Tìm hiểu về bằng chứng kiểm toán và các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán - Pdf 21

LờI Mở ĐầU
Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu đợc liên
quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán hình thành nên ý
kiến của mình. Chính vì thế mà giáo trình kiểm toán tài chính của trờng đại học kinh tế
quốc dân có viết: Thực chất hoạt động kiểm toán tài chính là quá trình thu thập và
đánh giá các bằng chứng về các báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm
mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với chuẩn mực
đã đợc xác lập
Vào thế kỷ 21, khi mà toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế
tất yếu thì vai trò của kế toán, kiểm toán ngày càng trở nên quan trọng. Vấn đề tăng c-
ờng và nâng cao chất lợng hoạt động kế toán, kiểm toán đợc đặt ra hàng đầu. Để nâng
cao chất lợng cuộc kiểm toán thì tất yếu phải nâng cao chất lợng của bằng chứng kiểm
toán. Để làm đợc điều đó kiểm toán viên phải có kiến thức vững chắc về tài chính kế
toán để từ đó đa ra các phơng pháp thu thập bằng chứng phù hợp, đầy đủ.
Vì tầm quan trọng đó của bằng chứng kiểm toán mà em đã chọn đề tài: Tìm hiểu về
bằng chứng kiểm toán và các phơng pháp thu thập bằng chứng kiểm toán. nhằm
nâng cao tầm hiểu biết về kiểm toán và để tránh sự tụt hậu trong thời kỳ hội nhập này.
Đặc biệt em lại là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán.
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài viết chia làm bốn phần:
1. Lý luận chung về bằng chứng kiểm toán
2. Các phơng pháp thu thập bằng chứng kiểm toán
3. Vận dụng lý luận về bằng chứng kiểm toán vào chuẩn mực kiểm toán số 500
4. Mối quan hệ giữa bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán.
Bài viết dùng phơng pháp luận biện chứng duy vật để diễn đạt các vấn đề có liên quan
đến bằng chứng kiểm toán và các phơg pháp thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm chỉ
ra tính logic của quá trình nhận thức, vạch ra các mối quan hệ và qui luật vận động của
sự vật hiện tợng tạo nên các bằng chứng kiểm toán đó.
Đề tài Tìm hiểu về bằng chứng kiểm toán và các phơng pháp thu thập bằng chứng
kiểm toán là một đề tài khó. Mặt khác do hạn chế về thời gian và trình độ nên bài viết
còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi những sai lầm. Em rất mong nhận đợc sự góp ý
của thầy giáo, Tiến sĩ Ngô Trí Tuệ, các thầy cô giáo trong khoa, và các bạn sinh viên

tính đa dạng, theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 500 Bằng chứng kiểm toán gồm
các tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu, thông tin từ những
nguồn khác. Các loại bằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ có ảnh hởng khác nhau đến
việc hình thành ý kiến, kết luận kiểm toán. Do đó kiểm toán viên cần nhận thức cụ thể
về các loại bằng chứng để có thể đánh giá bằng chứng một cách hữu hiệu khi thực hành
kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán có một vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành ý kiến
kết luận kiểm toán. Từ đó, sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc trớc
hết vào việc thu thập và sau đó là đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên.
2
Một khi kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng thích
hợp thì kiểm toán viên khó có thể đa ra một nhận định xác đáng về đối tợng đợc kiểm
toán. Nói cách khác, kết luận kiểm toán khó có thể đúngvới thực trạng đối tợng đợc
kiểm toán nếu nh bằng chứng thu thập đợc quá ít hay bằng chứng không phù hợp hoặc
có độ tin cậy không cao. Đối với các tổ chức kinh tế độc lập hoặc cơ quan kiểm toán
nhà nớc, cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để đánh giá, giám sát
chất lợng hoạt động của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán. Việc giám
sát, đánh giá này có thể do nhà quản lý kiểm toán tiến hành với các kiểm toán viên
thực hiện kiểm toán hoặc có thể do cơ quan t pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán
nói chung. Do vai trò quan trọng đó của bằng chứng kiểm toán chuẩn mực kiểm toán
Việt nam số 500 qui định:
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các thông tin thích hợp
để làm cơ sở đa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán.
Đến đây ta có thể khẳng định: hoạt động kiểm toán thực chất là quá trình thu thập và
đánh giá các bằng chứng về các báo cáo tài chính của một tổ chức kiểm toán cụ thể
nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với các
chuẩn mực đã đợc thiết lập.
1.2 Mục tiêu kiểm toán với việc thu thập bằng chứng kiểm toán
Trong đời sống hàng ngày mỗi khi tiến hành một công việc ta đều phải suy ngẫm,
xem xét xem mục tiêu của công việc là gì? Cách thức làm việc để đạt mục tiêu đó nh
thế nào? Có nh vậy công việc mới có hiệu quả cao, mới có một cái mốc, một cái đích

