GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN PHÁT HUY TÍN NGƯỠNG THỜ HÙNG VƯƠNG (ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG) - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ

GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN PHÁT HUY
TÍN NGƯỠNG THỜ HÙNG VƯƠNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
PHÚ THỌ - 2013
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi dân tộc trên thế giới đều có bề dày lịch sử và văn hoá của dân tộc
mình, chính điều đó quyết định sức sống, sự phát triển của lịch sử và bản sắc
văn hóa của mỗi dân tộc. Dân tộc Việt Nam có bề dày hơn 4000 năm lịch sử.
Trong sâu thẳm của tâm linh, của trí tưởng tượng, người Việt Nam vẫn tin rằng
cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ là khởi nguồn của cộng đồng dân tộc Viêt
Nam, các vua Hùng là người có công dựng nước.
Ở nước ta, thờ cúng Tổ Tiên là một nét văn hoá - tín nguỡng rất riêng của
người Việt: từ tổ tiên của một nhà (hầu như nhà người Việt nào cũng có bàn thờ
ông địa và tổ tiên đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà); tổ tiên một chi họ, một
họ (nhà thờ chi, nhà thờ tộc họ);tổ tiên của một làng, một vùng miền (nhà thờ
các vị “tiền hiền”, “hậu hiền”, tiền khai canh, hậu khai khẩn; nhà thờ tổ làng ở
các đình, miếu của hầu khắp nhiều địa phương trong toàn quốc)… đến tổ tiên
chung của cộng đồng cả nước: Đền Thờ Quốc Tổ Hùng Vương tại Khu di tích
lịch sử Đền Hùng.
Thờ Tổ Tiên là cảm thức từ tâm khảm của người Việt Nam, nhớ ngày mất
và tổ chức ngày mất (“giỗ”, “giỗ chạp”). Về mặt cổ truyền, ngoài một số vị vua,
ít ai tổ chức mừng sinh nhật hoặc như nét mới của nhiều người hiện nay, nhưng
các gia đình Việt Nam, dù giàu hay nghèo, chưa ai quên cúng cơm cho người
thân đã mất bao giờ. Người Việt Nam thường vẫn coi trọng việc cúng lễ, xây cất
mồ mả của người thân đã mất “sống về mồ về mả, ai sống về cả bát cơm”. Ngày
giỗ ông bà, cha mẹ, bao giờ con cháu cũng về tụ họp đông đủ để kính lễ. Chính

thống của dân tộc. Các Vua Hùng không phải là những ông thánh nào vô hình,
ngoài trái đất, ngoài dân tộc, mà rất thật trong lịch sử, rất gần gũi và cũng rất
linh thiêng, huyền diệu. Điểm lại tiến trình lịch sử hơn bốn ngàn năm của dân
tộc: thế kỉ thứ III trước Công Nguyên, người anh hùng Thục Phán dựng nước Âu
Lạc – đó là thời đại tiếp nối thời đại Hùng Vương, các thế hệ cháu con của Các
3
Vua Hùng đã phải chống trả các cuộc xâm lăng phương Bắc. Chiến tích của
cuộc chiến tranh chống xâm lược đó, đã để lại một Cổ Loa lịch sử cho đến tận
hôm nay. Sau đó lịch sử của dân tộc ta phải trải qua đại họa của đêm trường
“Bắc thuộc và chống Bắc thuộc” kéo dài hơn một nghìn năm. Đấy là thời kì đen
tối nhưng cũng rất anh hùng của dân tộc. Để bảo vệ sự tồn tại của cộng đồng đã
có hàng nghìn năm, trước sự thống trị và đồng hoá của ngoại bang, người Việt
đã anh dũng đứng lên chiến đấu để bảo vệ những thành quả dựng nước của cha
anh. Ngay từ những năm 40 – 43 đầu Công Nguyên, Hai Bà Trưng từng đọc lời
thề “Sông Hát”:
“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng”
Còn nhiều cuộc khởi nghĩa khác trong suốt thời kì “Bắc thuộc”, tuy không
mấy cuộc khởi nghĩa giành quyền làm chủ đất nước được lâu dài, nhưng đấy là
những tiếng sấm trong đêm đông báo hiệu mùa xuân của đất nước, là chứa chất
hơn một nghìn năm nung nấu ý chí báo quốc phục thù của người Việt. Để đến
thế kỉ thứ X, lịch sử sang trang, đánh dấu một kỉ nguyên mở đầu cho các kỉ
nguyên độc lập tự chủ. Từ thế kỉ X đến nay, dân tộc ta đã tiếp nối mười thế kỉ
dựng nước và giữ nước. Mười thế kỉ vừa qua đó là mười thế kỉ quyết tâm giữ
nước mạnh để dựng nước yên.Thời gian dựng nước trong mười thế kỉ đó dài hơn
thời gian giữ nước, nhưng hầu như chưa một thế kỉ nào dân tộc ta được sống
trọn vẹn trong hoà bình, thế kỉ nào cũng chứa đựng chiến tuyến và xông trận để
bảo vệ tổ quốc.
