ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Bùi Trung Thành
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ
POLICLOBIPHENYL TRONG DẦU BIẾN THẾ PHẾ THẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Đỗ Quang Huy Hà Nội – Năm 2013 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN 4
1.1. ĐẶC TRƯNG CỦA DẦU BIẾN THẾ 4
1.2. TÍNH CHẤT CỦA POLICLOBIPHENYL 5
1.2.1. Cấu tạo của PCBs 5
1.2.2. Tính chất lý hóa của PCBs 6
1.2.3. Tính độc của PCBs 7
1.3. SỬ DỤNG PCBS VÀ MỨC ĐỘ GÂY Ô NHIỄM PCBS 8
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN HỦY PCBS 10
1.4.1. Phương pháp thiêu đốt 10
a) Điều chế xúc tác 45
b) Nghiên cứu các đặc trưng của vật liệu xúc tác 46
c) Nghiên cứu phân hủy clobenzen trên các hệ xúc tác 46
CHƯƠNG 3 48
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1. ĐẶC TÍNH CỦA SÉT BENTONIT DI LINH BIẾN TÍNH 48
3.2. KHẢ NĂNG TRAO ĐỔI HẤP THU CATION 49
3.3. ĐẶC TRƯNG HẤP PHỤ PCBS CỦA MB VÀ TB 52
3.3.1. Thành phần hóa học của TB 52
3.3.2. Khả năng hấp phụ PCBs của MB và TB 54
3.4. PHÂN HỦY NHIỆT PCBS 54
3.4.1. Phân hủy PCBs trên MB-T1 và SiO
2
55
3.4.2. Phân hủy PCBs trên MB-Tn và MB-Mm 56
3.5. PHÂN HỦY CLOBENZEN 61
3.6. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ PCBS 62
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 72
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Công thức cấu tạo tổng quát của PCBs 5
Hình 2. Cấu trúc của BENT 28
Hình 3. Sơ đồ thiết bị dùng để nghiên cứu phân huỷ PCBs 42
Hình 4. Đường ngoại chuẩn xác định tổng PCBs 44
Hình 5. Đường ngoại chuẩn định lượng clobenzen 47
Hình 6. Phổ nhiễu xạ tia X của MB đã xử lý bằng NaHCO3 51
Hình 7. Phổ nhiễu xạ tia X của MB đã trao đổi hấp thu 52
Hình 8. Ảnh SEM của tro than bay trước khi biến tính với NaOH 2M 52
Hình 9. Ảnh SEM của tro than bay sau khi biến tính với NaOH 2M 53
Hình 10. Phổ XRD của tro than bay khi được biến tính với NaOH 2M 54
Hình 11. Sắc ký đồ phân tích sản phẩm khí phân hủy PCBs 55
Hình 12. Sắc ký đồ phân tích sản phẩm khí phân hủy PCBs ở 500
o
C, 60 phút 58
Hình 13. Sắc ký đồ phân tích sản phẩm khí phân hủy PCBs ở 500
o
C, 60 phút 58
Hình 14. Phổ TPR của hệ xúc tác CuO-Cr2O3-CeO2/γ-Al2O3 61
Hình 15. Sơ đồ quy trình xử lý PCBs trong dầu biến thế phế thải 63
PCDF: Policlodibenzofuran
ppb: Một phần tỉ (10
-12
)
ppm: Một phần triệu (10
-6
)
ppt: Một phần nghìn tỉ (10
-9
)
TB: Tro than bay biến tính bằng NaOH 2M
TPR: Khử hóa theo chương trình nhiệt độ
VOCs: Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
XRD: Nhiễu xạ tia X
XT: Xúc tác
1
MỞ ĐẦU
Phương pháp xử lý các hợp chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs)
thường gặp là chôn lấp hoặc thiêu hủy ở nhiệt độ cao, buồng đốt sơ cấp 700
o
C
và buồng đốt thứ cấp lớn hơn 1.000
o
C [55]. Các phương pháp xử lý này
thường không an toàn, tiêu thụ năng lượng lớn, mặt khác khi thiêu hủy các
hợp chất POPs ở vùng nhiệt độ không đủ cao dễ dẫn đến việc hình thành các
Việc nghiên cứu sử dụng kết hợp giữa khoáng sét và các oxít kim loại
chuyển tiếp trong phân hủy các hợp chất POPs là một trong những vấn đề thu
hút sự chú ý của các nhà khoa học, tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề này. Do vậy luận văn đã lựa chọn hướng nghiên
cứu vấn đề nêu trên để xử lý một trong số các hợp chất POPs, đó là
policlobiphenyl (PCBs).
