQT. Điều lệ công ty có thể quy định và BKS có thể ra quyết định rằng, việc
HĐQT tiến hành một số nghiệp vụ nhất định cần phải có sự đồng ý của BKS;
trường hợp BKS không đồng ý HĐQT mới được tiến hành nghiệp vụ đó sau khi
được 3/4 số phiếu biểu quyết của ĐHĐCĐ tán thành. Trong khi HĐQT đại diện cho
công ty trong mọi hoạt động đối ngoại thì BKS đại diện cho công ty đối với HĐQT.
Các kiểm soát viên do ĐHĐCĐ bầu và bổ nhiệm, trừ một số là đại biểu của công
nhân viên tùy theo quy mô công ty. ĐHĐCĐ có thể bổ nhiệm kiểm toán viên đặc
biệt để kiểm soát các nghiệp vụ của công ty. Ở Châu Âu, quyền lực của ĐHĐCĐ bị
giới hạn trong một phạm vi do luật định, bao gồm bổ nhiệm các kiểm soát viên;
quyết định việc sử dụng khoản tiền lợi nhuận; quyết định việc giảm hay miễn trừ
trách nhiệm của kiểm soát viên và các thành viên HĐQT; bổ nhiệm kiểm toán viên
độc lập; sửa đổi điều lệ công ty; quyết định huy động vốn hoặc cắt giảm vốn và giải
thể công ty. Ngoài quyền hạn nêu trên, mọi thẩm quyền khác về cơ bản thuộc về
HĐQT nếu điều lệ công ty không quy định khác. Ban kiểm soát là cơ quan giám sát
đồng thời là cơ quan lãnh đạo của HĐQT. Dưới cơ chế này BKS có quyền lực rất
11


lớn, nó không những thực hiện quyền giám sát mà còn bổ nhiệm, miễn nhiệm các
thành viên HĐQT, quyết định mức lương của họ đồng thời phê chuẩn hay hủy bỏ
những nghiệp vụ trọng đại của công ty. Với cơ chế giám sát như vậy, hoạt động
giám sát của BKS ở Châu Âu có hiệu quả cao hơn ở Việt Nam.
1.3.4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Qua tổng kết cho thấy, hiện nay trên thế giới cơ bản tồn tại hai chế độ tổ chức quản
lý CTCP khác nhau là đơn lớp và song lớp. Ở chế độ thứ hai, ngoài việc thiết lập
một cơ quan chuyên trách thực hiện hoạt động quản lý điều hành còn thiết lập một

trong nhiều văn bản khác nhau nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động quản
trị CTCP đảm bảo quyền, lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ, gián tiếp giúp
CTCP hoạt động lành mạnh, hiệu quả. Như vậy, pháp luật về quản trị CTCP là tập
hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản trị CTCP.
2.1.1. Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông
 Khái niệm cổ đông và ĐHĐCĐ
Người mua cổ phần để góp vốn vào CTCP gọi là cổ đông, là người chủ của công ty,
có vai trò to lớn trong sự tồn tại và phát triển của công ty. Cổ đông của CTCP có thể
là tổ chức hoặc cá nhân, trừ trường hợp bị cấm theo khoản 2 Điều 18 LDN 2014.
Thực tế, cổ đông có thể gồm nhiều loại với tên gọi khác nhau. Cổ đông tham gia
xây dựng công ty, thông qua, ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của CTCP gọi là cổ
đông sáng lập. Người mua cổ phần là cá nhân với số lượng nhỏ, đơn lẻ vì mục đích
chờ chênh lệch mệnh giá hay đơn giản chỉ để duy trì việc làm gọi là cổ đông cá
nhân. Cổ đông là các tổ chức như cơ quan nhà nước, ngân hàng, quỹ bảo hiểm và
các tổ chức khác được gọi là cổ đông thiết chế. Người nắm giữ phần vốn đáng kể
trong công ty, có thể gom để thao túng công ty gọi là cổ đông đa số. Người nắm giữ
ít cổ phần không có ảnh hưởng đáng kể đến công ty gọi là cổ đông thiểu số. Các cơ
sở kinh doanh cung cấp nguồn vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu; hệ thống đại lý, người
bán hàng; hệ thống cung cấp tín dụng, hỗ trợ công nghệ có liên quan mật thiết đến
hoạt động kinh doanh của công ty khi họ mua cổ phần của công ty có thể gọi là cổ
đông chiến lược. Cổ đông có thể là các nhà đầu tư cá nhân hoặc tổ chức trong nước
hoặc nước ngoài. Số lượng cổ đông CTCP tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng
tối đa. Cổ đông là chủ sở hữu công ty nhưng không nhất thiết phải tham gia quản lý
công ty, họ thực hiện quyền giám sát thông qua cơ chế ủy quyền, đại diện như bỏ
phiếu tại ĐHĐCĐ, bầu HĐQT, thông qua định hướng phát triển công ty.

