Mở Đầu
Mọi người ai cũng cần đến những nhu cầu thiết yếu như cơm ăn, áo
mặc, nhà ở và công việc ổn định vv. Nhưng nhu cầu của con người là vô hạn,
ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội, chính sự tăng lên này đã thúc
đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng tiến bộ để đáp ứng nhu cầu của con
người.
Thu nhập của một nước hay là thu nhập quốc dân là tổng thu nhập của
tất cả mọi người sống ở nước đó.
Để xem xét nền kinh tế của một đất nước tăng trưởng hay suy thoái
người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau: Tỷ lệ lạm phát, tình trạng thất
nghiệp, tốc độ tăng trưởng vv. Trong đó chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng là chỉ tiêu
khá quan trọng tức là biết được thu nhập bình quân đầu người (GNP) là bao
nhiêu. Như chúng ta thấy thu nhập bình quân đầu người trong một hộ phản
ánh tình trạng một đất nước, thu nhập bình quân đó nói lên mức sống của
người dân ở một địa phương, một vùng hay một đất nước. Khi thu nhập thực
tế của người dân tăng lên thi khả năng được tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ
được tăng lên do vây mức sống được cải thiện
Việt Nam với gần 80% dân số sống ở nông thôn và trên 70% lực
lượng lao động xã hội làm việc ở nông thôn do đó phát triển một cách toàn
diện ở nông thôn để cải thiện và nâng cao mức sống có một ý nghĩa hết sức to
lớn vì vậy sản xuất Nông nghiệp của nước ta có vai trò quan trọng trong việc
ổn định đời sống kinh tế chính trị xã hội
Mức sống của người dân nước ta như thế nào qua thu nhập trung bình
của họ đặc biệt là thu nhập trung bình hộ ở nông thôn .
Trong chuyên đề thực tập này em xin được xem xét tới vấn đề: MỘT
SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ Ở KHU VỰC NÔNG THÔN.
Với mục đích là tìm hiểu xem sự tác động của một số yếu tố đến thu
nhập như thế nào và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nay ra sao và sự khác
nhau về thu nhập trung bình của hộ qua một số yếu tố như giới tính của chủ
hộ, bằng cấp cao nhất của chủ hộ, vùng cư trú của hộ vv.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến thu nhập của hộ ở khu vực nông thôn,
dẫn em trong quá trình thực hiện và hoàn thành chuyên đề thực tập này.
CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ
I. Một số khái niệm
* Hộ dân cư: Hộ dân cư bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn
chung, góp chung thu nhập của cải, cùng sử dụng chung các dịch vụ và hàng
hoá chủ yếu như nhà cửa, lương thực, thực phẩm vv.
* Thu nhập hộ: là tổng số các khoản tiền thu được từ các hoạt động lao động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ của hộ.
Thu nhập trung bình (TNTB) của hộ là tổng thu nhập của hộ tính chia
bình quân trên tổng số người của hộ trong một năm. Được tính bằng công
thức:
Trong đó
Tong_thu_nhap được cấu thành từ 2 khoản thu: Thu nhập chính và thu
nhập khác.
Thu nhập chính: là các khoản thu nhập của hộ trong lao động sản xuất,
hoạt động nghề nghiệp. Thường khoản thu này là thành phần chính cấu thành
nên tổng thu nhập, nó chiếm tỷ trọng lớn.
Thu nhập khác cũng rất quan trọng đây là khoản thu mà hộ không phải
nhận được từ hoạt động nghề nghiệp, đây là khoản thu do biếu xén, trợ cấp
hay giá trị tiền hoặc hiện vật nhận được từ người thân gửi cho hoặc cho thuê
mướn đất nông lâm nghiệp thuỷ sản, đất ở, nhà ở, thiết bị máy móc vv.
Đối với khu vực nông thôn các nguồn thu chính từ lao động làm công,
thu từ tiền hưu trí, thu nhập từ sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản, thu từ
ngành nghề sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, chế
biến.
* Chủ hộ: là người đại diện cho hộ, được các thành viên trong hộ thừa nhận.
* Qui mô hộ: là số người trong hộ
* Tình trạng hôn nhân: được xác định theo lời khai của từng người.
