tài thơ trữ tình cận thể của đỗ phủ - Pdf 24

PHầN MỞ ĐầU

1. LÍ DO CHỌN ĐÒ TÀI
Thành tựu rực rỡ của văn học Trung Hoa cho đến ngày nay vẫn được gắn liền
với giá trị thơ ca đời Đường. Trong cuốn “Những nền văn minh thế
giới”ALMANACH có viết “Thơ Đường là một vườn hoa rộng lớn ngào ngạt
hương sắc trong đó có những cây đại thụ như Đỗ Phủ”.
Trên con đường tìm về với thơ Đường, chúng tôi không thể không dừng lại ở
núi thơ Đỗ Phủ. Bởi “Từ khi có thi nhân đến giờ không có ai vĩ đại bằng Đỗ
Phủ”(Nguyên Chẩn), thậm chí“Tương lai văn hoá Hoa Hạ lệ thuộc vào chỗ nú có
hiểu nổi Tử Mĩ không” (Vương Duy). Đỗ Phủ như một cực nam châm thu hút về
phía mình tất cả những lời vàng ngọc ở đời, từ “Thi thỏnh”, “Thi sử”, đến “Tình
thánh”, “Nhà thơ nhân dân”, “Nhà thơ hiện thực”, “Nhà thơ yêu nước”, “Tập
đại thành của thơ ca Trung Quốc”. Sức sống của thơ ca Đỗ Phủ có gốc rễ bền
vững từ một trái tim yêu ghét nồng cháy, từ cái nhìn sự đau khổ của mình trong
đau khổ chung của quần chúng lao động. Vì thế mà ông được nhiều người biết đến.
Tên tuổi của Đỗ Phủ đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong thơ ca đời
Đường núi riêng và trong văn học Trung Hoa nói chung. Ông được đánh giá
là“Đại thi hào văn học Trung Hoa, cây đại thụ sừng sững toả bóng đến ngàn
năm”. Dịch Quân Tả trong “Lịch sử văn học Trung Quốc”, tập 1 có viết: “Đỗ
Phủ là một nhà thơ, một ngôi sao sáng chói trên thi đàn thế giới. Riêng với thi đàn
Trung Quốc, ông là sao Bắc Đẩu mà muôn vì sao khác đều phải vây quanh”. Thơ
Đỗ Phủ đạt đến trình độ cao về mặt nội dung và nghệ thuật. Đặc biệt, thơ trữ tình
chiếm số lượng lớn trong sáng tác của ông. Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu
nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ (mảng thơ cận thể) là một giới hạn có tính chất gợi
mở đòi hỏi sự tìm tòi sáng tạo của độc giả. Đi sâu tìm hiểu vấn đề này không chỉ
dừng lại ở mức độ khám phá một tài năng nghệ thuật bậc thầy mà còn có ý nghĩa
rất lớn trong việc tiếp

cận và giảng dạy các bài thơ của Đỗ Phủ được đưa vào chương trình phổ
thông và chuyên nghiệp.

Từ khi có thơ Đỗ Phủ đến nay đã có rất nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà lí
luận phê bình ở Trung Quốc, Việt Nam và nước ngoài dày công nghiên cứu nhiều
lĩnh vực, nhiều phương diện của thơ Đỗ Phủ, tạo nên một truyền thống phong phú
trong nghiên cứu với nhiều công trình có giá trị lớn về thơ Đỗ Phủ.
Trên cơ sở những tài liệu đã khảo sát trực tiếp hoặc gián tiếp, chúng tôi có thể
lược thuật các công trình chuyên khảo về thơ Đỗ Phủ cũng như các khía cạnh nghệ
thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ và phân chia theo ba khu vực nghiên cứu:
a. Nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ ở Trung Quốc
Từ trước tới nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu, biên soạn, chuyên
khảo và hàng nghìn bài báo viết về thời đại, cuộc đời và thi phẩm Đỗ Phủ của các
tác giả Kim Thánh Thán (đời Thanh), Hồ Thích, Lương Khải Siêu, Quỏch Mạt
Nhược, Hồ Thiếu Thạch, Văn Nhất Đa, La Dung, Bằng Chí Bính, Tiễn Bá Hán,
Tiêu Điều Phi, Trần Bang Đàm, Khâu Chấn Thanh Một trong những vấn đề các
nhà nghiên cứu Đỗ Phủ ở Trung Quốc từ trước đến nay đề cập là hình thức nghệ
thuật thơ ca của ông. Những khái niệm, thuật ngữ có tính chất lí thuyết, hình tượng
của các nhà nghiên cứu như “ý tượng”, “ý cảnh”, “thần tứ”. thực sự là những
gợi ý, những kiểu “mã hiệu”, những chìa khoá để cho người đọc khám phá thế
giới nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ.
Các công trình của các học giả Trung Quốc từ trước đến nay chủ yếu có các
hướng: sưu tập, chú giải, hiệu đính như công trình “Toàn Đường thi” do Tào Dần
cùng mười học giả khác biên soạn vào năm 1705 gồm 900 quyển. Tổng tập này tập
hợp được hơn 48. 900 bài thơ của hơn 2. 300 nhà

