Đề án môn học Khoa: Kế toán
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ký hiu vit tt Tên y
BCTC Báo cáo tài chính
BG Ban giám c
BC KT Bng cân i k toán
BCKQK Báo cáo kt qu kinh doanh
CMKT Chun mc kim toán
HTKSNB H thng kim soát ni b
KT L Kim toán c lp
KTV Kim toán viên
SV: Phan Thị Thảo MSV: CQ492516
Đề án môn học Khoa: Kế toán
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ1.1. Quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với chi phí kiểm toán Error: Reference
source not found
Sơ đồ 1.2. Các bước đánh giá trọng yếu Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.3. Khái quát quá trình tìm hiểu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh
giá rủi ro kiểm soát Error: Reference source not found
BẢNG
Bảng 1.1. Bảng quy định về mức trọng yếu Error: Reference source not found
Bảng 1.2. Ma trận rủi ro phát hiện13 13
SV: Phan Thị Thảo MSV: CQ492516
Đề án môn học Khoa: Kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam ra đời năm 1991 và ngày càng thể
hiện vai trò và vị thế của mình trong nền kinh tế. Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty
kiểm toán độc lập với 15 nhân viên thì hiện nay đó cú tới gần 200 công ty kiểm toán
với hơn 6 nghìn nhân viên, cung cấp hơn 20 loại hình dịch vụ nghề nghiệp cho
Để hoàn thành được đề án này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo
Th.s. Nguyễn Thị Mỹ. Tuy nhiên, do sự hiểu biết và thời gian còn hạn chế nên bài
viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sự đóng góp của các
thầy cô và các bạn để em hoàn thiện tốt bài viết của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Phan Thị Thảo 1 MSV: CQ492516
Đề án môn học Khoa: Kế toán
PHẦN 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG YẾU, RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ
VIỆC ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU, RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1. Lý luận chung về trọng yếu và rủi ro kiểm toán
1.1.1. Lý luận về trọng yếu
Theo từ điển Tiếng Việt “ trọng yếu chỉ sự vật, hiện tượng then chốt, thiết yếu.
Sự vật, hiện tượng hay địa danh đi kèm với trọng yếu đều mang ý nghĩa quan
trọng”. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau trọng yếu mang những nét khác nhau.
Theo văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế ( IAG ) 25: “ Trọng yếu là khái niệm về
tầm cỡ, bản chõt của sai phạm ( kể cả bỏ sót ) thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ,
hoặc là theo từng nhóm, mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để
xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm”
Theo CMKT quốc tế ISA 320: “ Thông tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai
sót của thông tin đó có thể ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng báo cáo tài
chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mục hay sai
sót được đánh giá theo bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó. Vì thế tính
trọng yếu là một ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản mà thông tin hữu ích cần
phải cú”
Theo CMKT Việt Nam VSA 320 về tính trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán: “
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính
chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo
cáo tài chớnh”
xem xét. Xem xét mặt định tính chỉ cần thiết khi nó ảnh hưởng đến bản chất của
khoản mục hay vấn đề đang được đánh giá. Liên quan tới vấn đề này, tất cả các
khoản mục được xem là trọng yếu bao gồm:
Các khoản mục có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận như:
• Các hoạt động đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp
• Các hoạt động thanh lý tài sản
• Các hoạt động về tiền mặt
• Các hoạt động mua bán và thanh toán
• Các hoạt động bất thường
• Các hoạt động phân chia quyền lợi…
Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót hệ trọng:
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
2
Đề án môn học Khoa: Kế toán
• Các khoản mục, nghiệp vụ có phát hiện sai sót ở quy mô lớn hoặc có chênh
lệch lớn với các kỳ trước
• Các khoản mục, nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nói chung
• Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót lặp lại nhiền lần
• Các khoản mục, nghiệp vụ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳ sau
• Các khoản mục, nghiệp vụ gây hậu quả liêm quan đến nhiều khoản mục
khác.