không. Quên ghi một nghiệp vụ về doanh thu hay chi phí... là vi phạm mục tiêu về tính
đầy đủ. KTV cần thu thập bằng chứng để chứng minh là mọi nghiệp vụ, tài sản, công
nợ đều đợc phản ánh đầy đủ trong BCTC.
Quyền và nghĩa vụ: Đơn vị phải có quyền sở hữu với tài sản và có nghĩa vụ phải
thanh toán với các khoản công nợ đợc trình bày trên báo cáo tài chính. Do vậy KTV
cần phải kiểm tra chủ quyền với các khoản nợ phải trả, KTV cũng phải xem đó có thực
sự phải là nghĩa vụ của công ty không.
Sự định giá (Tính chính xác số học): Sự định giá đúng từng số d tạo thành tổng số
d tài khoản, kể cả tính chính xác về mặt tính toán, sự nhận thức về các mức giảm của
giá trị ròng có thể thực hiện đợc. KTV phải xác định quá trình tính toán, tổng cộng luỹ
kế các số liệu trên BCTC xem có chính xác hay không. Ví dụ nh trên tài khoản 111
tiền mặt vì một lý do nào đó mà số d cuối kỳ bị sai lệch trong khi đó số d đầu kỳ, các
khoản phát sinh trong kỳ đều đợc vào sổ đúng. Để phát hiện ra điều này kiểm toán viên
phải tiến hành tổng hợp luỹ kế lại theo trình tự nh của kế toán.
Việc phân loại: Việc phân loại bao gồm việc xác định liệu các khoản mục có đợc ghi
vào đúng tài khoản, và các tài khoản có đợc trình bày đúng đắn trên các báo cáo tài
chính hay không.
Tính đúng kỳ: Kiểm toán viên phải xác định liệu các nghiệp vụ kinh tế có đợc ghi
sổ đúng kỳ hay không. Các nhiệp vụ kinh tế dễ bị sai nhất là các nghiệp vụ kinh tế đợc
ghi sổ gần cuối kỳ kiểm toán.
4
Chính xác về mặt kỹ thuật: Mục tiêu này hớng tới sự nhất trí của các số d tài khoản
với các số tiền trên các sổ phụ liên quan, tổng hợp thành số tổng cộng về số d tài
khoản, và nhất trí với số tổng trên sổ cái tổng hợp.
Trình bày và tiết lộ: Nhằm thoả mãn mục tiêu về sự tiết lộ, kiểm toán viên sẽ khảo
sát để tin chắc là tất cả tài khoản trên bảng cân đối tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh
và các thông tin liên quan đều đợc giới thiệu chính xác trên các báo cáo tài chính và đ-
ợc diễn đạt một cách đúng đắn trong phần nội dung và các phần ghi chú của các báo
cáo.
Một bằng chứng kiểm toán chỉ thoả mãn một hoặc một vài mục tiêu kiểm toán chứ

