đánh giá tiềm năng năng lượng mặt trời ở việt nam theo số liệu quan trắc khí tượng thủy văn - Pdf 24


đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học tự nhiên
Hán Thị Ngân
NGHIÊN CứU ĐáNH GIá TIềM NĂNG
NĂNG L-ợng mặt trời thông qua
số giờ nắng ở việt nam Luận văn thạc sĩ khoa học
NGHIÊN CứU ĐáNH GIá TIềM NĂNG
NĂNG L-ợng mặt trời thông qua
số giờ nắng ở việt nam
Chuyên ngành:

Mã số:
Luận văn thạc sĩ khoa học
N PGS.TS. L-u Đức Hải

Hà Nội - 2011
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

i

2.2.3. Phương pháp xây dựng bản đồ bằng phần mềm ArcView GIS 3.2 30
2.2.3.1. Khái niệm 30
2.2.3.2. Cấu trúc dữ liệu trong ArcView 31
2.2.3.3. Lập bản đồ 32
2.2.4. Phương pháp đánh giá tiềm năng 33
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1. Tiềm năng năng lượng mặt trời theo từng khu vực trên lãnh thổ Việt Nam .
34
3.1.1. Khu vực Tây Bắc 34
3.1.1.1. Đặc điểm phân bố nắng 34
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

ii
3.1.1.2. Đánh giá tiềm năng 38
3.1.2. Khu vực Việt Bắc 38
3.1.2.1. Đặc điểm phân bố nắng 38
3.1.2.2. Đánh giá tiềm năng 42
3.1.3. Khu vực Đông Bắc 42
3.1.3.1. Đặc điểm phân bố nắng 42
3.1.3.2. Thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng năng lượng mặt trời 46
3.1.4. Khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ 47
3.1.4.1. Đặc điểm phân bố nắng 47
3.1.4.2. Đánh giá tiềm năng 51
3.1.5. Khu vực Bắc Trung Bộ 52
3.1.5.1. Đặc điểm phân bố nắng 52
3.1.5.2. Đánh giá tiềm năng 55
3.1.6. Khu vực Trung Trung Bộ 56
3.1.6.1. Đặc điểm phân bố nắng 56
3.1.6.2. Đánh giá tiềm năng 60
3.1.7. Khu vực Nam Trung Bộ 60

Bảng 1.3. Lộ trình phát triến nƣớc nóng mặt trời 10
Bảng 3.1. Phân chia các mức giờ nắng năm 72
Bảng 3.2. Điểm đánh giá số giờ nắng 73
Bảng 3.3. Điểm đánh giá số ngày có nắng 75
Bảng 3.4. Đánh giá độ chênh số giờ nắng giữa các trạm 79
Bảng 3.5. Đánh giá độ chênh số giờ nắng giữa các tháng 80
Bảng 3.6. Đánh giá tổng hợp 81
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Hệ thống cung cấp nƣớc nóng bằng năng lƣợng mặt trời theo kiểu
đối lƣu tự nhiên 9
Biểu đồ 3.1. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2009 khu vực Tây Bắc
34
Biểu đồ 3.2. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 khu vực Tây Bắc
35
Biểu đồ 3.3. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2009 trạm Sơn La 36
Biểu đồ 3.4. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 trạm Kim Bôi . 36
Biểu đồ 3.5. Phân bố số giờ nắng các trạm trong năm 2009 khu vực Tây Bắc
37
Biểu đồ 3.6. Phân bố số giờ nắng các trạm trong năm 2010 khu vực Tây Bắc
37
Biểu đồ 3.7. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2009 khu vực Việt Bắc
39
Biểu đồ 3.8. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 khu vực Việt Bắc
39
Biểu đồ 3.9. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 trạm Lào Cai 40
Biểu đồ 3.10. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 trạm Thái
Nguyên 40