thơ thời Đường, Ngũ Đại trong đó có Đỗ Phủ. Ngoài ra còn rất nhiều hướng
nghiên cứu khác nữa.
Khi nghiên cứu từng tác giả cụ thể hoặc “bình điểm”, “phân giải”các tác
phẩm ở Trung Quốc đã có một truyền thống lâu đời với nhiều công trình có giá trị
cao. Thực tế, chúng tôi chưa có điều kiện đọc hết các công trình nghiên cứu theo
hướng này. Qua các công trình đã tìm hiểu được như hai cuốn “Thánh Thán phê
tuyển Đỗ thi” và “Thánh Thán phê tuyển Đường thi” của Kim Thánh Thán;

Đỗ Phủ “trong cái vẻ hoa lệ có hơi sắt thép”.
Một công trình rất đáng chú ý có liên quan đến việc nghiên cứu nghệ thuật
thơ ca Đỗ Phủ là “Lịch sử văn học Trung Quốc” ở chương “Đỗ Phủ”, phần
III:“Thành tựu nghệ thuật thơ ca Đỗ Phủ”, nhiều vấn đề có liên quan đến nghệ
thuật trữ tình trong thơ Đỗ Phủ được tác giả trình bày sáng rõ. Tác giả cho rằng
phong cách thơ Đỗ Phủ là phong cách “trầm uất”,“trong cách sáng tạo ý cảnh,
khí phách rộng lớn, bút pháp lưu loỏt, phóng khoáng nhà thơ có những thành
công độc đáo” [43; 531]. Ở các giỏo trình “Lịch sử văn học Trung Quốc”, thơ
trữ tình của Đỗ Phủ được nghiên cứu trong phạm trù nghệ thuật thơ ca chứ chưa có
sự tách bạch riêng lẻ.
Nhà thơ Văn Nhất Đa nói: “Đỗ Phủ là nhà thơ viết cho nhân dân, nhưng
nhân dân không hiểu”. Câu nói đó một phần đề cập đến sự thâm thuý, nhiều ý
nghĩa về nội dung, đồng thời cũng nói lên giá trị nghệ thuật cao siêu, sâu sắc của
thơ Đỗ Phủ.
Năm 1988, ở Trung Quốc xuất bản một số công trình bàn về sự phát triển thể
thơ luật thi và tuyệt cú của Đỗ Phủ như công trình của Diệp Gia Doanh, Trần Bang
Đạm
Trên đây là tóm lược việc nghiên cứu có liên quan đến nghệ thuật thơ trữ tình
của Đỗ Phủ ở Trung Quốc từ trước đến nay. Mặc dù đề cập đến

những khía cạnh nhỏ nhưng chúng tôi tin rằng đó là những định hướng đưa
chúng tôi tìm về với những gì đẹp nhất trong hồn thơ thi nhân họ Đỗ!
b. Nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ ở Việt Nam
Thơ Đỗ Phủ, một trong những đỉnh cao nhất của thơ ca đời Đường đã, đang
và sẽ còn là một đề tài nghiên cứu của con người trong nhiều thế hệ. Nhìn lại các
công trình nghiên cứu, giới thiệu thơ Đỗ Phủ ở nước ta, chúng ta gặp rất nhiều tên
tuổi các học giả có nhiều uy tín như Trần Xuân Đề, Phan Ngọc, Nguyễn Khắc Phi,
Hoàng Trung Thông, Lê Đức Niệm và những công trình khoa học có nhiều giá trị
của Hồ Sĩ Hiệp, Nguyễn Thị Bích Hải Trong số hơn 1. 400 bài thơ còn lại của
ông thì phần lớn là thơ trữ tình, số ít trong đó là thơ tự sự.