Việt Nam là một nước nhập khẩu dầu biến thế có chứa một lượng lớn
PCBs. Đây là một trong các nguồn gây ô nhiễm PCBs lớn nhất ở nước ta hiện
nay, nhưng việc nghiên cứu xử lý PCBs trong các đối tượng khác nhau nói
chung và trong dầu biến thế phế thải nói riêng ở Việt Nam còn chưa được
quan tâm một cách đúng mức.
PCBs là một hỗn hợp gồm 209 chất cơ clo được sử dụng trong dầu biến
thế, làm chất pha chế dầu thủy lực trong thiết bị khai thác mỏ, làm chất dẻo
hóa, và chất cho vào mực in, PCBs là hợp chất có khả năng gây ung thư,
gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ miễn dịch, hệ nội tiết, hệ sinh dục trên
người và động vật. PCBs là chất rất bền và khó phân hủy bằng các con đường
sinh học và hóa học. Thực hiện phân hủy PCBs không đúng quy cách có thể
làm phát sinh ra các hợp chất độc hơn như dioxin và furan. Do các đặc tính
nêu trên, PCBs đã bị cấm sử dụng từ năm 1979 và tiến tới loại bỏ chúng khỏi
các vật dụng theo quy định của Nghị định Stockholm năm 2001.
Với mục tiêu hướng đến thực hiện Nghị định Stockholm năm 2001 và
góp phần vào việc xử lý PCBs nhằm ngăn chặn không để PCBs phát thải gây
ô nhiễm môi trường từ dầu biến thế nói chung và dầu biến thế phế thải nói riêng,
luận văn lựa chọn thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm công nghệ
xử lý policlobiphenyl trong dầu biến thế phế thải". 3
hidrocacbon đã được flo hóa hoặc các hợp chất hidrocacbon silicon.
Có thể nêu tóm tắt những thành phần chính của dầu biến thế bao gồm
các paraphin, olefin, naphthen, chất thơm, các hợp chất dimetyl silicon và
etylen glycol, các hợp chất PCBs, các chất chống oxy hóa. Tính chất hoá lý
của một số loại dầu biến thế được nêu trong bảng 1 [62].
Bảng 1. Tính chất hóa lý của một số loại dầu biến thế
Đặc trưng Dầu 1 Dầu 2 Dầu 3
Tỷ trọng ở 20
o
C, g/ml 0,9227 0,9555 0,9540
Chỉ số khúc xạ, 20
o
C 1,5160 1,5315 1,5235
Chỉ số độ nhớt - 47 - 34 - 29
Độ tán sắc đặc trưng 138 149 142
Trọng lượng phân tử 298 308 308
Tổng lượng sunfua, % 1,3 5,0 6,5
Lượng sunfua, sunfit, % 0 3,6 5,8
Công thức tổng HC, C
n
H
2n
-
x
C
n
H
2n
-
nên từ hai vòng benzen liên kết với nhau. Công thức tổng quát của PCBs là
C
12
H
10-x
Cl
x
, với x>1, hình 1.
Hình 1. Công thức cấu tạo tổng quát của PCBs
PCBs là một hợp chất nhân tạo, được điều chế từ phản ứng clo hóa
biphenyl với xúc tác FeCl
3
hoặc hình thành trong quá trình xử lý chất thải.
PCBs đã từng được sử dụng trong các sản phẩm như thiết bị điện, chất phủ bề
mặt, mực, keo dán, các chất làm chậm bốc cháy và sơn.