Một dân tộc chịu nhiều vất vả bởi thiên tai, lũ lụt, nhiều mất mát bởi chống
giặc ngoại xâm, để có được độc lập, tự do,để có được cơm no, áo ấm, người Việt

Các Vua Hùng. Thời nhà Nguyễn, triều đình (nhà nước) quan tâm đến việc cấp
kinh phí tu bổ, tôn tạo nhiều lần, định lệ về ngày giỗ tổ vào mùng 10 tháng 3
hàng năm và nghi thức cúng lễ, đưa việc thờ Các Vua Hùng vào thờ ở miếu
“Lịch đại đế vương” trong kinh thành Huế. Ở thời hiện đại, sự quan tâm, chú ý
5
đó càng cao hơn bao giờ hết. Ngày 8/2/1984, Chính phủ - khi ấy là Hội đồng bộ
trưởng – đã phê duyệt “Dự án quy hoạch tổng thể Khu di tích Đền Hùng”, với số
vốn đầu tư lên tới hàng trăm tỉ đồng. Từng bước, liên tục từ năm 1994 tới nay,
những nguồn kinh phí lớn đã được cung cấp để tu bổ, tôn tạo, nhiều công trình,
hạng mục trong và ngoài dự án ấy.
Việc làm sáng tỏ những yếu tố cội nguồn làm nền tảng nảy sinh Đền Hùng
và tín ngưỡng Hùng Vương là việc cần thiết, có nhiều ư nghĩa thực tiễn, cũng
như là ý nghĩa khoa học, giúp cho chúng ta hiểu không chỉ về tín ngưỡng Hùng
Vương trong đời sống tinh thần dân tộc, mà còn hiểu vì sao Đền Hùng phát triển
trong tiến trình lịch sử.
Mặc dù, cho tới nay đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tín
ngưỡng Hùng Vương, tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu về giải pháp
nhằm bảo tồn và phát triển tín ngưỡng Hùng Vương một cách toàn diện, hệ
thống. Vì vậy chúng em mạnh dạn lưa chọn đề tài “Giải pháp nhằm bảo tồn,
phát huy tín ngưỡng thờ Hùng Vương” làm đề tài nghiên cứu khoa học của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có rất nhiều tài liệu, sách báo, các cuộc chuyên đề hội thảo bàn về tín
ngưỡng Hùng Vương.
Cuốn “Thần người và Đất Việt”, (2006) của Tạ Chí Đại Trường là một công
trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Ông nhấn mạnh lên các sự liên tục văn
hoá, để thấu hiểu, bên trên sự hỗn độn của các dữ kiện thần thoại, hiện tượng tín
ngưỡng trong tính đơn nhất, sống động của nó, như là một hoạt động văn hoá
dưới nhiều hình thức khác nhau. Sự nghiên cứu của ông là một nghiên cứu các
sự thay đổi: tín ngưỡng tôn giáo chuyển hoá hơn là tan biến, với những thay đổi

hoá dân tộc.