phần“Lời nói đầu” đã gọi thơ Đỗ Phủ là loại thơ “Một lời ngụ trăm tình”.
Lần đầu tiên giáo sư Trần Trọng San cho ra mắt “Thơ Đường” quyển 1,
trong“Phần dẫn nhập” tác giả đề cập đến nghệ thuật thơ Đỗ Phủ. Ông cho
rằng “Nghệ thuật tác thi của Đỗ Phủ rất tinh vi, xảo diệu. Ông dùng hết mọi thể
thơ mà không thể nào không giỏi” và “nhất là lối thơ thất ngôn luật thi thì thi tài
họ Đỗ thật là không tiền không hậu”.
(Trần Trọng San - Thơ Đường, 3 tập- Nxb Bắc Đẩu, Sài Gòn 1972).
Các tác giả Việt Nam đều đề cập đến một vài khía cạnh về nghệ thuật thơ trữ
tình của Đỗ Phủ. Tác giả Trương Chính cho rằng Đỗ Phủ “sở trường về cổ thể mà
cũng sở trường về luật thi”. Tác giả Nguyễn Khắc Phi thừa nhận Đỗ Phủ rất có ý
thức trong việc “tôi luyện ngôn ngữ nghệ thuật" và " tôn trọng niêm luật đối ngẫu
trau chuốt dùng chữ sắp đặt âm điệu”.
Tác giả Trần Xuân Đề có nhận định: “Tuyệt đại bộ phận thơ của Đỗ Phủ là thơ
trữ tình, có một số bài thơ tự sự, nhưng kết hợp cả yếu tố trữ tình” [12; 59]. Cũng
nhưthế, Lê Nguyễn Lưu nhận xét: “Thơ Đỗ Phủ phần lớn là thơ trữ tình, còn lại là
thơ tự sự nhưng ngay thơ tự sự cũng có tính chất trữ tình”. Ở

một khía cạnh khác, Trần Xuân Đề cho rằng Đỗ Phủ “là người có nhiều sáng
tạo trong việc vận dụng những thể tài nghệ thuật thơ ca”.
Cũng viết về những vần thơ trữ tình của Đỗ Phủ, trong cuốn “Cuộc sống thơ
và thơ cuộc sống” Hoàng Trung Thông đã dành nhiều trang viết về giá trị nội dung
và giá trị nghệ thuật. Trong đó, chú trọng những đặc sắc về nội dung tư tưởng của
thơ Đỗ Phủ và đã có rất nhiều phát hiện độc đáo. Hoàng Trung Thông đã nhận ra
sự riêng biệt của Đỗ Phủ “Trong thơ Đỗ Phủ, những chữ thương tâm, thở dài, ôm
hận, bi sầu, ấm ức cùng với tình cảm và hình ảnh thơ mà nhà thơ lựa chọn, đã làm
cho bài thơ có một phong cách trầm tư ưu uất riêng biệt ít thấy ở những nhà thơ
khác”. Tác giả đi đến khẳng định: “Trầm tư ưu uất là giọng điệu chính của thơ Đỗ
Phủ” [61; 190].
Tác giả Nguyễn Hà trong cuốn “Đường thi tứ tuyệt” viết: “Có nhiều ý kiến
cho rằng thơ tứ tuyệt Đỗ Phủ đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình

Ngoài ra có rất nhiều các bài báo, tạp chí, khoá luận, luận án nghiên cứu về
nhiều phương diện trong thơ ca Đỗ Phủ.Tiêu biểu như luận án “Sự phát triển thi
pháp của Đỗ Phủ qua các thời kì sáng tác” của Hồ Sĩ Hiệp đã nêu được những
đặc trưng riêng biệt của thơ ca Đỗ Phủ trong mỗi giai đoạn phát triển. Từ đó ta
thấy được những bước chuyển biến về nội dung, nghệ thuật của nhà thơ xuất sắc
đời Đường này. Bên cạnh đó, nghiên cứu về thơ ca Đỗ Phủ các nhà nghiên cứu đều
chú ý dừng lại ở những kiệt tác của Đỗ Phủ như chùm tám bài thơ "Thu hứng".
Tóm lại, thơ Đỗ Phủ là một đối tượng lớn thu hút nhiều cây bút nghiên cứu
sắc sảo, khám phá và chiếm lĩnh. Nhiều giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của
thơ Đỗ Phủ đã được hé mở. Các khía cạnh về nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ
đã được nhắc đến nhưng sự bỏ ngỏ đó chính là những chỗ trống mà người thực
hiện công trình này mong muốn được tìm hiểu.

c. Nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ ở nước ngoài
Với những thành tựu đạt được, thơ Đỗ Phủ trở thành một di sản chung của thế
giới. Từ lâu đã có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm và nghiên cứu thơ
Đỗ Phủ với nhiều công trình có giá trị.
Ở Liên Xô có công trình: “Ba nhà thơ lớn đời Đường” do (G. O. Monzeler
chủ biên, N. I. Konrat giới thiệu - Nxb Văn học phương Đông. M. 1960 Tiếng
Nga). Sách này giới thiệu và biên dịch 300 bài thơ của Lí Bạch, Vương Duy, Đỗ
Phủ.
Nhà nghiên cứu Konrat viết: “Đỗ Phủ xưa nay được coi trọng và bây giờ vẫn
được coi là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của Trung Quốc”. Tác giả nhận
thấy: “Đỗ Phủ đã thu nhận vào tâm hồn mình toàn bộ cuộc sống, sự buồn thương,
đau khổ của con người” [33; 41].
Timụphiep và Turaep cho rằng: “Trong thơ ca trữ tình của các nhà thơ đời
Đường, tình cảm con người đã được diễn tả một cách chân thực, thiên nhiên đã
được tiếp nhận như sở trường hoạt động của con người, đồng thời con người đã
được khắc hoạ không phải một cách trừu tượng mà trong bộ mặt xã hội đương thời
của nú” [67; 312]. Điều đó đặc biệt đúng với trường hợp Đỗ Phủ. Bên cạnh những

+ Ý nghĩa về mặt lí luận:
Bước đầu nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình của một tác giả tiêu biểu trong
thơ ca cổ điển đời Đường, chúng tôi nhận thấy Đỗ Phủ không những là một nhà
thơ lớn mà còn là nhà văn hoá, nhà nghệ thuật xuất sắc của đời

Đường. Tìm hiểu về nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ không những có ý
nghĩa về nội dung, nghệ thuật mà còn có ý nghĩa về mặt lí luận thơ ca. Vì thế màtừ
trước đến nay mọi người đều quan niệm “lấy Đỗ Phủ làm đại biểu cho lí luận về
thơ” (Quỏch ThiÕu Ngu). Và “Người ta có thể lấy Đỗ Phủ làm một ví dụ để chứng
minh cho cách giải quyết đúng đắn nhiều vấn đề về thơ ca” (Hoàng Trung Thông).
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan đến lí luận nghệ thuật thơ
trữ tình nói chung như: khái niệm thơ trữ tình, các thể tài thơ trữ tình (mảng thơ
cận thể), đặc trưng, các phương thức phương tiện trữ tình tiêu biểu. Luận văn
chứng minh rằng thơ trữ tình Đỗ Phủ luôn gắn với hoàn cảnh xã hội, điều kiện
sống, tâm tư và tình cảm của chính nhà thơ.
+ Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
Luận văn chỉ ra ý nghĩa của sự phát triển thơ trữ tình Đỗ Phủ với thực tiễn
sáng tác thơ ca đương thời và về sau.
Mặt khác, tìm hiểu đÒ tài này có ý nghĩa tích cực giúp cho việc hiểu nghệ
thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ từ đó phân tích và giảng dạy các tác phẩm thơ Đỗ
Phủ nói riêng, thơ Đường núi chung cũng như thơ cổ Việt Nam một cách có hiệu
quả hơn. Đây chính là ý nghĩa thực tiễn mà người gắn bó với ngành sư phạm cần
quan tâm.
Luận văn giúp cho người dạy và người học thơ Đỗ Phủ ở các trường chuyên
nghiệp và phổ thông hướng phân tích giá trị nghệ thuật trong thơ Đỗ Phủ, thấy
được sự phát triển rất phong phú của thơ ông ở hai bình diện nghệ thuật và nội
dung. Cách khai thác từ nghệ thuật để khái quát lên nội dung đây là một hướng khi
nghiên cứu thơ Đường.
Cũng qua luận văn này, người nghiên cứu giảng dạy và học tập thơ Đỗ Phủ
nhận thức được bức tranh toàn cảnh về nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ (mảng