Trung Bộ 52
Biểu đồ 3.26. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 khu vực Bắc
Trung Bộ 53
Biểu đồ 3.27. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2009 trạm Hà Tĩnh 53
Biểu đồ 3.28. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 trạm Hƣơng
Khê 54
Biểu đồ 3.30. Phân bố số giờ nắng các trạm trong năm 2010 khu vực Bắc
Trung Bộ 55
Biểu đồ 3.31. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2009 khu vực Trung
Trung Bộ 56
Biểu đồ 3.32. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 khu vực Trung
Trung Bộ 57
Biểu đồ 3.33. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2009 trạm Lý Sơn . 58
Biểu đồ 3.34. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 trạm Tuyên Hóa
58
Biểu đồ 3.35. Phân bố số giờ nắng các trạm trong năm 2009 khu vực Trung
Trung Bộ 59
Biểu đồ 3.36. Phân bố số giờ nắng các trạm trong năm 2010 khu vực Trung
Trung Bộ 59
Biểu đồ 3.37. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2009 khu vực Nam
Trung Bộ 61
Biểu đồ 3.38. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 khu vực Nam
Trung Bộ 61
Biểu đồ 3.39. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 trạm Phan Thiết
62
Biểu đồ 3.40. Phân bố số giờ nắng các tháng trong năm 2010 trạm Hoài Nhơn
62
Biểu đồ 3.41. Phân bố số giờ nắng các trạm trong năm 2009 khu vực Nam
Trung Bộ 63
Biểu đồ 3.42. Phân bố số giờ nắng các trạm trong năm 2010 khu vực Nam

Con ngƣời đang đứng trƣớc nguy cơ khủng hoảng về năng lƣợng do các
nguồn năng lƣợng truyền thống nhƣ than đá, dầu mỏ đang dần cạn kiệt, giá thành
cao, nguồn cung không ổn định, nhiều nguồn năng lƣợng thay thế đang đƣợc các
nhà khoa học đặc biệt quan tâm. Khai thác năng lƣợng tái tạo là chiến lƣợc của cả
thế giới, là giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết vấn đề an ninh năng lƣợng.
Theo ƣớc tính đến năm 2015, Việt Nam sẽ thiếu nguồn cung cấp năng lƣợng
từ nhiên liệu hóa thạch truyền thống, cần đƣợc bổ sung từ nguồn năng lƣợng tái tạo.
Theo kế hoạch, đến năm 2020, Việt Nam sẽ sản xuất 5% điện năng từ năng lƣợng
tái tạo. Cho dù đến nay, cả nƣớc mới chỉ có 20 turbine gió với công suất 1.5 MW/
turbine đặt tại Ninh Thuận, còn nguồn năng lƣợng mặt trời vẫn còn là tiềm năng bị
bỏ ngỏ ở Việt Nam.
Tiềm năng năng lƣợng mặt trời đƣợc phản ánh qua số giờ nắng. Trung bình
năm ở nƣớc ta có khoảng 1400 – 3000 giờ nắng. Việt Nam với lợi thế là một trong
những nƣớc nằm trong giải phân bổ ánh nắng mặt trời nhiều nhất trong năm trên
bản đồ bức xạ mặt trời của thế giới. Với dải bờ biển dài hơn 3.000km, có hàng
nghìn đảo hiện có cƣ dân sinh sống nhƣng nhiều nơi không thể đƣa điện lƣới đến
đƣợc. Việc sử dụng năng lƣợng mặt trời nhƣ một nguồn năng lƣợng tại chỗ để thay
thế cho các dạng năng lƣợng truyền thống, đáp ứng nhu cầu của dân cƣ các đảo là
một giải pháp có ý nghĩa về mặt kinh tế, an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, việc ứng
dụng năng lƣợng mặt trời ở Việt Nam cho đến nay còn có nhiều hạn chế, cho dù
giải pháp này có tác dụng giảm nhẹ hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Trong các khó khăn hạn chế khả năng sử dụng rộng rãi năng lƣợng mặt trời trong
cuộc sống ngƣời dân là: giá thành đầu tƣ và chi phí sản xuất điện mặt trời còn khá
cao, trang thiết bị sử dụng còn chƣa phổ biến ở Việt Nam; hơn thế nữa đó là thiếu
các thông tin khoa học cần thiết để đánh giá tiềm năng năng lƣợng mặt trời.
Với mục đích góp phần vào việc cung cấp thông tin khoa học cho việc nghiên
cứu triển khai áp dụng công nghệ khai thác và sử dụng năng lƣợng mặt trời, tôi đã
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