Sự khác nhau về số lượng clo, cũng như vị trí của nhóm thế, tạo ra 209
chất khác nhau. Năm 1980, các chất trong họ PCBs đã được Ballschmiter và
Zell sắp xếp, phân loại theo số thứ tự từ 1 đến 209, theo quy tắc IUPAC.
6
Do PCBs được cấu tạo từ 2 vòng benzen liên kết với nhau, cấu dạng
tồn tại có năng lượng thấp nhất của PCBs là dạng hai vòng benzen nằm trên
cùng một mặt phẳng, và tạo ra một hệ hai vòng liên hợp. Hiệu ứng liên hợp
của các nguyên tử clo trong PCBs thường làm cho hệ hai vòng liên hợp này
bền vững hơn. Tuy nhiên sự có mặt của nguyên tử clo ở các vị trí octo có thể
gây ra hiệu ứng không gian làm cho hệ liên hợp này kém bền vững, khiến cho
cấu dạng tồn tại chủ yếu của PCBs trong trường hợp này có thể là dạng hai
1.2.3. Tính độc của PCBs
Các PCBs có mức độ độc tính khác nhau, PCBs thể hiện độc tính mạnh
nhất khi không có nguyên tử Cl ở vị trí octo, hai hoặc ba nguyên tử Cl ở vị trí
meta và para. Khi có thêm một nguyên tử Cl ở vị trí octo, ảnh hưởng độc của
PCBs giảm rõ rệt. Trong một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng độc tính của các di-
octo PCBs giảm khoảng 4-6 lần so với trước khi thay thế Cl vào vị trí octo.
Mặc dù PCBs không thể hiện tính độc ngay tức khắc, nhưng khi bị
nhiễm ở liều lượng 0,2 0,5g PCBs/kg, bệnh nhân có thể bị xám da, hỏng
mắt, nổi mụn, WHO đã chỉ ra 5/14 chất trong hỗn hợp PCBs gồm PCB81,
PCB77, PCB126, PCB169, PCB123 có độc tính cao nhất. Hệ số độ độc tương
đương so với dioxin của 5 PCBs nói trên được chỉ ra trong bảng 2 [20].
Bảng 2. Độ độc tương đương của PCBs điển hình so với dioxin
Chất
Số thứ tự theo
IUPAC
WHO-
TEF
Người/động vật
(1997)
WHO/IPCS-
TEF
(1993)
3,4,4,5-TCB 81 0,0001
3,3,4,4’-TCB 77 0,0001 0,0005
2’,3,4,4’,5-PCB 123 0,0001 0,0001
3,3,4,4’,5-PCB 126 0,1 0,1
3,3’,4,4’,5,5’- HCB 169 0,01 0,01
8
Quá trình sử dụng PCBs đã để lại khá nhiều hậu quả môi trường
nghiêm trọng. Một số sự cố môi trường tại Hoa Kỳ và một số nước châu Âu
do PCBs gây ra đã được ghi nhận. Trong giai đoạn từ năm 1947 đến 1977, hai
nhà máy sản xuất thiết bị điện tại New York, Hoa Kỳ đã thải một lượng lớn
PCBs vào sông Upper Hudson khiến cho các sinh vật thủy sinh ở đây bị
nhiễm PCBs ở mức nồng độ cao. Điều đó đã khiến cho Cục Bảo vệ Môi
trường bang New York phải ra lệnh cấm đánh bắt cá trên dòng sông này. Năm
1999, sau hơn 20 năm lệnh cấm sản xuất PCBs trên toàn thế giới có hiệu lực,
sự kiện “Dioxin” đã gây rối loạn cho chính phủ Bỉ khi các nhà khoa học nước
này phát hiện có PCBs và dioxin trong trứng và thịt gà do nước này sản xuất.
Trong khi đó ở Ireland người ta đã chỉ ra rằng đất ở một số khu vực của nước
này bị nhiễm PCBs với hàm lượng cao gấp 80 đến 200 lần tiêu chuẩn cho
phép của EU [29].