Để thấy được đặc trưng nghệ thuật cũng như những nét độc đáo, riêng biệt
trong thơ trữ tình của Đỗ Phủ, chúng tôi mở rộng phạm vi so sánh, đối

chiếu với mảng thơ tự sự của ông, bởi trong thơ tự sự cũng có tính chất trữ
tình và so sánh với một số nhà thơ khác như Lí Bạch, Bạch Cư Dị. Tuy nhiên, do
dung lượng của luận văn nên sự mở rộng phạm vi chỉ được thực hiện trong những
trường hợp cần thiết.
Với phạm vi đó, người viết mong muốn góp thêm một cái nhìn, một tiếng nói
của mình khi nhìn nhận, đánh giá về nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ và đó cũng
là cơ sở để khảo sát các kiệt tác của ông.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
Do đối tượng nghiên cứu thơ Đỗ Phủ rất phong phú nên trong quá trình thực
hiện luận văn chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê, phân loại.
+ Phương pháp phân tích văn bản.
+ Phương pháp giảng bình.
+ Phương pháp tổng hợp.
+ Phương pháp so sánh.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn được triển
khai theo ba chương như sau:
Chương 1: Thể tài thơ trữ tình cận thể của Đỗ Phủ
Chương 2: Đặc trưng thơ trữ tình của Đỗ Phủ
Chương 3: Một số phương tiện nghệ thuật trữ tình tiêu biểu
Và các phần danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THÓ TÀI THƠ TRỮ TÌNHCẬN THỂ CỦA ĐỖ PHỦ

Đỗ Phủ là nhà thơ vĩ đại trong văn học cổ điển Trung Quốc. Một nhà thơ vĩ

cú có thể có đối hoặc không. Tuyệt cú không đòi hỏi nghiêm ngặt về luật
bằng trắc. Tuyệt cú có lúc có thể bắt vần trắc. Có người căn cứ vào sự tương ứng
về niêm luật với từng “nửa” của bài luật thi mà cho rằng thể tuyệt cú là thể được
“cắt” (tuyệt) từ bài luật thi. Không phải thế! Một bài thơ tuyệt cú là một chỉnh thể
nghệ thuật, nghĩa là một tác phẩm độc lập, chứ không phải là “một nửa” được “cắt
ra” của bài luật thi.
Thơ tuyệt cú của Đỗ Phủ có những điểm khác so với các nhà thơ là ông đã
đưa yếu tố tự sự, đưa thời sự, đưa nghị luận vào thơ tứ tuyệt, mở ra một con
đường mới không chỉ cho thơ tứ tuyệt Trung Vãn Đường mà cho cả thơ tứ tuyệt
đời Tống nữa. Chúng tôi sẽ làm rõ luận điểm này ở những chương sau.
Nếu nói một trong những vẻ đẹp của thơ là vẻ đẹp cô đọng thì những bài
tuyệt cú nổi tiếng của Đỗ Phủ đã thể hiện một cách “tinh chất nhất” vẻ đẹp cô đọng
ấy. Thơ trữ tình càng phải cô đọng. Theo Văn Nhất Đa, nhà thơ và nhà lí luận nổi
tiếng thời cận đại của Trung Quốc thì tuyệt cú là “hình thức tốt nhất của thơ trữ
tình”. Bài thơ tuyệt cú do số câu ít nên số chữ cũng rất ít, vì vậy mà từ ngữ được sử
dụng rất đắt và phải cân nhắc kĩ lưỡng.
Theo tác giả Nguyễn Hà thì “Riêng với tuyệt cú, trong đa số trường hợp, câu
thứ ba là câu cú tác dụng quyết định nhất đối với chất lượng bài thơ”. Với Đỗ Phủ,
ông rất quan tâm đến câu mở đầu “cõu khởi” còn gọi là câu phá. Ông có nhiều
cách phá khác nhau. Tác giả Nguyễn Hà còn đánh giá bài thơ tuyệt cú “là một hạt
ngọc tuyệt đẹp, không tì vết, tuy nhỏ nhưng sáng long lanh” [17; 23].
Có thể thấy, tuyệt cú là những bài thơ ngắn, âm luật đơn giản, cách gieo vần
đúng quy tắc, từ ngữ sử dụng hợp lí, đúng chỗ. Tiết tấu, nhịp điệu của thơ nhẹ
nhàng, nhịp ngắt của thơ đột ngột và tự nhiên. Đối với Đỗ Phủ, về hình thức ngôn
ngữ và cú pháp thì ông vẫn tuân thủ, nhưng về mặt ngữ nghĩa thì ông thay đổi linh
hoạt.