7
PGS.TS Đặng Việt Bích nghiên cứu viên cao cấp Viện Văn hoá và nghệ
thuật Việt Nam (VICAS) đã có bài tham luận về “Hùng Vương với sự hình
thành người Việt tục thờ cúng Hùng Vương” (2011).
Hội thảo về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại – nghiên
cứu trường hợp tín ngưỡng thờ Hùng Vương ở Việt Nam với sự góp mặt của 138
nhà khoa học với 130 bản tham luận. Bài tham luận của tiến sĩ Lê Thị Minh Lý
nêu rõ về vấn đề phát triển du lịch từ “Tín ngưỡng thờ Hùng Vương”.
Trong thực tế hiện nay ở Việt Nam đã có rất nhiều tài liệu và các công trình
nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Hùng Vương, nhưng rõ ràng chưa có một công
trình chuyên sâu nào tập trung vào vấn đề giải pháp bảo tồn và phát huy tín
ngưỡng thờ Hùng Vương. Những tài liệu trên là những tài liệu cơ bản, rất có giá
trị trong quá trình nghiên cứu, gợi ý những vấn đề chưa được giải quyết để
chúng em thực hiện đề tài: “Giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy tín ngưỡng thờ
Hùng Vương”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy tín ngưỡng thờ
cúng Hùng Vương
- Phạm vi: Địa bàn tỉnh Phú Thọ
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
+ Làm rõ giá trị của tín ngưỡng Hùng Vương trong tiến trình lịch sử dân tộc.
+ Trên cơ sở đó đề tài bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và
phát triển tín ngưỡng thờ Hùng Vương. Đồng thời qua đó lưu giữ, kế thừa và
phát huy những nét đẹp văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh người Việt.
- Nhiệm vụ:
+ Tập hợp, phân tích tư liệu nhằm làm sáng tỏ và khẳng định giá trị của tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên và đặc biệt là tín ngưỡng thờ Hùng Vương trong đời
sống tinh thần của người dân Phú Thọ nói riêng và người dân đất Việt nói

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG
VƯƠNG
9
1.1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
1.1.1. Khái niệm về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Phong tục thờ cúng tổ tiên xuất hiện từ xa xưa của lịch sử nhân loại, đã từng
tồn tại ở nhiều châu lục và nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản…
Ở nước ta, tín ngưỡng này tồn tại ở tất cả các thành phần dân tộc và thu hút hầu
như 100% dân cư. Dù là tín đồ tôn giáo nào, Cao Đài hay Hoà Hảo, Phật giáo
hay Khổng giáo, đã là người dân gốc Việt họ đều hướng về vùng đất Tổ - cội
nguồn của dân tộc đều coi trọng tổ tiên những người đã có công sinh thành và
dưỡng dục chúng ta nên người.
Đã bao nhiêu thế kỉ trôi qua nhưng người Việt Nam dù ở phương trời nào
từ Bắc đến Nam, dù trong nước hay xa xứ vẫn luôn hướng về vùng đất Tổ và coi
đó là quê hương xứ sở của cả cộng đồng. Nhiều người đẫ không tiếc công sức,
tiền của, chẳng ngại xa xôi, vất vả hành hương về với Đền Hùng để thắp nén
nhang tri ân, tưởng nhớ tới tổ tiên của mình.Tín ngưỡng này trở thành tâm thức
của mỗi người dân đất Việt hương tới một đạo lý, truyền thống đạo đức cao đẹp
“Uống nước nhớ nguồn” của cả dân tộc.
Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng phổ biến, một nét sinh hoạt văn hoá tinh
thần đặc sắc và là một phong tục truyền thống đẹp của người dân Việt Nam.