2

kg, nên thời gian để Mặt trời còn tồn tại đƣợc tính
hang tỷ năm. Bên cạnh sự biến đổi nhiệt độ rất đáng kể theo bán kính, một điểm đặc
biệt khác của Mặt trời là sự phân bố khối lƣợng rất không đồng đều. Ví dụ, khối
lƣợng riêng ở vị trí gần tâm Mặt trời vào khoảng 100g/cm
3
, trong khi đó khối lƣợng
riêng trung bình của Mặt trời chỉ vào khoảng 1,41g/cm
3
.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng cách từ Mặt trời đến Trái đất không
hoàn toàn ổn định mà dao động trong khoảng ±1,7% xoay quanh giá trị trung bình
đã trình bày ở trên. Trong kỹ thuật năng lƣợng mặt trời, ngƣời ta rất chú ý đến khái
niệm hằng số mặt trời (Solar Constant). Về mặt định nghĩa, hằng số mặt trời đƣợc
hiểu là lƣợng bức xạ mặt trời nhận đƣợc trên bề mặt có diện tích 1m
2
đặt bên ngoài
bầu khí quyển và thẳng góc với tia tới. Tại khoảng cách trung bình từ trái đất đến
mặt trời (1.5x10
11
m), hằng số mặt trời là S
0
= 1367 W/m
2
. Mặt trời phát ra dòng
năng lƣợng gần nhƣ không đổi đƣợc gọi là độ chói của mặt trời, có giá trị: L
0
=
3.9x10
26
W.

thông số số giờ nắng là thông số đặc trƣng nhất để đánh giá tiềm năng năng lƣợng
mặt trời.
1.1.2. Các nghiên cứu ứng dụng năng lượng mặt trời trên thế giới
Các số liệu từ REN 21: Renewables Global Status Report 2006 Update,
18.7.2006 cho thấy: đến cuối năm 2005, tổng công suất lắp đặt các hệ thống nƣớc
nóng mặt trời trên toàn thế giới vào khoảng 88GW
th
, trong đó phần lớn đƣợc lắp đặt
ở Trung Quốc và các nƣớc thuộc khối EU. Bảng 1.1 trình bày cụ thể các số liệu đó
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

5
ở một vài nƣớc tiêu biểu. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tốc độ lắp đặt các hệ
thống nƣớc nóng mặt trời ở các nƣớc đứng đầu trong bảng gia tăng rất đáng kể. Cụ
thể, nếu vào năm 2005 các nƣớc EU có 11,2GW
th
đã lắp đặt, thì vào năm 2007 con
số đó đã tăng lên đến 15,37GW
th
.
Bảng 1.1. Các số liệu về nước nóng mặt trời đã lắp đặt (cho đến cuối năm 2005)
Nƣớc
Số liệu đã lắp đặt, 10
6
m
2
collector
Số liệu đã lắp đặt, GW
th


th
.
Theo Renewables 2007, Global Status Report, công suất lắp đặt pin mặt trời trên
toàn thế giới đến năm 2007 là 10.300 MW
p
, trong đó Đức hiện đang dẫn đầu với
3.862MW
p
. Bảng 2 trình bày các số liệu về công suất pin mặt trời đã đƣợc lắp đặt ở
một số nƣớc.
Bảng 1.2. Các số liệu về công suất pin mặt trời đã lắp đặt
Nƣớc
Công suất pin mặt trời đã lắp đặt, MW
p