khoản mục có mức độ sai sót cho phép nhỏ.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 400 Rủi ro kiểm toán là rủi ro do công ty
kiểm toán và kiểm toán viên đa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài
chính đã đợc kiểm toán còn những sai sót trọng yếu.
Nh vậy rủi ro và trọng yếu có mối liên hệ ngợc chiều nhau nghĩa là nếu mức độ trọng
yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngợc lại. Kiểm toán viên phải quan tâm
tới mối quan hệ này khi xác định bản chất, thời gian và phạm vi của thủ tục kiểm toán
cần thực hiện.
Từ đây có thể kết luận rằng rủi ro và việc thu thập bằng chứng kiểm toán kiểm toán
có mối quan hệ thuận chiều. Khi rủi ro kiểm toán đợc đánh giá là cao thì số lợng bằng
chứng kiểm toán phải thu thập nhiều hơn, chất lợng bằng chứng kiểm toán phải đợc
nâng cao (lợng bằng chứng kiểm toán do điều tra của kiểm toán viên và bằng chứng
kiểm toán từ bên ngoài tăng nhằm giảm thiểu rủi ro có thể mắc phải sau khi cuộc kiểm
toán kết thúc) và ngợc lại.
Thực tế cho thấy việc xác định trọng yếu rủi ro là dựa vào sự chỉ đạo chung của ban
giám đốc công ty kiểm toán. ở Việt Nam các công ty đang dần xây dựng cho mình
một mức chuẩn trọng yếu dựa vào kinh nghiệm của mình cho từng loại hình công ty.
Tuy nhiên điều đó còn khó thực hiện. Khách hàng luôn luôn mong muốn báo cáo tài
chính không còn sai sót, chi phí cho cuộc kiểm toán thì muốn ở mức thấp nhất cho nên
nhiều lúc kiểm toán viên phải ký hợp đồng với mức độ trọng yếu không giống nh qui
định chung của công ty mình.
Ngay trong hớng dẫn về cách xác định tính trọng yếu đã có sự phân bổ theo khoảng
cách tức là kiểm toán viên có thể áp dụng theo mức lớn nhất, mức nhỏ nhất hoặc trong
phậm vi cho phép trên. Tuy nhiên trên thực tế các Công ty kiểm toán còn cho phép các
kiểm toán viên của mình dựa vào kinh nghiệm của bản thân, dựa vào yêu cầu của
khách hàng, dựa theo phí của cuộc kiểm toán mà có thể năng động tăng hoặc giảm
mức trọng yếu lên.

6
1.4 Các quyết định về bằng chứng kiểm toán

7
Nh đã nói ở trên, đối tợng kiểm tóan là những nghiệp vụ cụ thể, những tài sản cụ thể,
những chứng từ cụ thể và thờng đợc biểu hiện bằng số tiền xác định. Số lợng các
nghiệp vụ, các tài sản, các chứng từ thuộc đối tợng kiểm toán có số lợng rất lớn do vậy
trong nhiều trờng hợp không thể kiểm kê toàn bộ tài sản cũng không thể soát xét và đối
chiếu tất cả các chứng từ kế toán, các số d của các tài khoản. Trong khi đó, chuẩn mực
thận trọng thích đáng lại không cho phép công tác kiểm toán bỏ qua những sai phạm
trọng yếu để loại trừ những rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, giảm thiểu tối đa rủi ro
phát hiện. Mặt khác niềm tin của những ngời quan tâm tới tình hình tài chính của đơn
vị đợc kiểm toán cũng đòi hỏi kiểm toán viên phải đa ra đợc những đánh giá chính xác
về chất lợng của báo cáo tài chính. Để đáp ứng đợc yêu cầu của ngời quan tâm, của
chuẩn mực thận trọng đồng thời giải quyết đợc công việc thì phơng pháp chọn mẫu là
thích hợp nhất. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 400 Lấy mẫu kiểm toán là áp
dụng thủ tục kiểm toán trên phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số d tài
khoản hay nghiệp vụ sao cho mọi phần tử đều có cơ hội đợc chọn.
Sau khi đã chọn đợc thể thức kiểm toán qui mô mẫu có thể biến động từ một vài
khoản mục đến toàn bộ các khoản mục chứa trong tổng thể đang đợc khảo sát. Trong
thể thức kiểm toán ở trên giả sử có 10000 phiếu chi để so sánh với sổ nhật ký tiền mặt.
việc quyết định chọn bao nhiêu khoản mục để khảo sát phải đợc kiểm toán viên thực
hiện cho từng thể thức kiểm toán. Quy mô mẫu với bất kỳ thể thức định sẵn nào có khả
năng thay đổi từ cuộc kiểm toán này sang cuộc kiểm toán khác.
1.4.3 Các khoản mục phải chọn
Sau khi quy mô mẫu đã đợc xác định cho từng thể thức kiểm toán cá biệt, điều cần
làm là xác định các khoản mục cá biệt để kiểm tra. Ví dụ nếu kiểm toán viên quyết
định chọn 500 phiếu chi đã thanh toán từ tổng thể gồm10000 phiếu chi để so sánh với
sổ nhật ký chi tiền mặt. Có một số phơng pháp khác nhau có thể đợc sử dụng để lựa
chọn các phiếu chi để kiểm tra. Chọn ngẫu nhiên 500 phiếu chi, chọn 500 phiếu chi có
số tiền lớn nhất,chọn 500 phiếu chi sát ngày kết thúc niên độ nhất, chọn 500 phiếu chi
đầu tiên, hoặc chọn những phiếu chi mà kiểm toán viên nghĩ rằng chúng có khả năng
sai sót nhiều nhất. Hoặc kết hợp tất cả các phơng pháp trên.