thường đem những cảnh ngộ mà mình phải chịu đựng để liên tưởng đến đông
đảo những người khác cũng như những vấn đề xã hội phổ biến đương thời. Như
cảnh:

phẩm tự sự chuyện thuế khúa cũng được phản ánh hết sức thương tâm. Ví như
trong “Tuế án hành”, ông lên án tô thuế đời Đường đã làm cho người dân lâm vào
cảnh:
Huống nghe chốn chốn bán con cái
Vì thuế vì tô cắt khúc lòng.
Khắp nơi bán con, cắt đứt tình máu mủ để lấy tiền nộp thuế tô dung. Nỗi khổ
tô thuế như vậy thường gắn với nỗi đau của chiến tranh.
Không chỉ nêu vấn đề tô thuế, trên con đường chạy loạn tận mắt chứng kiến
những cảnh đau thương của nhân dân, nhà thơ đã ghi lại một cách chân thực
chuyện mắt thấy dọc đường:
Ngựa trắng Đông Bắc lại
Đôi tên giắt yên không.
Thương bấy người trên ngựa,
Giờ ai thấy khí hùng!
Vừa rồi tướng bị giết,
Giữa đêm đã thương vong.
Cơn loạn trăm cách chết,
Ôi thôi lệ chảy dòng!
(Ngựa trắng - Khương Hữu Dụng
dịch)
Đó là hình ảnh người ngồi trên lưng ngựa chết trong cơn binh loạn, chỉ thấy
ngựa bị trúng hai mũi tên chạy về. Cuộc sống của con người trong cơn loạn lạc có
đến hàng “trăm cách chết”. Chết vì giặc, chết vì lính, chết vì tô thuế, chÕt vì đói
rét, chết vì lưu li Tất cả những nỗi đau đó khiến cho tác giả không khỏi ngậm
ngùi, xót xa.
Khác với nhiều nhà thơ, khi làm thơ Đỗ Phủ thường tìm đến những hình tượng
chất chứa tình cảm đau thương. Đời sống của nhân dân khổ cực, lầm

chung, chiến tranh trở thành một con quỷ dữ với đôi tay hủy diệt. Những
“thập quận”, “tứ vạn” là những con số cho thấy sự hủy diệt này.