Đức
Nhật
Mỹ
Tây Ban Nha
Ý
Ấn Độ
Trung Quốc
Úc
Thái Lan
Indonesia
Malaysia
Philippines
Cambodia
Lào
3862

lƣợng vô tận từ Mặt trời để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con ngƣời. Trong đó,
có thể nói tốc độ khai thác sử dụng năng lƣợng mặt trời ở Trung Quốc là rất ấn
tƣợng. Các nƣớc trong khu vực cũng đang có cuộc cạnh tranh rất quyết liệt trong
lĩnh vực này.
Ngoài ra, trong cuộc chạy đua tìm kiếm những nguồn năng lƣợng mới nhằm
thay thế cho nguồn năng lƣợng đang dần cạn kiệt trên trái đất, giới khoa học đã tìm
mọi cách tận dụng nguồn năng lƣợng vô tận từ vũ trụ, mà đặc biệt là năng lƣợng
mặt trời. Nguồn năng lƣợng đó đã giúp các nhà khoa học ứng dụng và vận hành
thành công nhiều phát minh khoa học độc đáo, đồng thời mở ra những cơ hội khai
thác năng lƣợng mới cho toàn nhân loại:
- Máy bay sử dụng năng lƣợng mặt trời từ lâu đã đƣợc một số quốc gia nhƣ
Anh, Mỹ, Nhật Bản tìm cách phát triển và đã thu đƣợc thành công lớn. Chiếc máy
bay chạy bằng năng lƣợng mặt trời hiện đại nhất hiện nay của Mỹ là loại máy bay
với sải cánh dài 70 m, trọng lƣợng khoảng 1,6 tấn đã thực hiện thành công nhiều
chuyến bay không cần đến bất kỳ một nhiên liệu nào khác. Theo dự tính của các
nhà khoa học Mỹ, đến năm 2011, nƣớc này sẽ hoàn tất việc chế tạo máy bay sử
dụng năng lƣợng mặt trời và thực hiện chuyến bay vòng quanh thế giới.
- Thành công đầu tiên trong ứng dụng năng lƣợng mặt trời vào việc cung cấp
năng lƣợng cho điện thoại di động thuộc về nhà cung cấp điện thoại di động
Samsung, sau khi hãng này cho ra đời loại điện thoại di động thân thiện với môi
trƣờng đƣợc chế tạo từ nhựa tái chế, và đặc biệt là có thể gọi, hoặc nghe liên tục mà
không cần sạc pin. Thay vào đó, ngƣời sử dụng chỉ việc để mặt sau chiếc điện thoại
tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, và nó sẽ tự nạp năng lƣợng thông qua pin năng
lƣợng mặt trời. Chiếc điện thoại này của Samsung đƣợc đánh giá là điểm nhấn của
khoa học công nghệ trong thế kỷ XXI.
- Ý tƣởng trạm xe buýt chiếu sáng tự động bắt đầu đƣợc đƣa ra thực hiện tại
Florence - Italia. Vào ban đêm, những trạm xe buýt này trở thành những công trình
chiếu sáng công cộng hết sức thu hút và sang trọng. Ngoài ra, trong trạm xe buýt,
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân


Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

8
Hiện nay trên thị trƣờng đều có cả hai loại phƣơng án đã nêu ở trên. Tuy
nhiên, do các hệ thống cung cấp nƣớc nóng bằng năng lƣợng mặt trời thuộc phƣơng
án 1 thƣờng đắt hơn rất nhiều lần so với phƣơng án 2, cho nên trong thực tế thƣờng
gặp hệ thống cung cấp nƣớc nóng bằng năng lƣợng mặt trời theo phƣơng án 2 nhiều
hơn phƣơng án 1.
Hình 1.1 dƣới đây trình bày sơ đồ nguyên lý của hệ thống cung cấp nƣớc
nóng bằng năng lƣợng mặt trời theo phƣơng án 2. Từ hình vẽ ta thấy, dƣới tác động
của các tia bức xạ mặt trời, nƣớc trong collector mặt trời 1 sẽ gia tăng nhiệt độ và
dần dần đi lên theo đƣờng ống dẫn nƣớc nóng 2. Tƣơng ứng, nƣớc có nhiệt độ thấp
hơn sẽ chảy từ bình chứa 3 đặt ở phía trên để đi vào collector 1 theo đƣờng ống dẫn
nƣớc lạnh tuần hoàn 4 và tạo nên vòng tuần hoàn khép kín. Trong trƣờng hợp này
chuyển động của nƣớc là hoàn toàn tự nhiên, có nghĩa là không do tác động của
bơm, chuyển động này đƣợc tạo nên là do sự sụt giảm khối lƣợng riêng của nƣớc
khi nhiệt độ nƣớc gia tăng. Cứ tiếp tục nhƣ thế nhiệt độ của nƣớc trong bình chứa sẽ
tăng dần. Khi bức xạ mặt trời ở mức còn đủ để làm nóng nƣớc thì nƣớc trong bình
chứa bị phân lớp khá đáng kể theo nhiệt độ, theo đó nhiệt độ của nƣớc ở vị trí cao
hơn sẽ có giá trị lớn hơn. Khi nƣớc không còn chuyển động nữa thì nhiệt độ của
nƣớc trong bình chứa cũng không hoàn toàn đồng đều, tuy nhiên mức sai biệt nhiệt
độ sẽ giảm bớt.
chắn nhiệt độ của nƣớc khá ổn định, có thể kiểm soát đƣợc, có nghĩa là không phụ
thuộc vào thời tiết. Trong hệ thống này ngoài điện trở sẽ có thêm rơ le kiểm soát
nhiệt độ và bơm nƣớc.
Do chƣa có các số liệu thống kê đáng tin cậy cho nên thật khó có thể xác
định số lƣợng các hệ thống nƣớc nóng mặt trời đã đƣợc lắp đặt trong phạm vi cả
nƣớc. Tuy nhiên, một điều rõ ràng là nƣớc nóng mặt trời ngày càng đƣợc nhiều
ngƣời quan tâm. Hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng hơn 30 công ty
kinh doanh các sản phẩm nƣớc nóng mặt trời. Nếu trƣớc đây nƣớc nóng mặt trời
Nƣớc nóng đến nơi sử dụng

Cấp nƣớc lạnh
3
1
2
4
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

10
còn rất xa lạ với mọi ngƣời, thì ngày nay nƣớc nóng mặt trời đã trở nên quen thuộc
hơn, các sản phẩm nƣớc nóng mặt trời đã và đang trở thành mặt hàng cạnh tranh
quyết liệt giữa các công ty kinh doanh cùng ngành hàng này. Ở Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay có khá nhiều gia đình và một số khách sạn đang sử dụng nƣớc nóng
mặt trời, đặc biệt ở khu đô thị mới Phú Mỹ Hƣng (Quận 7, TP Hồ Chí Minh) hầu
nhƣ nhà nào cũng sử dụng nƣớc nóng mặt trời. Nhiều ngƣời vẫn ái ngại, liệu các
tỉnh ở phía bắc có thể sử dụng nƣớc nóng mặt trời đƣợc hay không? Có thể nhìn vào
tốc độ tăng trƣởng các sản phẩm nƣớc nóng mặt trời ở Trung Quốc trong những
năm gần đây để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này. Tuy nhiên, nếu lắp đặt ở các tỉnh
phía bắc, cần chú ý lựa chọn chủng loại hợp lý của collector mặt trời để có thể đạt
đƣợc mức hiệu quả nhƣ mong muốn. So với collector tấm phẳng loại thông thƣờng,
tổn thất nhiệt của collector ống thủy tinh chân không hầu như không phụ thuộc vào