Ba yếu tố quyết định tính thuyết phục của bằng chứng kiểm toán là tính có giá trị,
tính đầy đủ và tính đúng lúc.
1.5.1 Tính có giá trị
9
Tính có giá trị của bằng chứng kiểm toán chỉ liên quan với các thể thức kiểm toán
đã chọn. Tính có giá trị không thể đợc cải thiện bằng cách chọn một qui mô mẫu lớn
hơn hoặc các khoản mục ở các tổng thể khác nhau. Nó chỉ có thể đợc cải thiện bằng
cách chọn lựa những thể thức kiểm toán có chứa một hoặc nhiều hơn sáu đặc điểm
dới đây của bằng chứng có chất lợng cao hơn.
Thích đáng: Bằng chứng phải đi đôi hoặc thích hợp với mục tiêu mà kiểm toán
viên đang khảo sát trớc khi nó có thể thuyết phục. Ví dụ: Qua các khảo sát kiểm
toán viên nghi ngờ rằng một số hoá đơn bán hàng của công ty khách hàng không
đợc ghi sổ (vi phạm tính đầy đủ ) khi đó kiểm toán viên không thể đối chiếu từ
sổ sách kế toán với các chứng từ đợc vì nh vậy chỉ phát hiện ra sự vi phạm
nguyên tắc về tính hiện hữu mà thôi. Thể thức kiểm toán phù hợp ở đây là so
sánh từ các chứng từ vào sổ sách kế toán.
Tính thích đáng chỉ có thể nghiên cứu trong các điều kiện của mục tiêu kiểm
toán đặc thù. Bằng chứng có thể phù hợp với mục tiêu này nhng lại không với
mục tiêu khác.
Độc lập với ngời cung cấp: chứng cứ có đợc từ một nguồn từ bên ngoài công ty
thì đáng tin cậy hơn chứng cứ có từ bên trong. Ví dụ, chứng cứ bên ngoài nh
những tin tức từ các ngân hàng, luật s hoặc các khách hàng thờng là đáng tin cậy
hơn những câu trả lời có đợc từ các cuộc thẩm vấn công ty khách hàng và từ các
chứng từ của công ty khách hàng.
Tính hiệu quả trong cơ cấu kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng: khi một cơ
cấu kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng có hiệu quả, bằng chứng thu đợc
khi đó sẽ đáng tin cậy hơn so với một cơ cấu yếu kém. Chính vì vậy trớc khi tiến
hành lập kế hoạch kiểm toán công ty kiểm toán phải tiến hành tìm hiểu hệ thống
kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng. Thông qua việc hiểu biết về hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng, tính chính trực của ban giám đốc... kiểm toán

6. Việc hạch toán các khoản phải
thu, phả trả có dựa trên căn cứ
chứng từ không?
7. việc hạch toán các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh có đúng kỳ
không?
8. Cuối kỳ các khoản công nợ có
gốc bằng ngoại tệcó đợc đánh giá
lại theo tỷ giá cuối kỳ không?
Kết luận: Hệ thống kiểm soát nội bộ của các khoản phải thu, phải trả:
Khá Trung bình Yếu
Kiến thức trực tiếp của kiểm toán viên: Bằng chứng do kiểm toán viên thu đợc
một cách trực tiếp thông qua quá trình xem xét thực tế, quan sát, tính toán, và
điều tra thì có giá trị hơn thông tin thu đợc một cách gián tiếp.Ví dụ, nếu kiểm
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status