Việt Nam là nước không sản xuất PCBs nhưng đã từng nhập khẩu các
thiết bị công nghiệp có chứa PCBs (máy biến áp, tụ điện, máy cắt, chất bịt
kín, ). Trước năm 1985, tổng lượng dầu biến thế chứa PCBs được nhập
khẩu kèm theo các thiết bị điện từ Liên Xô, Trung Quốc, Rumani, vào Việt
Nam có lúc lên đến 27.000 – 30.000 tấn/năm. Việt Nam đã tiến hành một số
nghiên cứu điều tra ban đầu trong ngành điện. Căn cứ vào các báo cáo, có thể
ước tính số lượng thiết bị điện có khả năng chứa PCBs là vào khoảng 11.800
thiết bị (1.800 tụ điện và 10.000 máy biến áp); và số lượng dầu có thể chứa
PCBs là vào khoảng 7.000 tấn [16].
Như vậy, với lượng PCBs đã nêu, Việt Nam có nguy cơ bị nhiễm PCBs
ở mức độ cao nếu không có các biện pháp quản lý các chất có chứa PCBs và
các nguồn phát thải PCBs kịp thời và hợp lý. Bên cạnh đó cần sớm xác định
10
và áp dụng các kỹ thuật để xử lý, loại bỏ an toàn PCBs trong các đối tượng
trên.
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN HỦY PCBs
Để tiêu hủy an toàn PCBs, thế giới đã và đang nghiên cứu ứng dụng
11
+ Nếu đốt trên 1% các chất hữu cơ halogen thì nhiệt độ phải tăng lên ít
nhất 1.100
o
C (áp dụng đối với PCBs);
+ Trong 12 tháng vận hành đầu tiên, cứ 2 tháng/lần phải tiến hành đo
kiểm tra (6 lần/năm);
+ Ít nhất phải tiến hành đo kiểm tra 2 lần/năm trong các năm tiếp theo.
Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA) yêu cầu các lò đốt hiệu suất cao
dùng để tiêu hủy PCBs phải đạt một số tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định. Khi tiêu
hủy chất lỏng chứa PCBs, lò đốt phải có thời gian lưu cháy 2 giây tại nhiệt độ
1.200
o
C và 3% ôxy trong buồng đốt; hoặc lưu 1,5 giây ở nhiệt độ 1.600
o
C và
2% lượng ôxy trong buồng đốt. Trong điều kiện này, hiệu suất tiêu hủy các
chất PCBs dạng không lỏng có thể đạt ít nhất 6 số 9 (99,9999%).
Thiêu đốt ở nhiệt độ cao là kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trên thế giới
từ trước tới nay để phá hủy cấu trúc hóa học bền vững của PCBs. Có thể đốt
trong lò đơn kỳ như trong lò nung xi măng, hay đa kỳ, thông thường là 2 kỳ:
ban đầu cho bay hơi PCBs từ hợp chất rắn (như đất hoặc chất thải rắn), sau đó
đốt hơi thu được ở nhiệt độ cao hơn để đảm bảo khí đó bị tiêu hủy hoàn toàn.
1.4.2. Công nghệ ôxy hóa
Chủ yếu là công nghệ ôxy hóa nước siêu tới hạn (SCWO, Super-
Critical Water Oxidation), công nghệ ôxy hóa tiên tiến, công nghệ xúc tác
quang hóa. Công nghệ SCWO là quá trình ôxy hóa nhiệt có khả năng tiêu hủy
các chất thải lỏng và rắn có đường kính nhỏ hơn 200µm. Công nghệ này phù
hợp cho xử lý nước và các dung dịch nước, bùn, các hợp chất dạng dầu, chất
lỏng hữu cơ, đất và chất thải dạng rắn (có đường kính hạt < 200 µm) và các
hidro peroxit (H
2
O
2
) để phá hủy các hợp chất hữu cơ. Ánh sáng UV phản ứng
với H
2
O
2
để tạo ra gốc hidroxyl (OH
-
). Các gốc hidroxyl này sẽ phản ứng với
các chất ô nhiễm tạo thành CO
2
, H
2
O và ion còn dư như Cl
-
.