42GJ.
1.1.3.2. Cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời
Cho đến nay, tổng công suất điện mặt trời đã đƣợc lắp đặt trên phạm vi toàn
quốc chỉ vào khoảng 1,2MW
p
. Trong tất cả các trƣờng hợp, theo ngôn ngữ thông
dụng, thiết bị dùng để biến đổi trực tiếp bức xạ mặt trời thành điện là pin mặt trời.
Đây là những hệ thống nhỏ lẻ, không nối lƣới, thƣờng đƣợc sử dụng trực tiếp ở
dạng điện một chiều để thắp sáng, trong một số trƣờng hợp có thể đƣợc biến thành
điện xoay chiều để sử dụng cho các nhu cầu khác. Trong vài năm trở lại đây, theo
xu thế chung, đã có một số cố gắng nghiên cứu nối lƣới điện mặt trời. Tuy nhiên,
các hoạt động này hiện chỉ đang dừng ở mức thử nghiệm, chƣa ứng dụng đƣợc
trong đời sống xã hội.
Về mặt nguyên lý, pin mặt trời đƣợc tạo nên từ những chất bán dẫn. Dƣới
tác động của các tia bức xạ mặt trời, các điện tử sẽ đƣợc tách ra khỏi các nguyên tử,
sự chuyển động của các điện tử khi đƣợc đấu nối qua vật dẫn điện sẽ tạo nên dòng
điện. Quá trình biến đổi từ các tia sáng mặt trời (Photons) thành điện (Voltage)
đƣợc gọi là hiệu ứng quang điện (Photovoltaic Effect). Cho đến hiện nay, về mặt thị
trƣờng, vật liệu thƣờng đƣợc sử dụng trong công nghiệp chế tạo pin mặt trời là Silic
tinh thể và Silic vô định hình. Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu có
xu hƣớng chuyển sang chế tạo pin mặt trời trên cơ sở nano-TiO
2
tẩm chất nhạy
quang (Dye-Sensitized Nanocrystalline TiO
2
Solar Cell). Tùy theo cấu tạo và loại
vật liệu đƣợc sử dụng mà hiệu suất pin mặt trời có thể biến đổi trong khoảng từ
11,1% cho đến 27,3%. Thông thƣờng mỗi tấm pin mặt trời đƣợc tạo nên từ nhiều
module giống nhau, bằng cách ghép các module theo một cách nào đó ngƣời ta có
thể chế tạo ra các tấm pin mặt trời có mức điện áp và công suất khác nhau. Do khả

pin mặt trời, có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng điện cho các hộ gia đình, các tổ
chức và các đơn vị trú đóng ở các vùng sâu, vùng xa. Ƣu điểm cơ bản của pin mặt
trời là tuổi thọ rất lâu, nhƣng nhƣợc điểm cơ bản của pin mặt trời là giá thành vẫn
còn cao, chƣa phù hợp với phần lớn các hộ gia đình nghèo thật sự có nhu cầu.
Chính vì vậy, trong những năm sắp tới, nên tập trung đẩy mạnh việc sử dụng pin
mặt trời ở các đơn vị thuộc khu vực nhà nƣớc trú đóng ở các vùng xa xôi nhƣ các
đơn vị bộ đội, các trạm bƣu điện, các trạm y tế, các trƣờng học và hệ thống đèn báo
hiệu giao thông,…Riêng đối với đồng bào ở các vùng sâu, vùng xa, nhà nƣớc cần
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