Chính điều đó đã tạo nên một sự khác biệt căn bản về văn hoá giữa Việt Nam và
văn hoá các quốc gia phương Tây. Nơi mà đời sống tinh thần của con người chủ
yếu hướng về Thiên Chúa giáo hay các quốc gia Arập mà Hồi giáo là quốc giáo.
Trước hết chúng ta cần phải hiểu khái niệm tổ tiên và thờ cúng tổ tiên của
một người chính là những người cùng huyết thống như cụ, kị, ông, bà, cha,
mẹ… đã mất. Thờ cúng tổ tiên chính là thờ cúng cụ kị, ông bà, cha mẹ những
người đã mất đó với niềm tin là họ sẽ giúp đỡ và phù hộ cho những người đang
sống. Đây là một tín ngưỡng có từ thời nguyên thuỷ bắt nguồn từ niềm tin của
mỗi ngưòi đều có hai phần thể xác và linh hồn.Khi thể xác mất đi nhưng linh

nhau và là tâm linh chủ yếu của cộng đồng, là lực hút các yếu tố ngoại sinh hay
là những yếu tố ra nhập vào các tôn giáo khác” [30;29].
Bên cạnh đó lại có nhiều ý kiến khác, cho rằng thờ cúng tổ tiên là một loại
hình tín ngưỡng, hay tín ngưỡng dân gian. Tác giả Huyền Giang lý giải: “Từ xa
xưa rõ ràng thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng sâu sắc của người Việt… Nhưng
từ đó, chưa thể nói rằng thờ cúng tổ tiên là một thứ tôn giáo của người Việt.
Thoạt nhìn có thể coi là tôn giáo, vì hầu hết các nhà đều có bàn thờ, đều làm
nghi thức thờ cúng trang trọng và thành kính, nghĩa là có những dấu hiệu của
tôn giáo, nhưng đó chưa phải là tôn giáo hiểu theo nghĩa chặt chẽ của khái
niệm này. Thờ cúng tổ tiên không có những giáo lý thống nhất, cũng không có
giáo hội với những phép tắc nghiêm ngặt như thường thấy ở các tôn giáo khác”
[22;149].
Như vậy, dù có quan niệm như thế nào về thờ cúng tổ tiên như một tôn
giáo, một tín ngưỡng, một phong tục, hay luật tục thì thờ cúng tổ tiên vẫn mãi là
truyền thống, một nét văn hoá đẹp trong đời sống tinh thần của người dân đất
Việt.
1.1.2. Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Cho đến nay, việc xác định thời điểm ra đời của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
chưa có sự thống nhất. Tuy vậy, nhiều người cho rằng, cơ sơ quan trọng đầu tiên
cho việc hình thành bất kì tín ngưỡng nào cũng đều xuất phát từ quan niệm tâm
linh của con người. Khi xuất hiện xã hội loài người là thời gian bắt đầu hình
thành tín ngưỡng, tuy chỉ là hình thức tín ngưỡng sơ khai, gắn với tổ chức thị
tộc. Mỗi tổ chức thị tộc có những hình thức thờ cúng riêng với các tập tục thờ
cúng vật thiêng được coi là tổ tiên của thị tộc đó. Dân tộc Việt Nam cổ đại đã
chọn con chim lạc vốn là tô tem của một bộ phận cư dân miền núi làm tô tem
của mình. Cũng như dân tộc Hoa của Trung Quốc chọn con chim huyền điểu
làm vật tổ của mình. Càng dần về sau, khi xã hội phát triển, con người có những
nhận thức mới, người ta coi sự chết không phải là hết mà là sự tiếp nối của một
12
cuộc sống ở thế giới khác, và con người có thế giới bên kia, có thiên đàng – địa

chữ hiếu nghĩa với quan niệm: Trung với vua, hiếu với cha mẹ là cùng một gốc.