1.1.2. Lý luận về rủi ro kiểm toán
1.1.2.1. Khái niệm về rủi ro kiểm toán
Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều sự kiện xảy ra mà chúng ta không thể
dự đoán hết được và nếu có dự đoán được khả năng xảy ra của chúng thì cũng
không thể biết chắc chắn hậu quả sẽ ra sao. Chẳng hạn, khi bạn đầu tư một khoản
tiền để mua chứng khoán, nhưng không chắc chắn là sẽ thu được một khoản lãi hay
bị lỗ trong tương lai. Chúng ta chỉ có thể dự báo một số khả năng có thể xảy ra dựa
trên những phân tích nào đó, nhưng những khả năng đó không thể nào đoán đúng
1.1.2.1. Các loại rủi ro
Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai đoạn
bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định
tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại. Cụ thể rủi ro kiểm toán được chia làm
ba loại: Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng
khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ
hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có HTKSNB
Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh, loại hình
kinh doanh, năng lực nhân viên của khách thể kiếm toán. KTV không tạo ra và cũng
không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà chỉ có thể đánh giá chúng. Để đánh giá
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
4
Mức rủi ro
kiểm toán
Rủi ro mong muốn
Chi phí kiểm toán
0
Rủi ro đạt tới
Đề án môn học Khoa: Kế toán
rủi ro tiềm tàng KTV có thể dựa vào nhiều nguồn thông tin khác nhau: Thông qua
báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, thông qua kết quả của cuộc kiểm toán
trước, thông qua thông tin thu thập được của KTV tiền nhiệm…và từ đó có thể đưa
ra đánh giá của mình về rủi ro tiềm tàng
Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng
khoản mục trong BCTC khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ
thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp
thời. Rủi ro kiểm toán tồn tại do những hạn chế cố hữu của HTKSNB. Khi kiểm
toán, KTV chỉ có thể đánh giá được HTKSNB của đơn vị được kiểm toán. Thông
ro kiểm toán. Mặt khác, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát luôn có tính chất cố hữu
, KTV chỉ có thể đánh giá chứ không thể tác động điều chỉnh, trong khi đó KTV có
thể điều chỉnh rủi ro phát hiện như mong muốn. Do đó để phục vụ tốt hơn cho việc
lập kế hoạch kiểm toán và xét trong mối quan hệ với bằng chứng kiểm toán , mô
hình rủi ro thường được các KTV sử dụng có dạng sau:
Mô hình (2.1.2) DR
Với mô hình (2.1.2), rủi ro phát hiện (DR) là mối quan tâm trước tiên của KTV.
Thông qua việc tính toán DR, kiểm toán viên sẽ xác định thủ tục kiểm toán và số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để rủi ro phát hiện không vượt quá mức
mong muốn.
Với một mức rủi ro kiểm toán mong muốn cho trước, từ mô hình (2.1.2) có thể
rút ra kết luận : rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, tỉ lệ thuận với rủi ro
kiểm toán. Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá cao thì rủi ro phát
hiện được tính toán sẽ thấp, số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập nhiều.
Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp thì rủi ro phát
hiện là cao, khi đó với số lượng bằng chứng kiểm toán nhỏ hơn KTV có thể đưa ra
được kết luận hợp lý.
1.1.3. Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo
tài chính
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
6
Đề án môn học Khoa: Kế toán
Theo CMKT quốc tế (IAS) số 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán, mức độ
trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ ngược chiều nhau nghĩa là nếu mức
trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại. KTV phải quan tâm
tới mối quan hệ này khi xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các thủ tục
kiểm toán cần thiết.
1.2. Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
thỡ số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập phải càng nhiều và ngược lại. Để hỗ trợ
cho KTV trong việc đánh giá tính trọng yếu, các công ty kiểm toán thường đưa ra
hướng dẫn về việc lựa chon các chỉ tiêu làm số gốc và tỷ lệ tính trong các trường
hợp cụ thể:
Bảng 1.1. Bảng quy định về mức trọng yếu
Vị trí của khoản
mục
Không trọng yếu Có thể trọng yếu Chắc chắn trọng
yếu
Báo cáo kết quả
kinh doanh
Dưới 5% lãi trước
thuế
Từ 5% - 10% lãi
trước thuế
Trên 10% lãi trước
thuế
Bảng cân đối kế
toán
Dưới 10% giá trị
tài sản
Từ 10% - 15% giá
trị tài sản
Trên 15% giá trị tài
sản
1.2.1.2. Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục
Sau khi KTV đã có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ
BCTC, KTV tiến hành phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục trên
BCTC. Đú chớnh là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục. Việc
phân bổ này giúp KTV xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp
hành xác định tổng số sai sót kết hợp của toàn bộ BCTC và sau đó so sánh với ước
lượng ban đầu của KTV
1.2.1.5. So sánh sai số kết hợp của toàn bộ báo cáo tài chính với ước lượng ban đầu
về tính trọng yếu
Thông qua các bước công việc trên, cuối cùng KTV đi đánh giá tổng hợp sai số
kết hợp của toàn bộ BCTC với ước lượng ban đầu về tính trọng yếu. Việc so sánh
này cho phép đánh giá toàn bộ các sai sót có vượt quá giới hạn về mức trọng yếu
chung cho toàn bộ BCTC hay không, để từ đó xem xét việc mở rộng nội dung và
quy mô của các thử nghiệm kiểm toán và đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp.