- Chưa vợ, chưa chồng: là những người chưa bao giờ lấy vợ hay lấy
- Đang làm việc: Những người có thời gian làm việc để tạo ra thu nhập
chiếm nhiều thời gian nhất trong các công việc mà người đó tham gia trong
12 tháng trước thời điểm điều tra.
- Nội trợ: Người có thời gian làm các công việc nội trợ như nấu ăn, giặt
giũ , trong gia đình chiếm nhiều thời gian nhất trong các loại công việc mà
người đó tham gia trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
- Đi học: Những người có thời gian đi học tại các trường phổ thông
hoặc các trường chuyên nghiệp, dạy nghề chiếm nhiều thời gian nhất trong
các công việc mà người đó tham gia trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
- Không làm việc: Những người có khả năng lao động nhưng không
làm bất cứ một công việc gì chiếm nhiều thời gian nhất trong 12 tháng trước
thời điểm điều tra.
* Công việc chính: là công việc chiếm nhiều thời gian nhất trong tổng số thời
gian làm các công việc để có thu nhập của một người trong 12 tháng trước
thời điểm điều tra.
II. Một vài nét về thu nhập của nước ta và tác động của một số
nhân tố tới thu nhập hộ ở nông thôn.
1. Vài nét về thu nhập của nước ta
Nước ta trong những năm qua trong suốt một thời gian dài từ những
năm 75 đến năm 1985, nền kinh tế trong tình trạng bế tắc lâu dài không tìm ra
lối thoát, kinh tế kém phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ lạm
phát cao. Đến cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 đất nước chuyển nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Thu
nhập bình quân đầu người đã tăng lên. Thu nhập bình quân (GNP) năm 89 -
91 khoảng 250 USD và Việt Nam là một trong 8 nước nghèo nhất thế giới.
Nhờ vào các chính sách kinh tế hiệu quả đến năm 96 GNP của nước ta là 320
USD.
Theo thống kê của Chính phủ Việt Nam cũng như báo cáo và tài liệu
của các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB, UNDP vv, thì hiện nay thu nhập
bình quân là khoảng 430 USD trên mỗi đầu người Việt Nam.
trên thị trường. Tình trạng nghèo ở Việt Nam có đặc điểm là là sự khác biệt
và chênh lệch giàu nghèo tính bằng chi tiêu hoặc sức mua lớn hơn tính bằng
thu nhập, tiền công hoặc tiền lương. Nói chung cho toàn thể dân cư chi
tiêu/sức mua cao hơn gấp 2 thu nhập/lợi tức. Thống kê về sự bất bình đẳng ở
Việt Nam cho thấy tình trạng trong khoảng thời gian từ năm 1993 đến 1998
giữa nông thôn và thành thị, giữa các tầng lớp xã hội có tăng lên nhưng không
đủ mạnh. Nền kinh tế Việt Nam gia tăng với tốc độ tương đối nhanh, sự gia
tăng này chỉ dựa một phần vào sự phát triển của hệ thống sản xuất hàng hoá
và dịch vụ cụ thể và vào sự gia tăng số lượng việc làm mà hệ thống này tạo ra
trong các ngành nghề khác nhau để tác động lên mức sống của toàn dân. Số
tiền mà hàng năm Việt kiều gửi về nước và số tiền mà lao động của Việt Nam
ở nước ngoài gửi về nước là rất lớn. Hai nguồn tài chính này giúp nâng cao
mức sống và sức chi tiêu của dân cư Việt Nam. Song tiềm năng sản xuất hàng
hoá dịch vụ, thực lực kinh tế quốc gia không thay đổi, xã hội ta có giàu lên
nhưng không hoàn toàn do sự gia tăng sức mạnh và khả năng sản xuất và
cạnh tranh của nền kinh tế.
Thu nhập và mức sống mà chúng ta đạt được hiện nay thiếu nền tảng
sức mạnh sản xuất. Thị trường tiêu thụ nước ta chỉ dựa một phần vào sự tăng
trưởng kinh tế và năng lực sản xuất và xuất khẩu. Có thể đối với chúng ta
chấp nhận với tốc độ gia tăng của thu nhập bình quân đầu người. Nhưng đối
với các nhà đầu tư nước ngoài và cả giới kinh doanh Việt Nam thì tình trạng
vừa nêu không tạo ra sự lạc quan cần thiết để khuyến khích đầu tư và kinh
doanh lâu dài. Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế theo hướng gia tăng
xuất khẩu, mức sống và sự tiêu thụ của dân cư trông có vẻ thuận lợi nhưng
cản trở nỗ lực phát triển bền vững nhằm vào gia tăng xuất khẩu.