Chữ hiếu được đề cao từ trong gia đình đến xã hội với ý nghĩa con cái mang ơn
công sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ. Và với ý nghĩa đó, người con có nghĩa
vụ báo đáp công sinh thành giáo dưỡng bằng hình thức phụng dưỡng cha mẹ khi
còn sống và thờ cúng cha mẹ khi họ qua đời.Và cứ như thế, đời này qua đời
khác, tục thờ cúng tổ tiên ra đời và phát triển thành tín ngưỡng đi sâu vào tâm
thức của mỗi người.
Ngoài nhu cầu tâm linh của con người được đáp ứng qua các hình thức tín
ngưỡng, tôn giáo, tục thờ tổ tiên còn là biểu hiện của đạo lý làm người, là nhu
cầu hướng về cội nguồn của gia đình và dân tộc. “Thờ cúng tổ tiên là sự tiếp nối
giữa quá khứ, hiện tại và tương lai” [11;75].
Tuy nhiên, hình thức thờ cúng tổ tiên ở mỗi nơi một khác, mỗi giai đoạn
lịch sử lại có sắc thái riêng. Nghĩa là, hình thức của nó đa dạng, muôn vẻ với
nhiều biến thể để đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng của con người không chỉ ở
Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn xuất hiện ở các quốc gia láng giềng
như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… Nhưng ở mỗi quốc gia, tín ngưỡng này lại
mang những màu sắc riêng biệt.
Ở Ấn Độ, người Ấn Độ theo đạo Balamôn, thờ cúng tổ tiên nhằm làm cho
người chết được lên trời, trở thành bất tử. Nhưng những người theo Ấn Độ giáo
ở nước này lại quan niệm “khi chết sẽ có sự phán xét của Yama, nếu con cháu
thờ cúng thì người chết sẽ được lên trời chứ không phải xuống địa ngục”
[11;76].
Còn ở Trung Quốc, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng có vị trí quan trọng
nhất.Tín ngưỡng này, giữ vai trò trung tâm trong đời sống tinh thần của đa số
dân cư.Mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trí trung tâm trong ngôi
nhà.Và hàng năm cứ đến ngày giỗ, tết, đại diện mỗi gia đình sẽ chịu trách nhiệm
chủ trì nghi thức thờ cúng.
14
Ở Việt Nam, có giả thiết cho rằng “sự thờ cúng tổ tiên lúc đầu được cử
hành ở người Hán, rồi lan dần ra người Việt và đến một thời điểm nào đó, nó

ngưỡng thờ cúng tổ tiên không phải là tôn giáo mà là một tập tục truyền thống,
một đạo lý cơ bản của mỗi người và mỗi gia đình.
Trong xã hội truyền thống ở việt Nam, do những đặc thù về địa- chính trị
và địa- văn hóa, từ hàng nghìn năm nay, làng là đơn vị hành chính cơ sở có vai
trò hết sức quan yếu trong việc sáng tạo, bảo giữ và lưu truyền những bản săc
văn hóa truyền thống .
16
Với tư cách là một đơn vị cộng sinh và cộng cảm, từ tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên theo quan hệ huyết thống của mỗi gia đình, mỗi dòng tộc, cộng đồng làng
xã còn tạo nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cả cộng đồng làng xã- của tất cả
những người có mối quan hệ phi huyết thống và huyết thống, sống chung trên
một địa bàn và đối tượng thờ cúng của cộng đồng làng không phải và không chỉ
là những người trực tiếp sinh ra họ mà là những nhân vật được toàn thể cộng
đồng thừa nhận và suy tôn thành Thành hoàng.
Trong số này, có thiên thần và nhân thần- những danh nhân lịch sử, danh
nhân văn hóa, những anh hùng có công dựng nước và giữ nước hoặc nhân vật có
thật trong lịch sử có công lập làng, truyền nghề…Đồng thời, cũng có không ít
thành hoàng làng là các biểu tượng được xây dựng từ huyền thoại, huyền tích,
được cộng đồng gán ghép và xây dựng thành những nhân vật siêu phàm, thành
những biểu tượng văn hóacủa cộng đồng mang những đặc trưng của địa phương
về cả tự nhiên lẫn xã hội. Những biểu tượng văn hóa này còn được hiện thực
hóa, vật chất hóa cho phù hợp với những đặc trựng về điều kiện tự nhiên và đặc
điểm xã hội của cộng đồng như có ngày sinh, ngày mất cụ thể để tổ chức cúng
giỗ hàng năm và các nghi thức tưởng niệm khác.