1.2.2. Đánh giá rủi ro kiểm toán
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
9
Đề án môn học Khoa: Kế toán
Trên cơ sở mức trọng yếu được xác định cho toàn bộ BCTC và phân bổ cho
từng khoản mục, KTV cần tiến hành đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu ở
mức độ toàn bộ BCTC cũng như đối với từng khoản mục để thực hiện cho việc thiết
kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình cho từng khoản mục. Việc đánh
giá rủi ro kiểm toán được tiến hành trên từng loại rủi ro kiểm toán cụ thể như sau:
1.2.2.1. Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn
Rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán. Mức rủi ro này được xác định phụ thuộc vào hai yếu tố:
• Mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào BCTC. Nếu
người sử dụng bên ngoài đặt nhiều niềm tin vào BCTC lớn thì mức độ tác hại trên
phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu một sai sót mang tính nghiêm trọng trên BCTC
không được phát hiện. Vì vậy, KTV cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ
đó tăng số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập và tăng độ chính xác trong các kết
luận đưa ra của mình
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ người sử dụng bên ngoại tin tưởng vào
BCTC bao gồm:
• Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ:
Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính có
những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước; báo cáo tài chính có nhiều
ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán;
Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế,
như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát
sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá
TSCĐ, ;
Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu,
chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài, ;
Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có ý
kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, ;
Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời
điểm kết thúc niên độ;
Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác.
Để có sự hiểu biết về rủi ro tiềm tàng, KTV thường áp dụng các thủ tục như
Phỏng vấn nhà quản lý và nhân viên để thu thập hiểu biết về khách hàng
kiểm toán về bản chất kinh doanh, áp lực với ban giám đốc…
Quan sát thực tế
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
11
Đề án môn học Khoa: Kế toán
Phân tích sơ bộ BCTC
1.2.2.3. Đánh giá rủi ro kiểm soát
Rủi ro kiểm soát được KTV đánh giá đối với từng khoản mục trên BCTC
thường thông qua việc tìm hiểu HTKSNB của khách hàng đối với khoản mục này.
Rủi ro kiểm soát sẽ luôn xuất hiện và khó tránh khỏi đối với bất kỳ HTKSNB nào.
HTKSNB có mối quan hệ rất chặt chẽ với rủi ro kiểm soát : Mức độ hiệu quả của
việc thiết kế và vận hành HTKSNB quyết định mức rủi ro kiểm soát. Nếu HTKSNB
nghiệm cơ
bản đã dự
kiến
Thực hiện các thử nghiệm cơ bản
khôngg
không
Đề án môn học Khoa: Kế toán
Bảng 1.2. Ma trận rủi ro phát hiện
Rủi ro phát hiện được KTV
tính toán
IR được KTV đánh giá
Cao Trung bình Thấp
CR được KTV
đánh giá
Cao Thấp nhất Thấp Trung bình
Trung bình Thấp Trung bình Cao
Thấp Trung bình Cao Cao nhất
Ví dụ: Giả thiết rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được KTV đánh giá là 0,9 và
0,7; KTV có thể chấp nhận mức rủi ro mong muốn (AR) ở mức 0,04 khi đó rủi ro
phát hiện (DR) được tính theo mô hình (2.1.2) như sau:
DR 0,063
DR = 0,063 có nghĩa là để đạt mức rủi ro kiểm toán mong muốn là 0,04 thì KTV
phải xây dựng thủ tục kiểm toán thích hợp và thu thập số lượng bằng chứng kiểm
toán hợp lí để mức rủi ro phát hiện không vượt quá 0,063.