13
có chính sách hỗ trợ tài chính thích hợp mới hy vọng thúc đẩy đƣợc việc sử dụng
pin mặt trời.
Các số liệu khảo sát sơ bộ cho thấy, nhu cầu lắp đặt pin mặt trời cho các tổ chức,
đơn vị thuộc khu vực nhà nƣớc trú đóng ở các vùng xa xôi không ít hơn 450MW
p
.
Riêng với các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa, thật khó xác định chính xác nhu cầu
lắp đặt. Mặc dù vậy, trong vòng 10 năm sắp tới, với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế
giới, Chính phủ đang xây dựng dự án 30000 hệ điện mặt trời cho các hộ gia đình
với tổng công suất lắp đặt dự kiến khoảng 1,4MW
p
.
1.1.3.3. Các ứng dụng khác
Nhƣ đã trình bày ở trên, ngoại trừ nƣớc nóng mặt trời và pin mặt trời, ở Việt
Nam việc ứng dụng năng lƣợng mặt trời vào các lĩnh vực khác đƣợc xem là không
đáng kể. Tuy nhiên, trong số các ứng dụng ít ỏi còn lại, sấy và nấu ăn bằng năng
lƣợng mặt trời có vẻ vẫn đƣợc chú ý nhiều hơn do giá thành rẻ và công nghệ chế tạo
đơn giản. Hiện nay, ở một số nơi ngƣời ta ứng dụng năng lƣợng mặt trời để sấy
nông hải sản, chủ yếu là nông sản. Phƣơng pháp sấy thƣờng đƣợc ứng dụng là làm

rải rác do đặc điểm địa hình là vùng núi. Tây Bắc là vùng núi cao hiểm trở, có địa
hình sắp xếp gần theo một hƣớng từ Tây Bắc đến Đông Nam, gồm những dãy núi
chạy dài xen kẽ những thung lũng sông hẹp và những cao nguyên khá rộng. Vùng
Tây Bắc có địa hình phân tầng lớn, chia cắt mạnh
Sự hình thành những đặc điểm riêng biệt của khí hậu Tây Bắc là một trong
những trƣờng hợp thể hiện rõ rệt nhất tác dụng của địa hình trong sự kết hợp với
hoàn lƣu khí quyển. Đặc điểm quan trọng nhất của khí hậu Tây Bắc là có một mùa
đông tƣơng đối ấm và suốt mùa duy trì tình trạng khô hanh điển hình cho khí hậu
gió mùa. Đặc biệt, hiện tƣợng mƣa phùn rất quen thuộc ở Đồng Bằng Bắc Bộ đã
giảm sút đột ngột khi lên tới vùng núi Tây Bắc. Toàn mùa chỉ quan sát đƣợc trên
dƣới 10 ngày mƣa phùn (so với 30-40 ngày ở Đồng Bằng Bắc Bộ và 50-70 ngày ở
vùng núi Việt Bắc).
Tây Bắc là vùng có xuất phát điểm thấp trong cả nƣớc, hầu hết là đều thuộc
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số
chiếm tỷ lệ cao, nên đời sống của ngƣời dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo cao so
với các vùng trong cả nƣớc (năm 2009 là 24%), nên sức mua thấp. Cơ cấu dân số
cũng đã phần nào phản ánh sự bất cập về nguồn nhân lực. Ở Vùng, thiếu trầm trọng
lao động qua đào tạo; chất lƣợng lao động giản đơn cũng thấp hơn các Vùng khác
trong cả nƣớc. Vùng Tây Bắc trong những năm qua cũng đã nhận đƣợc sự quan tâm
chung của Đảng và Nhà nƣớc, đã có lƣới điện quốc gia cũng nhƣ chƣơng trình nƣớc
sạch…tuy nhiên cùng với những khó khăn chung thì Tây Bắc thƣờng xuyên thiếu
điện, thiếu nƣớc sạch sinh hoạt.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

15
1.2.2. Tổng quan vùng Việt Bắc
Khu vực Việt Bắc gồm các tỉnh: Bắc Cạn, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Yên. Vị trí địa lý các trạm có kinh độ từ
103
0

Hải Phòng, Bắc Ninh. Các trạm thuộc khu vực nằm từ kinh độ 105
0
40 (Bảo Lạc)
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường Hán Thị Ngân