Thành hoàng được thờ cúng tại Đình làng, ngôi nhà thờ chung của cộng
đồng, có quy mô vượt trội so với các nhà thờ tổ tiên riêng của các tộc họ, nơi
thực hành những nghi thức thờ cúng chung và đồng thời là nơi tổ chức nhiều
hoạt động có tính văn hóa xã hội khác của cộng đồng làng xã.
17
Mục đích cơ bản của việc thờ cúng thành hoàng là tỏ lòng ngưỡng mộ, ghi

Ngoài thoả mãn nhu cầu tâm linh của con người, thờ cúng tổ tiên còn là
biểu hiện của đạo lý làm người, là nhu cầu hướng về cội nguồn của gia đình và
dân tộc. Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, chữ hiếu không chỉ dừng lại ở ý thức,
giáo dục đạo đức mà dần dần đã trở thành những nghi thức, tập tục, khuôn mẫu
thường xuyên nhắc nhở con cháu có trách nhiệm với quá khứ, hiện đại và tương
lai, với anh em, hàng xóm và xã hội…
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam đã đáp ứng nhu cầu tâm
linh dân dã, sâu sắc, đơn giản và bền vững người dân. Bởi vì khác với tôn giáo
khác, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng không có một giáo lý nghiêm ngặt, không
hề có giáo chủ hay thánh đường nguy nga lộng lẫy và cũng không hề hứa hẹn gì
lên thiên đàng hay sẽ trừng phạt xuống điạ ngục. Mà tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
chỉ nhắc nhở, động viên, khuyên dạy con cháu sống sao cho có trên có dưới, làm
tròn đạo hiếu với người còn sống cũng như những người đã khuất. Có như vậy,
người đang sống cũng thấy yên tâm và người đã khuất cũng cảm thấy được an ủi
phần nào. Và mối quan hệ gắn bó trong tiềm thức giữa những người sống ở
dương gian với những người sống ở thế giới bên kia chính là đức tin cao đẹp,
truyền thống đạo đức trong cộng đồng người Việt.
Thờ cúng tổ tiên ở một mức độ nào đó là một nét đẹp văn hoá dân tộc.Nó
không chỉ củng cố quan hệ truyền thống trong gia đình, dòng họ mà còn khẳng
định tính cộng đồng làng xã, bảo đảm ổn định cho cả dân tộc.
Thông qua nghi thức thờ cúng tổ tiên, người Việt gửi gắm tình cảm sâu
đậm trong đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” và vì “Cây có gốc mới nở cành
xanh ngọn”, “Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu” từ đó củng cố thêm lòng
hiếu thảo vốn là giá trị đạo đức truyền thống của người Việt.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như quá trình
toàn cầu hoá kinh tế, sự giao lưu thâm nhập của các yếu tố văn hoá ngoại bang
là điều khó tránh khỏi và đây trở thành một thách thức của thời đại. Vấn đề là ở
19
chỗ cần phải duy trì, phát huy những yếu tố tích cực, tiếp thu văn minh của nhân
loại. Nhưng đồng thời phải loại bỏ những yếu tố tiêu cực, làm băng hoại đi giá

rất sớm, tồn tại và phát triển cùng sự phát triển văn hoá, xã hội của đất nước. Đây là
một nét đặc thù trong văn hoá Việt bởi không phải dân tộc nào trên thế giới cũng có
chung một Tổ và có phong tục thờ cúng tổ tiên như ở nước ta. Điều đặc biệt hơn cả
đó là tín ngưỡng này được thể hiện đậm nét trên quê hương đất Tổ.