PHẦN 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM
TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÁC CÔNG TY
KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM THỰC HIỆN
2.1. Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán
Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán được các công ty kiểm toán Việt
Nam thực hiện trong giai đoạn tiền kiểm toán trước khi ký kết hợp đồng kiểm toán
trước thuế
Tổng
doanh thu
Tổng
TSNH
Nợ ngắn
hạn
Tổng tài sản
Mức trọng yếu 4 – 8% 0,4 – 0,8% 1,5 – 2% 1,5 – 2% 0,8 – 1%
Một số công ty KTĐL khác ở Việt Nam khác thì đưa ra một chuẩn cụ thể về
việc này. Mức ước lượng này sẽ ro KTV xét đoán và tự điều chỉnh trong quá trình
kiểm toán tùy thuộc vào mỗi công ty khách hàng.
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
14
Đề án môn học Khoa: Kế toán
Qua thực tế tìm hiểu, các công ty KTĐL Việt Nam chưa chú trọng nhiều đến
việc đánh giá trọng yếu, trong nhiều trường hợp còn mang tính hình thức, vì vậy mà
công việc này chưa được sử dụng nhiều trong việc thiết kế nội dung và phạm vi của
các thử nghiệm kiểm toán.
2.2.2. Phân bổ mức trọng yếu ước lượng ban đầu
Thông thường sau khi xác định mức trọng yếu ban đầu các công ty kiểm toán
Việt Nam sẽ tiến hành phân bổ mức trọng yếu này cho các khoản mục. Các công ty
Việt Nam có nhiều cách phân bổ khác nhau và dựa vào kinh nghiệm của KTV. Các
công ty kiểm toán Việt Nam thường căn cứ vào rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và
chi phí kiểm toán cho từng khoản mục để tiến hành phân bổ. Một số công ty kiểm
toán đã xây dựng cho mình một công thức cố định cho việc phân bổ áp dụng cho
các khoản mục
Ví dụ: A&C tính mức sai phạm tối đa trong tổng thể bằng 50-70% ước lượng ban
đầu:
Các công ty KTĐL Việt Nam thường tiến hành đánh giá rủi ro kiểm toán một
cách hời hợt và thường xác định một cách chung chung ở mức thấp có thể chấp
nhận được để đạt được độ tin cậy kiểm toán ở mức tối đa.
2.3.1.1. Đánh giá rủi ro tiềm tàng
Thông thường các công ty kiểm toán thường đưa ra ba mức cao, thấp, trung
bình để đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện báo cáo tài chính. Trong giai
đoạn này, KTV đã tìm hiểu tính liêm chính của ban giám đốc công ty khách hàng,
bản chất kinh doanh của khách hàng, các ước tính kế toán sử dụng, các nghiệp vụ
kinh tế không thường xuyên,… và thường lập bảng câu hỏi để đánh giá. Tuy nhiên
do mỗi công ty có những chính sách khác nhau vì vậy bảng câu hỏi đánh giá rủi ro
tiềm tàng có sự khác nhau giữa các công ty.
2.3.1.2. Đánh giá rủi ro kiểm soát
Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng mang nặng tính xét đoán của KTV, vì vậy một số
công ty kiểm toán đã bố trí KTV có nhiều kinh nghiệm để đảm nhiệm công việc này
ví dụ như công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam.
Với các công ty kiểm toán khác thường sử dụng bảng câu hỏi để tiến hành đánh giá
HTKSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát,… tồn
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
16
Đề án môn học Khoa: Kế toán
tại như thế nào. Việc đánh giá rủi ro kiểm soát hầu hết được các công ty kiểm toán cụ
thể hóa bằng việc đánh giá HTKSNB, và việc thận trọng nghề nghiệp luôn được các
KTV và công ty kiểm toán đặt lên hàng đầu nên KTV thường không tin tưởng vào
HTKSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức trung bình.
2.3.1.3. Xác định rủi ro phát hiện
Căn cứ trên mô hình kiểm toán mà các công ty áp dụng, từ việc đánh giá rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV tính ra mức rủi ro phát hiện. Nhưng do việc
đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát chưa được các KTV quan tâm đúng
mức vì vậy các công ty kiểm toán Việt Nam cũng thường xác định rủi ro phát hiện ở
toán mong muốn đã xác định ngay từ đầu cho mỗi khoản mục.