Trong năm 2001-2002, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng tính chung
cả nước theo giá hiện hành đạt 356 nghìn đồng, tăng 20.6% so với năm 1999
và mỗi năm tăng bình quân 10% trong thời kỳ 1999-2002. Nếu tính theo giá
so sánh, năm 1999 làm gốc, thu nhập thực tế năm 2001-2002 đạt 348 nghìn
đồng tăng 18% so với năm 1999. Trong tổng thu nhập tỷ lệ thu từ tiền lương,
2. Các yếu tố tác động đến thu nhập hộ
2.1 Lao động
Trong nguồn thu nhập của hộ, thu nhập từ lao động là yếu tố quan
trọng nhất để duy trì mức sống, đây cũng là nguồn thu mà chúng thay đổi theo
số giờ lao động. Thu nhập này không tính các khoản thu như lương hưu, học
bổng, trợ cấp xã hội, tiền chuyển về, tiền cho thuê tài sản và lãi suất tiết kiệm
là những khoản không phụ thuộc vào số giờ lao động của các thành viên hộ.
Giờ lao động được tính bằng cách chia tổng số gìơ làm việc của các
thành viên của hộ cho số lượng thành viên làm việc trong hộ.
Mức thu nhập tăng lên vì số giờ công lao động mỗi năm của các nhân
khẩu nhiều hơn, số giờ công lao động của các nhân khẩu trong năm 1998 tăng
thêm khoảng 400 giờ so với năm 1993, mức tăng số giờ của những hộ đang sa
sút lại cao hơn một chút so với những hộ đang phất lên, có lẽ vì họ phải nỗ
lực hơn để bù đắp lại mức giảm về thù lao của mỗi giờ công lao động song
cũng vì số người ăn theo của mỗi nhân khẩu lao động trong nhóm này tăng
lên.
Những hộ đang phất lên có nhiều khả năng được sống ở những nơi
thuận lợi gần đường giao thông, nhà máy, trường học trong khi một tỷ lệ lớn
những hộ đang sa sút thì tập trung ở các vùng sâu vùng xa. Mức thu nhập của
các hộ dân tộc thiểu số thấp hơn gần 40% so với mức trung bình của quốc gia.
2.2 Nguồn lực
Người có thu nhập thấp thường thiếu nhiều nguồn lực, họ không thể
đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp
lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng
không có đất đang có xu hướng tăng lên, đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu
long. Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc đảm bảo lương thực của hộ cũng như
đa dạng hoá sản xuất, để hướng tới sản xuất cây trồng với giá trị cao. Đa số
hộ nông lựa chọn phương án sản xuất tự cung tự cấp họ vẫn giữ các phương
thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương
án sản xuất mang lợi nhuận cao, do vậy giá trị sản phẩm và năng suất các loại
đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%, trung học cơ sở chiếm
37%. Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vực
khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập
cao hơn và ổn định hơn. Trình độ học vấn thấp không có khả năng tự giả
quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật. Nhiều văn bản pháp
luật có cơ chế phức tạp, hộ nông khó nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý,
số lượng các luật gia còn hạn chế phân bố chủ yếu ở khu vực thành thị.