13



- Các quyền liên quan đến kinh tế:
Đây là nhóm quyền quan trọng nhất của cổ đông. Quyền kinh tế của cổ đông CTCP
bao gồm: cổ đông được nhận cổ tức theo quyết định của ĐHĐCĐ, được ưu tiên
mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ, được
tự do chuyển nhượng cổ phần cho cổ đông khác và cho người khác không phải cổ
14


đông, được nhận lại tài sản tương ứng với số cổ phần đã góp vào công ty khi công
ty giải thể hoặc phá sản… Như vậy, pháp luật quy định khá cụ thể quyền liên quan
đến kinh tế của cổ đông giúp họ có đầy đủ các quyền của một sở hữu thực sự đối
với CTCP.
- Các quyền kiểm tra và giám sát hoạt động của công ty:
Cổ đông có thể trực tiếp hoặc thông qua BKS để thực hiện việc giám sát toàn bộ
hoạt động của công ty nhằm bảo vệ lợi ích của chính mình. Cổ đông có quyền xem
xét, tra cứu, sao chép các thông tin trong danh sách cổ đông, sao chụp điều lệ công
ty, số biên bản họp ĐHĐCĐ, có quyền yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính
xác. Như vậy, cổ đông có thể nắm bắt đầy đủ và chính xác nhất về công ty, đồng
thời có quyền biểu quyết yêu cầu sửa đổi nếu thông tin đó thiếu hoặc không chính
xác.
- Quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh:
Trong quá trình hoạt động của mình, công ty có thể phát sinh tranh chấp giữa các
cổ đông với nhau hoặc giữa cổ đông với công ty. Nhằm bảo vệ quyền lợi chính
đáng của mình và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật của cổ đông khác, cổ đông
có quyền yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết tranh chấp xảy ra theo quy định của
pháp luật và điều lệ công ty. Đồng thời, cổ đông phải thực hiện các nghĩa vụ của
mình về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi cổ phần sở hữu
theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty. Cùng với đó, phải tuân thủ điều lệ và
quy chế quản trị CTCP, chấp hành các quyết định của ĐHĐCĐ, HĐQT.
Tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, khi họp trở thành một cơ quan quyết nghị có

sửa đổi, bổ sung điều lệ, tổ chức lại, giải thể công ty.
- Thứ hai, ĐHĐCĐ bất thường.
Ngoài các phiên họp ĐHĐCĐ thường niên, ĐHĐCĐ có thể nhóm họp bất cứ lúc
nào khi HĐQT xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty hoặc xuất hiện những tình
huống cần phê chuẩn của ĐHĐCĐ:
+ Bầu bổ sung thành viên HĐQT;
+ Xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư có quy mô vốn lớn (lớn hơn 50% tổng giá
trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty
không quy định một tỷ lệ thấp hơn).
+ Xem xét vi phạm, dấu hiệu bất thường trong quản trị công ty theo yêu cầu của
BKS;
+ Xem xét, phê duyệt các giao dịch có dấu hiệu tư lợi giữa công ty và người có liên
quan nếu giao dịch này có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo
tài chính gần nhất của công ty theo khoản 3 Điều 162 LDN 2014;
+ Quyết định mua trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại đã được chào bán
trong mỗi 12 tháng theo khoản 1 Điều 130 LDN 2014;
+ Sửa đổi, bổ sung, tổ chức lại, giải thể công ty;
+ Các vấn đề bất thường khác do yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông đại diện
cho ít nhất trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn 06 tháng liên tục
16