1.2. Tín ngưỡng thờ Hùng Vương
1.2.1. Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Tất cả các dân tộc có nền văn minh cổ đại, cho đến nay các bộ tộc thiểu số
vẫn có những câu chuyện cổ tích, thần thoại kể về nguồn gốc dân tộc mình như
chim Huyền Điểu sinh ra nhà Thương, các Pharaong ở Ai Cập lên đỉnh Olimpia
lấy lửa của mặt trời, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên kể cho nhau về nguồn
gốc dân tộc mình. Nhưng không một dân tộc nào lại có chuyện về tính cộng
đồng nhân văn như chuyện mẹ Âu Cơ đẻ bọc trăm trứng là nguồn gốc của cả
cộng đồng dân tộc.
Theo truyền thuyết của người Việt kể rằng: Vua Lạc Long Quân kết duyên
cùng bà Âu Cơ, sau khi có thai đã đưa về núi Nghĩa Lĩnh (núi Hùng ngày nay)
bà có mang 3 năm 3 tháng 10 ngày mới sinh một bọc trăm quả trứng. Lạc Long
Quân thấy sự lạ liền để lên mâm vàng cầu khấn thiên địa, sau 7 ngày thì trứng
nở ra 100 người con trai, vì đông không biết đặt tên thế nào cho hết liền cầu
khấn thì được ông già tóc bạc trắng đặt tên cho 100 người con đó (ông tiên này
làm nghề câu cá ở bờ sông ngã ba Việt Trì). Sau đó các khôn lớn Lạc Long Quân
bèn chia đôi 50 người theo cha về biển, 49 người con theo mẹ lên non, để người
con cả ở lại làm vua. Vì vậy từ đó sinh sôi ra các dân tộc ở vùng xuôi và vùng
ngược và đều là anh em, nên nay vẫn gọi nhau là “đồng bào” (cùng một bọc).
Núi Hùng ngày nay là nơi các vua Hùng thường chọn để thờ trời và làm
các nghi lễ: thờ thần lúa để cầu cho mùa màng tốt tươi, muôn dân no ấm. Hùng
Vương thứ 6 sau khi đánh tan giặc Ân thì hoá và tương truyền mộ xây tại lưng
21
đồi. Sau Thục Phán được vua Hùng thứ 18 nhường ngôi lập ra nhà nước Âu Lạc,
dời đô về Cổ Loa, cho xây dựng đền Hùng làm nơi thờ các vua Hùng. Đền
Giếng còn là nơi hai bà công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa ra soi gương chải tóc.

Việt sử lược ghi lại: "ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật áp phục các bộ
lạc khác, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu đặt tên nước là Văn
Lang". Đến nay tìm thấy ở Gò De nhiều hiện vật độc đáo, đặc biệt trong những
ngôi mộ cổ cách ngày nay khoảng trên 2000 năm như: vuốt đồng, lưỡi đinh ba
đồng, rìu, giáo, qua đồng Đinh ba có hình dạng giống như là cây quyền trượng
chứ không phải là đinh ba lao cá, cả nước hiện nay mới tìm được duy nhất có
một cái. Hiện nay ở xã Thanh Đình còn có xóm gọi tên là Gia Ninh, chúng ta có
hình ảnh vị thủ lĩnh của bộ Gia Ninh xưa với mũ, vòng đeo cổ có gắn những
chiếc vuốt đồng, tay cầm cây quyền trượng để thể hiện uy quyền và thần quyền.
Người xưng vua lập ra nước Văn Lang, di chuyển trung tâm ra làng Cả (Thành
phố Việt Trì ngày nay). Ở làng Cả đã đào được hơn 400 ngôi mộ thời Hùng
Vương và có một hiện vật rất quý là bộ khoá đai lưng bằng đồng có 8 con rùa
móc vào nhau. Đó là bộ đai lưng như cân đai của các vua chúa sau này.