AOP là công nghệ đã được kiểm chứng và thương mại hóa (Rayox,
Ultro, ), đạt hiệu suất tiêu hủy cao (95% đối với PCBs và thuốc trừ sâu có
trong nước ngầm). Các kết quả nghiên cứu cho thấy, công nghệ này không
13
phát sinh các sản phẩn phụ độc hại, mặc dù có thể gặp một số vấn đề về khí
thải liên quan đến ozon (chất ôxy hóa) trong một vài hệ thống UV/ôxy hóa.
Nhìn chung, các công nghệ AOP rất phức tạp do ozon không bền và có
xu hướng tách các phân tử ôxy và cần tạo ra ozon tại chỗ. Quy trình này yêu
cầu các vật liệu xây dựng chất lượng cao và đội ngũ nhân viên kỹ thuật có tay
nghề tốt để tránh các rủi ro bị phơi nhiễm. Có thể áp dụng công nghệ AOP tùy
từng trường hợp hoặc có thể làm một phần trong hệ thống xử lý làm sạch
và V
2
O
5
chứa TiO
2
/WO
3
) và đã thu được kết quả khả
14
quan. Tuy nhiên, còn rất nhiều việc phải làm để thương mại hóa và đưa các kỹ
thuật mới này vào ứng dụng rộng rãi.
1.4.3. Công nghệ khử hóa học
Bao gồm các công nghệ khử hóa học pha khí (GPCR, Gas Phase
Chemical Reduction), khử clo xúc tác bazơ (BCD, Base Catalysed
Dechlorination), công nghệ solvat hóa điện tử (SET, Solvates Of Electronic
Technology), công nghệ thủy tinh hóa tại chỗ (ISV), công nghệ plasma và
khử natri.
Công nghệ GPCR được dùng để xử lý HCB, PCBs, PCDD, PCDF và
thuốc trừ sâu trong các môi trường khác nhau như rắn, đất, trầm tích, lỏng
(dầu), khí, thiết bị điện đạt hiệu suất tiêu hủy rất cao (trên 99,9999 %). Đây là
một quy trình gồm 2 giai đoạn. Ban đầu là nung nóng chất thải không có mặt
ôxy tới nhiệt độ khoảng 600
o
C, giải hấp hợp chất hữu cơ vào pha khí. Pha rắn
và lỏng của chất thải sẽ được xử lý và làm lạnh trước khi đem tiêu hủy. Ở giai
đoạn 2 sẽ xảy ra phản ứng nhiệt hóa pha khí giữa hidro với các hợp chất hữu
cơ ở nhiệt độ cao (khoảng 850
o
C) trong lò phản ứng. Hidro sẽ khử các hợp
từ quá trình phân hủy là cặn cacbon trơ và muối natri. Sau phản ứng, các cặn
rắn được tách khỏi dầu cặn bằng tỷ trọng hoặc ly tâm và có thể tái sử dụng
dầu và chất xúc tác đó.
Áp dụng quy trình BCD để xử lý DDT, PCBs, PCDD và PCDF đạt hiệu
quả rất cao, có thể phá hủy 99,9999 %. Quy trình BCD có thể diễn ra liên tục
hoặc theo từng mẻ/khối, xử lý từ 100 kg/giờ - 20 tấn/giờ đối với chất thải rắn
nếu xử lý liên tục, và từ 1 - 5 tấn/mẻ, 2 - 4 mẻ/ngày đối với chất thải rắn nếu
xử lý theo từng mẻ. Chất thải có nồng độ ô nhiễm càng cao thì đòi hỏi thời
gian phản ứng càng lâu. Khi áp dụng công nghệ BCD, cần đảm bảo các yếu tố
như nhân viên vận hành có năng lực cao, có quy trình quản lý và kiểm tra an
toàn chặt chẽ và có chương trình bảo trì, bảo dưỡng rất tốt. Công nghệ này
16
cũng có thể áp dụng ở Việt Nam nhưng chi phí cao và khá phức tạp khi vận
hành.