2.4. Quy mô hộ
Quy mô hộ là yếu tố quan trọng tác động tới thu nhập bình quân của
các thành viên trong hộ.Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển từ mức khởi
điểm thấp dựa chủ yếu vào nông nghiệp nên nó bị chi phối bởi sản xuất mang
tính sử dụng nhiều lao động. Khi hộ có quy mô lớn hơn sẽ thu được thu nhập
bình quân trên một lao động cao hơn do các hộ này có thể khai thác được lợi
thế kinh tế nhờ quy mô hộ lớn hơn, mặt khác, với những hộ sản xuất Nông
nghiệp có quy mô hộ lớn năng suất lao động cận biên có thể giảm. Quy mô hộ
lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao nhưng đây cũng có thể là nguồn lao động
tạo ra thu nhập cho hộ, cũng có thể hộ có qui mô lớn sẽ tạo ra được thu nhập
lớn hơn so với hộ có qui mô hộ nhỏ hơn, ở khu vực nông thôn thì các thành
viên trong hộ có thể sử dụng sức khoẻ của mình để làm những công việc giản
đơn giúp đỡ gia đình tạo ra thu nhập
2.5. Giới tính của chủ hộ
Việt Nam là một trong những nước Châu Á còn tồn tại các phong tục
và nghi lễ truyền thống. Tôn ti trật tự trong gia đình không thể bị lu mờ trong
nhiều quyết định về kinh tế như con cái trong gia đình làm nghề gì, họ sống
và làm việc tại đâu, học ngành gì phụ thuộc vào quyết định của người chủ của
gia đình. Vì vậy các quyết định của chủ hộ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng
tới thu nhập của hộ. Sự sáng suốt của các quyết định này lại phụ thuộc nhiều
vào đặc điểm của chủ hộ. Ở khu vực nông thôn nữ giới chiếm gần 50% tổng
số lao động nông nghiệp, tuy vậy nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khoá
khuyến nông về chăn nuôi, và 10% các khoá khuyến nông về trồng trọt. Phụ
sinh sống. Đối với hộ, cuộc điều tra thu thập số liệu về một số đặc điểm nhân
khẩu học của các thành viên trong hộ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của từng thành viên, thu nhập, chi tiêu, việc sử dụng các loại y tế,
tình trạng việc làm, nhà ở và các tiện nghi như tài sản, đồ dùng, điện, nước, vệ
sinh và tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo.
Mẫu điều tra được chọn dựa trên các địa bàn điều tra của Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 1999. Cỡ mẫu gồm 75.000 hộ đại diện cho cả nước, khu
vực thành thị, nông thôn và 61 tỉnh thành. Mẫu điều tra được chia làm 4 mẫu
con để tiến hành điều tra thu thập số liệu theo 4 quý trong năm 2002 nhằm
loại trừ tác động của mùa vụ.
Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 được thiết kế với hai mẫu:
một mẫu lớn (45000 hộ) với nội dung điều tra tập trung chủ yếu vào thu nhập
của hộ để đánh giá mức sống cho cấp TƯ, vùng và tỉnh; và một mẫu nhỏ hơn
(30000 phiếu) nhưng với đầy đủ các nội dung điều tra về thu nhập và chi tiêu
để đánh giá mức sống sâu hơn ở cấp TƯ và vùng.
Cụ thể như sau:
• Trong năm 2002 tổ chức điều tra đầy đủ tất cả các nội dung điều tra
trên mẫu quốc gia 30.000 hộ dân cư (gọi tắt là điều tra thu nhập và chi tiêu).
Mẫu này được chia thành 4 mẫu con, mỗi mẫu con gồm 7.500 hộ được điều
tra lần lượt vào tháng đầu của 4 quý trong năm 2002. Mẫu 30.000 hộ này sẽ
cho các ước lượng ở cấp toàn quốc và cấp vùng cho năm 2001-2002.
• Trong 6 tháng đầu năm 2002 tổ chức điều tra các nội dung trừ nội dung
chi tiêu (trong điều tra thu nhập và chi tiêu) của 45.000 hộ (gọi tắt là điều tra
thu nhập). Mẫu này được chia thành 2 mẫu con, mỗi mẫu con gồm 22.500 hộ
được điều tra lần lượt vào quý I và II năm 2002. Mẫu điều tra thu nhập
(45.000) kết hợp với 15.000 hộ của mẫu điều tra thu nhập và chi tiêu (30.000
hộ) được điều tra trong tháng đầu của quý I và II năm 2002 sẽ tạo thành một
mẫu 60.000 hộ cho phép đưa ra các ước lượng ở cấp toàn quốc, cấp vùng và
cấp tỉnh/thành phố cho năm 2001.
3. Đối tượng và đơn vị điều tra
Người trả lời là người có thu nhập từ các nguồn trên và là người biết nhiều
nhất về các hoạt động kinh tế tự làm.
Mục 6. Chi tiêu: Mục này được thiết kế khác nhau cho 2 loại mẫu của cuộc
điều tra.