Nguyện vọng hũa bình của ông là xuất phát từ ước vọng một
chế độ khai minh thịnh trị, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh
kéo dài, nguyện vọng đó đã bắt gặp nguyện vọng của nhân dân.
Trong bài thơ “Khiển hứng” nhà thơ đã mô tả những người
khóc lóc bên lề đường mong cho hết cảnh chiến tranh:
Lão già khóc bên đường
Mong hết nạn binh đao.
Suy nghĩ đến những vấn đề lớn lao của đất nước, những vấn
đề mang tính trọng đại nhà thơ đã đề ra một giải pháp, một
nguyện vọng rất phù hợp với nhân dân đương thời và tập trung
phản ánh trong bài “Tam cốc hành”:
Dưới trời các quận muôn thành,
Thành nào cũng có giáp binh chất đầy
Sao không đúc giáp làm cày?
Ruộng hoang tấc đất chẳng ai bỏ thừa.
Trâu cày hết sức mới vừa,
Tằm nuôi được lứa thành tơ dồi dào.
Chẳng phiền liệt sĩ rơi châu?
Trai cày gái dệt ca âu vui vầy.
(Trần Trọng Kim
dịch)
Với một trái tim thương dân thương nước vĩ đại, nhà thơ
sớm bạc đầu vì li loạn đã nói to lên lòng khao khát hũa bình:
Sao không đúc giáp làm cày?
Ruộng hoang tấc đất chẳng ai bỏ thừa.
Trong những năm chiến tranh tàn khốc “nhõn yên đoạn
tuyệt, vạn hộ tiêu điều” thì nguyện vọng của Đỗ Phủ là mong
cho đất nước hết chiến tranh, nhường chỗ cho cuộc sống yên
bình của người lao động, đó cũng là


giúp cho việc phản ánh nội dung, còng như giúp cho người đọc có thể hiểu thêm
phần nào về tâm tư và con người tác giả.
Trong lĩnh vực lí luận văn nghệ các thời đại của Trung Quốc “tình” và
“cảnh” là vấn đề có nhiều quan điểm, nhiều cách trình bày khác nhau. Vương Phu
Chi nói rằng: “Tình, cảnh tuy có chia ra ở tâm vật khác nhau, nhưng cảnh sinh
tình, tình sinh cảnh, buồn vui tiếp xúc với nhau, tươi khô nghênh đón nhau, đều ở
lẫn với nhau mét chỗ vậy” [59; 222].
Thực ra tình và cảnh rất khó tách rời nhau. Tình và cảnh là dựa lẫn nhau mà
tồn tại, là “cùng chứa ở một nơi”. “Tình cảnh tương sinh” (Tình và cảnh giúp nhau
cùng nảy nở) đó là một mặt của mối quan hệ mà Vương Phu Chi trình bày. Theo
ông, “tình” là do tiếp xúc với “cảnh”, nhờ có sù dung hoà của tình cảm tác giả mà
cảnh trở thành một hình tượng nghệ thuật đầy sức sống.
“Cảnh trong tình”, “tình trong cảnh”, “tình cảnh lồng vào nhau” (tình cảnh
giao dung) đó là một mặt khác của mối quan hệ “tình” và “cảnh” và cũng là giai
đoạn thứ hai mà Vương Phu Chi trình bày. Ông coi đây là đặc điểm được biểu hiện
ra của hình tượng nghệ thuật đã được hoàn thành.
Nh vậy, có thể thấy tình cảnh luôn dựa vào nhau và gắn kết bền vững với
nhau. Thơ Đỗ Phủ cũng vậy, những câu thơ tả cảnh, tả thiên nhiên luôn lồng bóng
mét con người trĩu nặng tâm sự, mét con người trầm tư, đau buồn trước thời cuộc. Đỗ
Phủ tả thiên nhiên không phải là để tả thiên nhiên. “Đỗ Phủ có chú ý đến cảnh sông
núi, trời đất, trăng sao, nhưng miêu tả thiên nhiên mênh mông bát ngát là để làm
nổi bật những con người âm thầm chịu đựng bao nỗi khổ đau” (Hoàng Trung
Thông).
Trong những bài thơ của Đỗ Phủ tưởng nh đơn thuần là tả cảnh nhưng cái tình
lại được giấu dưới những câu thơ tưởng nh vô cảm. “Trung thu” là một bài
thơ nh vậy:
Thu cảnh kim tiêu bán,

Càng về sau, thái độ của ông đối với hành động ngang ngược tàn bạo và hủ
húa của bọn quân phiệt, quan liêu càng tỏ ra nghiêm khắc và gay gắt hơn. Với An


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status