Ngoài ra dọc các con sông Hồng, sông Lô, sông Đà vùng Tam Nông, Thanh
Thuỷ, Lâm Thao, Lập Thạch, Vĩnh Tường vào tận Đông Sơn (Thanh Hoá), làng
Vạc (Nghệ An) đền có dấu tích thời kỳ dựng nước.
Trong tâm linh người Việt rất trọng những người có công, cho nên suy tôn
là ông Tổ và nhận mình là con cháu các vua Hùng. Tự nguyện trở về nơi sinh
thành ra mình (coi đó là cội nguồn, gốc rễ của bản thân), với tấm lòng uống
nước nhớ nguồn, thành kính tưởng nhớ tổ tiên và cầu mong tổ tiên ban cho điều
tốt lành. Trong thời kỳ kháng chiến ở những vùng bị kìm kẹp bởi quân thù
nhưng nhân dân vẫn bí mật thờ cúng trên cây đuốc (Tiền Giang), trong nhà giam
(Vũng Tàu).
Ngày nay Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Nhà nước Việt Nam quy định là
ngày quốc lễ, công chức, viên chức và đồng bào cả nước được nghỉ một ngày để
về dự giỗ Tổ. Đền Hùng được chính phủ phê duyệt quy hoạch mở mang. Dòng
23
người về Đền Hùng dự Giỗ Tổ Hùng Vương lên đến hàng triệu lượt người, đông
như người đạo Hồi về thánh địa Mecka, như người theo đạo thiên chúa về
Jeusalem nhưng khác là về thăm nơi cội nguồn dân tộc, nơi sinh ra cộng đồng

Từ hàng ngàn đời nay, trong đời sống tâm linh của người Việt, vua Hùng
vẫn luôn luôn có vị trí quan trọng đặc biệt như một biểu tượng văn hóa cụ thể,
một thực thể tâm linh thiêng liêng khác hẳn với những biểu tượng tín ngưỡng
tôn giáo trên thế giói. Chính vì thế, việc thờ cúng Quốc tổ Hùng Vương đã được
các cộng đồng người Việt thực hiện trên địa bàn cả nước từ hàng trăm năm
nay.Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì vào thời Lê (từ TK XV-
XVIII), đã có tới 1026 đình, đền tại 944 làng xã trong toàn quốc thờ Hùng
Vương và các nhân thần thời đại này.
Tuy nhiên, việc thờ cúng Hùng Vương được thực hiện tập trung nhất,
phong phú nhất lại diễn ra tại khu vực Đền Hùng, Việt Trì và các vùng phụ cận
thuộc tỉnh Phú Thọ- địa bàn cư trú của người việt cổ, tương ứng với Thời đại
Hùng Vương mà hệ thống 31 đình, đền thờ Hùng Vương và các tướng lĩnh đang
hiện hữu cùng 32 di tích khảo cổ từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến
Đông Sơn đã được nghiên cứu, phát hiện tại khu vực này trong nhiều thập kỷ
vừa qua là những minh chứng vật chất của những huyền tích và huyền thoại về
Hùng Vương.
Đáng chú ý là, từ vài trăm năm trước, cùng với việc can thiệp của nhà nước
vào tín ngưỡng thờ cúng dân gian thông qua việc ban sắc cho các đối tượng
được thờ tất cả các làng xã trong toàn quốc diễn ra thường xuyên trong các triều
Lê (1428-1788), Nguyễn (1802-1945), việc “Nhà nước hóa” tín ngưỡng thờ
cúng Hùng Vương còn được thực hiện với việc đưa thời đại huyền tích này vào
chính sử và soạn thảo “ Ngọc phả Đền Hùng” vào năm 1470 (Hồng Đức nguyên
niên).
Đồng thời, từ hàng trăm năm nay, lễ hội Đền Hùng- được coi là ngày Giỗ
Tổ chung của quốc gia dân tộc cũng đều đặn được tổ chức vào ngày 10/3 âm
lịch hàng năm và được hưởng những chế độ ưu đãi đặc biệt. Chính vì thế, cùng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status