Đối với mẫu 30.000 hộ, mục này hỏi về các khoản chi tiêu cho ăn uống, kể cả
những sản phẩm tự sản xuất đã tiêu dùng cho nhu cầu ăn uống của hộ dân cư
(trong các dịp lễ tết và thường xuyên hàng ngày); chi tiêu dùng hàng không
phải lương thực, thực phẩm và chi khác của họ. Người trả lời là người biết
nhiều nhất về những khoản chi này.
Đối với mẫu 45.000 hộ, mục này chỉ hỏi một số khoản chi tiêu chính cho đời
sống của hộ làm cơ sở đánh giá đúng số liệu thu nhập của hộ. Những thông
tin này gồm: đánh giá của hộ về so sánh giữa thu nhập và chi tiêu cho đời
sống; chi tiêu bình quân 1 tháng cho ăn, uống, hút, kể cả tự túc, và tiêu dùng
một số mặt hàng thực phẩm chính trong 1 tháng qua.
Mục 7. Tài sản cố định và đồ dùng lâu bền: Mục này liệt kê tài sản cố định
dùng cho sản xuất và các đồ dùng lâu bền dùng cho sinh hoạt của hộ. Người
trả lời tốt nhất là chủ hộ và những người biết nhiều thông tin nhất về các loại
tài sản, đồ dùng này.
Mục 8. Nhà ở: Mục này xác định hiện trạng chỗ ở của hộ dân cư và tính các
chi phí cho nhà ở, bao gồm cả tiền thuê nhà). Các câu hỏi được hỏi chủ hộ
hoặc một số người biết nhiều thông tin nhất trong hộ.
Mục 9 Tham gia các chương trình xóa đói giảm nghèo: Mục này thu thập
những thông tin về tình hình được hưởng lợi của những hộ nghèo thông qua
chương trình xóa đói giảm nghèo cũng như các chính sách đối với người
nghèo. Người trả lời là chủ hộ hoặc những thành viên biết nhiều thông tin
nhất của hộ.
II. Thực trạng về thu nhập hộ ở khu vực nông thôn
1. Mô tả dữ liệu
Từ bộ số liệu VHLSS_2002 ta tính được thu nhập của hộ dân cư bằng
tổng các khoản thu của hộ trừ đi chi phí sản xuất kinh doanh.
Qua bộ số liệu VHLSS_2002 ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa một số
nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập.
2.1. Tuổi của chủ hộ
Bảng 2
Từ bảng mô trên cho thấy tuổi trung bình của chủ hộ là 47.14 tuổi.
Bảng 3 Phân tích tương quan giữa yếu tố thu nhập trung bình của hộ trong
1tháng
Từ bảng phân tích tương quan trên ta thấy hệ số Pearson chi-square của hai
yếu tố trên là -0.006, với giá trị Sig. là 0.239 nên giả thiết Ho về sự độc lập
của 2 biến này được chấp nhận.
Như vậy yếu tố tuổi của chủ hộ và thu nhập trung bình của hộ coi như
không có mối quan hệ tuyến tính.
2.2 Giới tính của chủ hộ
Bảng 4
Thu nhập trung bình ở nam giới là 1784288.4 VNĐ, ở nữ giới là 1687755.7
VNĐ.
Như vậy thu nhập trung bình 1 hộ 1 tháng với chủ hộ là nam giới cao
chủ hộ là hơn nữ.
Bảng 5
Với mức thống kê F = 9.729 cao, giá trị Sig. = 0.002 < 0.05, chỉ ra
rằng có sự khác biệt giữa 2 số trung bình, và biến giới tính và thu nhập trung
bình 1 hộ 1 tháng có mối liên hệ với nhau
2.3. Bàng cấp cao nhất của chủ hộ
Ta mô tả thu nhập trung bình của hộ mà chủ hộ được phân loại theo
bằng cấp cao nhất.
Bảng 6
Từ bảng 6 cho ta thấy chủ hộ có bằng cấp càng cao thi thu nhập trung
bình hộ càng lớn. Từ số liệu này nếu chủ hộ có bằng thạc sỹ thì thu nhập bình
quân 1 tháng của hộ là 3178083.3 VNĐ, nếu chủ hộ tốt nghiệp ĐH thì thu
nhập trung bình là 2547029.3 VNĐ và nếu chủ hộ không có bằng cấp gì thì