16
đến kinh độ 107
0
58 (Móng Cái), từ vĩ độ 20
0
08 (Bạch Long Vĩ) đến vĩ độ 22
0
57
(Bảo Lạc).
Đông Bắc là vùng đồi núi và cao nguyên thấp, xen giữa có những mẳng trũng và
những thung lũng rộng. Ngoài biển, gần sát đất liền là cả một vùng quần đảo chi
chít hàng ngàn cù lao lớn nhỏ kéo dài thành một cánh cung song song với cánh
cung Đông Triều trong đó có một số đảo khá lớn nhƣ Cái Bàu, Côtô …So với các
vùng núi khác thì vùng Đông Bắc có địa hình ít chia cắt, ngay trên lƣng chừng núi
cũng có những mặt bằng khá rộng.
Đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu vùng núi Đông Bắc là có mùa đông lạnh nhất
so với tất cả các vùng khác trên toàn quốc. Do có vị trí ở địa đầu Đông Bắc của lãnh
thổ, vùng núi Đông Bắc tiếp nhận sớm nhất gió mùa Đông Bắc tràn xuống Việt
Nam, cho nên đây là nơi chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất của gió mùa cực đới. Mùa
bão ở bờ biển Đông Bắc đến sớm hơn các vùng bờ biển phía Nam, hai tháng nhiều
bão nhất ở đây là tháng tháng 7 và tháng 8.
Đông Bắc là vùng có nền kinh tế khá phát triển, nằm trong khu vực tam giác kinh
tế phía Bắc là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Ngoài ra, còn có sự thông thƣơng
với nƣớc ngoài bằng cả đƣờng biển và đất liền, là vùng có cơ sở hạ tầng tƣơng đối
tốt so với các khu vực miền núi khác của cả nƣớc, Đông Bắc tập trung nhiều tiềm

đƣợc thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 13.800 ha, trong đó có 9.400 ha
đất công nghiệp có thể cho thuê. So với cả nƣớc, vùng Đồng Bằng Bắc Bộ chiếm
26% về số lƣợng khu công nghiệp và 23% về diện tích đất tự nhiên các khu công
nghiệp. Đồng bằng sông Hồng là khu vực có đất đai trù phú, phù sa màu mỡ, sản
lƣợng lúa của khu vực tăng từ 44,4 tạ/ha ( 1995 ) lên là 58,9 tạ /ha ( 2008 ). Không
chỉ có sản lƣợng lúa tăng mà còn có một số lƣơng thực khác nhƣ ngô, khoai tây, cà
chua, cây ăn quả cũng tăng về mặt sản lƣợng và cả chất lƣợng, đem lại hiệu quả
cho ngành kinh tế của vùng. Vụ đông trở thành vụ sản xuất chính. Nuôi lợn , bò và
gia cầm cũng phát triển mạnh của vùng. Vùng duyên hải Bắc Bộ gồm Thái Bình,
Nam Định và Ninh Bình nằm giáp biển, có nhiều cửa sông lớn đổ ra, thuận lợi phát
triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Đồng bằng sông Hồng là vùng có hạ
tầng giao thông đồng bộ và thuận lợi, hoạt động vận tải sôi nổi nhất. Có nhiều
đƣờng sắt nhất đi qua các nơi khác nhau trong vùng. Đồng Bằng Bắc Bộ có nhiều
tiềm năng thuận lợi cho phát triển kinh tế. Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ sớm có những
ứng dụng và nghiên cứu sử dụng tiềm năng năng lƣợng mặt trời, tuy nhiên nó chƣa
thực sự đƣợc phát triển và quan tâm đúng mức.
1.2.5. Tổng quan vùng Bắc Trung Bộ
Khu vực Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. 20
trạm thuộc đài có tọa độ địa lý, kinh độ từ 104
0
26 (Tƣơng Dƣơng) đến 106
0
17 (Kỳ
Anh), vĩ độ từ 18
0
05 (Kỳ Anh) đến 20
0
22 (Hồi Xuân).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status