hoặc một tỷ lệ thấp hơn do điều kiện công ty quy định theo khoản 2, 3 Điều 114 và
khoản 3 Điều 136 LDN 2014.
Tóm lại, dù là ĐHĐCĐ thường niên hay bất thường thì địa vị pháp lý của chúng
đều như nhau. Nếu điều lệ không quy định khác, ngoài các thẩm quyền chung của
ĐHĐCĐ thường niên tại khoản 2 Điều 135, điểm c khoản 2 Điều 169 LDN 2014,
các vấn đề khác liên quan đến việc quản trị, điều hành công ty do HĐQT quyết định.
 Thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ
Trước đó, Luật công ty chưa quy định về người có thẩm quyền triệu tập ĐHĐCĐ

điểm họp và gửi thông báo mời đến các cổ đông có quyền dự họp. Cổ đông hoặc
nhóm cổ đông tại khoản 2 Điều 114 LDN 2014 có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào
chương trình họp ĐHĐCĐ. Kiến nghị phải bằng văn bản và được gửi đến công ty
chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày khai mạc, trừ trường hợp điều lệ công ty có
quy định thời hạn khác. Kiến nghị phải ghi rõ tên cổ đông, số lượng từng loại cổ
phần của cổ đông, số và ngày đăng ký cổ đông tại công ty, vấn đề kiến nghị đưa vào
chương trình họp. Người triệu tập họp ĐHĐCĐ chỉ có quyền từ chối kiến nghị nói
trên nếu có một trong các trường hợp: kiến nghị được gửi đến không đúng thời hạn
hoặc không đủ, không đúng nội dung; vấn đề kiến nghị không thuộc thẩm quyền
quyết định của ĐHĐCĐ; trường hợp khác theo điều lệ công ty. Nếu chấp nhận các
kiến nghị, người triệu tập họp ĐHĐCĐ phải đưa kiến nghị đó vào dự kiến chương
trình, nội dung cuộc họp nếu được ĐHĐCĐ chấp nhận.
Người triệu tập ĐHĐCĐ phải gửi thông báo mời họp tới tất cả cổ đông có quyền
dự họp chậm nhất 07 ngày làm việc trước ngày khai mạc nếu điều lệ không quy
định khác. Thông báo được gửi bằng phương thức bảo đảm đến địa chỉ thường trú
của cổ đông kèm theo mẫu chỉ định đại diện theo ủy quyền dự họp, chương trình
họp phiếu biểu quyết, các tài liệu thảo luận làm cơ sở thông qua quyết định và dự
thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp. Nếu công ty có trang
thông tin điện tử thì thông báo mời họp và các tài liệu gửi kèm theo phải được công
bố trên trang thông tin điện tử đó đồng thời với việc gửi thông báo cho các cổ đông.
 Điều kiện, thể thức tiến hành cuộc họp và thông qua quyết định tại
ĐHĐCĐ
LDN 1999 đã quy định cụ thể điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ song lại chưa đề
cập đến thể thức họp và biểu quyết tại cuộc họp. Bổ sung khiếm khuyết này, LDN
2005 đã dành 02 điều luật quy định về điều kiện, thể thức tiến hành họp ĐHĐCĐ tại
Điều 102, 103 và được hoàn thiện hơn tại LDN 2014 tại Điều 141, 142.
Về điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ, LDN 2005 quy định cuộc họp ĐHĐCĐ được
tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền
biểu quyết, tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định. Cuộc họp lần 02 được tiến hành
khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status