Với các công ty không đánh giá tách rời rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát sẽ
không đi xác định rủi ro phát hiện cho từng khoản mục mà trực tiếp đi thực hiện các
thử nghiệm kiểm toán thích hợp nhằm thu thập bằng chứng khẳng định độ tin cậy
của khoản mục đó.
PHẦN 3: MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC ĐÁNH GIÁ
TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM
THỰC HIỆN
3.1. Đánh giá thực trạng đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm
toán báo cáo tài chính
3.1.1. Những kết quả đạt được
- Về phân công công việc trong đánh giá trọng yếu và ro kiểm toán
Do tính phức tạp của việc đánh giá trọng yếu, các công ty KTĐL Việt Nam
thường phân công cho trưởng nhóm kiểm toán thực hiện. Việc phân công này đảm
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
18
Đề án môn học Khoa: Kế toán
bảo rủi ro kinh doanh với các công ty kiểm toán giảm tới mức thấp nhất. Công tác
đánh giá rủi ro có thể được kiểm toán chính hoặc trợ lý kiểm toán tiến hành nhưng
sẽ được trưởng nhóm soát xét và kiểm tra.
Một số công ty KTĐL công tác xác định trọng yếu, công việc tính toán ước
lượng trọng yếu có thể do KTV chính hoặc trợ lý kiểm toán thực hiện nhưng việc
lựa chọn chỉ tiêu làm căn cứ ước lượng mức trọng yếu vẫn do trưởng nhóm quyết
định.
Sau khi trưởng nhóm đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán
sẽ soát xét lại trước khi phát hành báo cáo kiểm toán và được soát xét lần nữa bởi
thành viên ban giám đốc.
Như vậy, công việc đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán được các công ty
từng khoản mục thì sẽ gây khó khăn cho KTV trong việc quyết định xem tổng sai
phạm đối với khoản mục đó có được coi là trọng yếu hay không, có cần điều chỉnh
ý kiến kiểm toán hay không.
- Về mô tả HTKSNB khi đánh giá rủi ro kiểm toán
Thông thường KTV mô tả HTKSNB bằng ba cách: Vẽ lưu đồ, lập bảng câu hỏi
về HTKSNB, bảng tường thuật. Việc sử dụng lưu đồ giúp KTV nhận xét chính xác
hơn về các thủ tục kiểm soát áp dụng đối với các hoạt động và dễ dàng chỉ ra các
thủ tục kiểm soát cần bổ sung. Tuy nhiên do việc vẽ lưu đồ là khá phức tạp vì vậy
các công ty kiểm toán thường sử dụng nhiều việc lập bảng câu hỏi và bảng tường
thuật.
- Việc đánh giá rủi ro kiểm soát
Do chưa có nhiều kinh nghiệm trong các cuộc kiểm toán có quy mô phức tạp,
đồng thời để tránh rủi ro kiểm toán nên các công ty kiểm toán Việt Nam thường
không chú trọng tới việc đánh giá HTKSNB, hoặc có tiến hành đánh giá nhưng chỉ
mang tính hình thức, vẫn luôn để mức rủi ro kiểm soát ở trên mức trung bình mà
không quan tâm đến hệ thống kiểm soát có hoạt động hữu hiệu hay không. Do đánh
giá rủi ro kiểm soát cao từ đó làm cho KTV phải tăng các thử nghiệm cơ bản, gia
tăng chi phí kiểm toán trong khi đó thời gian và chi phí kiểm toán đã được công ty
ký kết trong hợp đồng kiểm toán rất khó có sử thay đổi lớn vì vậy mà không ai đảm
bảo rằng KTV có bỏ sót các nghiệp vụ và khoản mục trọng yếu hay không.
- Ít sử dụng phân tích trong đánh giá rủi ro
SV: Phan Thị Thảo MSV:
CQ492516
20
Đề án môn học Khoa: Kế toán
Việc đánh giá rủi ro là hết sức quan trọng trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm
toán. Đánh giá đúng rủi ro sẽ làm cho KTV đi đúng hướng và làm giảm chi phí
cũng như thời gian kiểm toán. Tuy nhiên các rủi ro được xác định hầu hết phụ thuộc
vào ý kiến chủ quan của KTV mà chưa thực sự bám sát phân tích tình hình thực tế
của công ty khách hàng, tình hình thực tế chung của toàn ngành. Việc phân tích