Công nghệ SET (Solvat Electronic Technology) có thể phá hủy các hợp
chất hữu cơ chứa halogen, PCBs, thuốc trừ sâu, CFC, PCDD và PCDF và các
dung môi clo khác có trong các dạng chất thải khác nhau (đất, trầm tích, bùn,
dầu, kim loại, chất lỏng không chứa nước, bê tông). Hiệu suất tiêu hủy đối với
hầu hết các chất POPs có thể đạt từ 95 – 99 %. SET là quy trình khử
hidrocacbon chứa halogen trong hỗn hợp natri hoặc kim loại kiềm khác trong
dung môi amoniac. Do natri tan trong amoniac nên nó phân hủy thành các ion
natri và electron. Các điện tử solvat trong dung dịch hoạt động như chất khử
mạnh dẫn đến việc loại bỏ halogen (chủ yếu là clo) trong phân tử hữu cơ và
khử các chất ô nhiễm khác. Đây là phản ứng tỏa nhiệt mạnh. Trong ứng dụng,
các vật liệu ô nhiễm được đặt trong thùng bịt kín và trộn trong điều kiện
phòng với dung môi chứa các điện tử, và nhanh chóng khử halogen. Tùy theo
môi trường nền của chất thải cần xử lý mà quy trình này cần yêu cầu phải tiến
hành tiền xử lý hoặc/và hậu xử lý. Phương pháp tiền xử lý bao gồm khử nước,
nghiền, rửa và hậu xử lý gồm đo chuẩn pH, thu amoniac, Khi áp dụng
công nghệ SET, sẽ có thể gặp một số khó khăn như: nếu thiếu chất khử thì
từ và tỷ trọng tại địa điểm xử lý. Công nghệ này đòi hỏi cung cấp đủ cho đất
một lượng vật liệu tạo thủy tinh (silicon, ôxit nhôm) và kim loại và các vật
liệu cần thiết khác (điện cực, máy biến áp để phát điện, nắp thu khí thải, hệ
thống xử lý khí thải, nước). Hạn chế của công nghệ ISV nằm ở độ dài của
điện cực và tính sẵn có của nguồn điện cung cấp. Ngoài ra, các hợp chất hữu
cơ không bền và sản phẩm đốt có thể thoát ra từ hệ thống xử lý khí thải, do đó
để tránh phát thải các khí nguy hiểm phải làm khô đất trước khi nung chảy.
Nếu có hệ thống xử lý khí thải được thiết kế tốt thì sẽ ngăn ngừa được sự rò
rỉ, độ rủi ro của công nghệ này đối với môi trường và con người, hạn chế đến
18
mức thấp nhất khả năng gây phơi nhiễm đối với con người. Dù đã được kiểm
chứng nhưng công nghệ ISV thành công nhất khi áp dụng ở nơi ô nhiễm cao
và có chất thải hỗn hợp, nhưng công nghệ này có chi phí cao. Ở Việt Nam,
chỉ nên dùng công nghệ này ở khu vực nhiễm độc cao hoặc các bãi chôn lấp
chất thải cũ nhạy cảm về môi trường.
Công nghệ hồ quang plasma có thể tiêu hủy được các hợp chất hữu cơ
(bao gồm PCBs) đạt hiệu suất tiêu hủy trên 99,99 %. Theo nguyên lý hoạt
động của công nghệ plasma, phóng một vùng tia lửa điện giữa 2 điện cực,
chiếu một dòng điện qua khí áp suất thấp để tạo plasma, sau đó đưa chất thải
vào plasma ở nhiệt độ có thể lên tới 3.000 - 15.000
o
C. Các hợp chất hữu cơ
clo chuyển về trạng thái cơ bản và hình thành các chất ở dạng khí. Có thể kể
tên một số công nghệ hồ quang plasma như: Pact process, hệ thống chuyển
đổi plasma và Plascon.
1.4.4. Công nghệ xử lý sinh học
Xử lý sinh học là việc dùng vi sinh vật để phá vỡ cấu trúc hóa học của
các hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm đất. Việc quan trọng nhất trong quy trình
này là chọn được một sinh vật phù hợp để tiến hành quá trình làm sạch sinh
học, các vi sinh vật có thể là vi khuẩn, men, nấm, Khi áp dụng công nghệ