THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP BẰNG
CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM TIẾN HÀNH
2.1. Kiểm kê
Phương pháp kiểm kê giúp KTV thu thập được bằng chứng có độ tin cậy
cao. Tuy nhiên kiểm toán viên chưa vận dụng được hết những ưu điểm của phương
pháp này. Công cuộc kiểm kê rất tốn kém và yêu cầu trình độ hiểu biết về chuyên
môn. Ví dụ như kiểm kê số lượng than còn tồn kho chưa khai thác được kiểm toán
viên phải thuê chuyên gia thực hiện. Thông thường kiểm toán viên sẽ tham gia vào
cuộc kiểm kê của đơn vị vào thời điểm 31/12 hàng năm. Tuy nhiên việc tham gia
này còn ít bởi vì thời gian diễn ra cuộc kiểm toán và thời gian kiểm kê không trùng
nhau, các hợp đồng kiểm toán thường được ký vào đầu năm sau trong khi đó công
việc kiểm kê đã diễn ra rồi. Quỹ thời gian của cuộc kiểm toán ngắn, thông thường
là một tuần khiến kiểm toán viên không thể đưa ra các phương pháp kiểm kê hữu
hiệu nhất đối với tất cả hàng tồn kho của đơn vị. Bên cạnh đó công ty kiểm toán
thường rất bận rộn vào mùa kiểm toán vì thế có thể không tránh khỏi việc thiếu
nhân lực cho công việc kiểm kê hàng tồn kho của đơn vị được kiểm toán.
2.2. Lấy xác nhận
Phương pháp được sử dụng phổ biến do nó cung cấp bằng chứng có độ tin
cậy cao. Phương pháp xác nhận dạng khẳng định cung cấp bằng chứng có độ tin
cậy cao hơn phương pháp xác nhận dạng phủ định, nhưng nó lại có chi phí cao hơn
rất nhiều. Vì vậy trên thực tế các công ty kiểm toán thường phối hợp giữa hai dạng
thư xác nhận. Công ty kiểm toán gửi thư xác nhận dạng khẳng định đối với các
khoản mục quan trọng, có số dư lớn,rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh
giá là cao, ảnh hưởng nhiều đến các khoản mục khác. Còn các khoản phải thu có số
tiền nhỏ, khả năng xảy ra sai sót được đánh giá thấp, không ảnh hưởng trọng yếu
thì gửi thư xác nhận dạng phủ định. Ví dụ khi tài khoản Nợ phải thu khách hàng
gồm một số ít các khách hàng với số dư khá lớn và rất nhiều khách hàng có số dư
tương đối nhỏ, khi đó công ty kiểm toán sẽ gửi thư xác nhận dạng khẳng định cho
các khách hàng có số dư lớn và chọn mẫu một số khách hàng có số dư nhỏ để gửi
thư xác nhận dạng phủ định.
quan sát để kiểm tra việc sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất có lãng phí hay hiệu
quả, việc bảo quản máy móc, thiết bị có đúng theo yêu cầu quy định, có được sử
dụng đúng mục đích hay không, quan sát việc thực hiện các chế độ an toàn lao
động, bảo quản hàng hoá trong kho,…Kiểm toán viên sẽ ghi chép lại các kết quả
quan sát được để kiểm định với đơn vị những vấn đề, nội dung cần sửa chữa, khắc
phục hay những ưu điểm cần phát huy. Nếu đơn vị chấp nhận các kết quả của kiểm
toán viên thì kiểm toán viên có thể sử dụng các kết quả trên làm bằng chứng đáng
tin cậy, còn nếu không được chấp nhận thì kiểm toán viên cần có biện pháp kết hợp
các thủ tục kiểm tra khác để đưa ra kết luận của mình.
2.5. Phỏng vấn
Trong thực tiễn nhiều hãng kiểm toán đã xây dựng hệ thống bảng câu hỏi
gồm hàng trăm câu hỏi mẫu để kiểm toán viên có thể lựa chọn sử dụng một cách
thuận lợi và có hiệu quả trong từng ngữ cảnh phỏng vấn cụ thể. Khi thực hiện
phỏng vấn các kiểm toán viên luôn đảm bảo nguyên tắc một câu hỏi ít nhất phải
phỏng vấn từ hai người trở lên để tăng độ tin cậy của câu trả lời. Khi có sự mâu
thuẫn giữa nội dung thu được của những người trả lời, kiểm toán viên sẽ mở rộng
phạm vi phỏng vấn, đảm bảo độ tin cậy cao cho bằng chứng thu được.
2.6. Tính toán lại
Kỹ thuật tính toán lại thường ít được kiểm toán viên áp dụng vì kỹ thuật
này rất tốn kém thời gian và chi phí kiểm toán. Thông thường khi nhận thấy có
sự biến động lớn về số lượng giữa năm kiểm toán với các năm trước, hoặc nhận
thấy sự yếu kém về trình độ của kế toán thì kiểm toán viên mới áp dụng kỹ thuật
này.
2.7. Phân tích
Phương pháp phân tích yêu cầu kiểm toán viên có trình độ chuyên môn cao,
năng lực phán đoán tốt nhưng đem lại bằng chứng có độ tin cậy cao, vì vậy các
công ty có uy tín thường sử dụng phương pháp này. Tuy nhiên phương pháp này
chưa trở thành một công cụ thực sự hữu hiệu đối với các công ty kiểm toán. Hơn
nữa quá trình phân tích này có khi lại không được thể hiện trên giấy tờ làm việc
của kiểm toán viên