Hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập hóa học dạng kim loại phản ứng với dung dịch axit - Pdf 24

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hóa với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở
thành nước công nghiệp và hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại
hoá và hội nhập quốc tế là con người, nguồn lực người Việt Nam được phát
triển trên cơ sở mặt bằng dân trí cao.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế,
đòi hỏi chúng ta phải đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết Đại hội Đảng X đã chỉ rõ về giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo
của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều”.
Hiện nay, chúng ta đã, đang và sẽ thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục và đánh giá chất
lượng giáo dục.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK
giáo dục phổ thông là tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Thực
hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh với sự tổ
chức và hướng dẫn của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo,
góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học; rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Ở trường THPT, môn hóa học có vị trí, vai trò rất quan trọng. Nó cung
cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về các chất, sự
biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môi trường và
con người. Những tri thức này, giúp học sinh có nhận thức khoa học về thế
1
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]

tâm.
Xuất phát từ những vấn đề trên trong quá trình giảng dạy bộ môn hóa
học tại trường THPT Triệu sơn 2 tôi luôn trăn trở, tìm tòi, vận dụng các
phương pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy. Vì vậy trong khuôn khổ bài
viết này, tôi xin đưa ra một kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong giảng dạy là
“Hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập
hóa học dạng kim loại phản ứng với dung dịch axit” .
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Củng cố phương pháp giải bài tập hay. Rèn luyện khả năng tư duy
thông minh, tích cực sáng tạo nhằm tạo hứng thú học tập bộ môn hoá học của
học sinh THPT.
- Nghiên cứu xây dựng và sưu tập một số bài toán hướng dẫn học sinh
thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập hóa học dạng kim loại phản
ứng với dung dịch axit”.
III. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu khả năng sáng tạo của học sinh thông qua việc giải bài tập
hoá học.
- Sưu tập và xây dựng một số bài toán hoá học dạng kim loại phản ứng với
dung dịch axit để rèn luyện trí thông minh cho học sinh THPT.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm trong quá trình
dạy học trên lớp và hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà. Nghiên cứu lí
thuyết dựa vào: sách giáo khoa, sách bài tập hóa học phổ thông, các nội dung
lí thuyết và bài tập hóa học, định luật bảo toàn elctron, bảo toàn nguyên tố,
bảo toàn khối lượng làm cơ sở.
3
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
- Đánh giá hiệu quả phương pháp thông qua phương pháp thống kê so sánh
kết quả học tập của các lớp học: Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

chương trình hóa học phổ thông, phải được nâng cao, mở rộng, đào sâu kiến
thức theo từng nội dung của chương trình. Cùng với việc nâng cao mở rộng
và đào sâu kiến thức hóa học, học sinh phải được rèn luyện các năng lực như
phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực suy luận; năng lực tổng hợp kiến
thức; năng lực tự học, tự đọc, tự tìm tòi; độc lập suy nghĩ và linh hoạt sáng tạo
trong học tập.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong chương trình môn hóa học ở trường phổ thông các dạng bài tập
rất phong phú và đa dạng, một trong các dạng phổ biến điển hình là bài toán
của kim loại tác dụng với axit. Mỗi dạng bài tập thường gắn với nhiều phương
pháp giải khác nhau ngoài cách giải thông thường còn có các cách giải
nhanh hơn. Đặc biệt khi vận dụng công thức giải nhanh bài toán hóa học để
đến đích sớm nhất và điều này rất có ý nghĩa với học sinh lớp 12 trong hình
thức thi trắc nghiệm hiện nay.
Nhưng vận dụng nó như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong quá
trình dạy học? Trong quá trình nghiên cứu tôi tìm câu trả lời cho các vấn đề
sau:
Thứ nhất: Bài tập kim loại tác dụng với dung dịch axit có thể phân thành
các dạng bài tập chính nào.
Thứ hai: Hướng dẫn học sinh thiết lập công thức tính số mol của kim loại,
hoặc số mol sản phẩm khử của axit, công thức tính số mol axit phản ứng,
5
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
công thức tính khối lượng muối tạo thành của bài toán kim loại tác dụng với
dung dịch axit.
Thứ ba: Sự vận dụng các công thức tính nhanh của học sinh vào các dạng
toán áp dụng, so sánh từ phía học sinh với cách giải thông thường về độ
chính xác và thời gian làm bài tập.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Thực trạng của vấn đề

“ Hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập
hóa học dạng kim loại phản ứng với dung dịch axit”, chia sẻ cùng với quý
đồng nghiệp cùng tham khảo và có ý kiến góp ý xây dựng giúp tôi hoàn thiện
hơn trong công tác giảng dạy.
2. Kết quả của thưc trạng
Từ thực trạng nêu trên trong những năm giảng dạy tôi nhận thấy tỉ lệ học
sinh yếu môn Hóa học ở các khối lớp vẫn chiếm từ 3,0 - 8,0 % / năm, chất
lượng học sinh khá, giỏi của bộ môn chỉ đạt: 3%-5% /năm như vậy với kết
quả nêu trên thì việc áp dụng các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học là
rất cần thiết trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
Thực nghiệm sư phạm đã được thực hiện ở hai lớp 12B2 và 12B4, đều ban
tự nhiên – trường THPT Triệu Sơn 2, năm học 2011 – 2012. Lớp 12B2 là
lớp thực nghiệm, lớp 12B4 là lớp đối chứng. Sử dụng phương pháp thống kê
kết quả, tôi thấy lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp
đối chứng.
Năm học 2012 – 2013, tôi tiếp tục thử nghiệm đề tài trên hai lớp 12C6 và
12C9, đều ban cơ bản – trường THPT Triệu Sơn 2. Lớp 12C6 là lớp thực
nghiệm, lớp 12C9 là lớp đối chứng. Học sinh tại hai lớp 12C6 và 12C9 được
7
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng về khả năng nhận thức,
tỉ lệ giới tính, dân tộc.
Về thành tích học tập của năm học 2011 – 2012: Cả hai lớp tương đương nhau
về điểm số của môn học.
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Năm 2011 – 2012: Tôi chọn lớp 12B2 là lớp thực nghiệm, lớp 12B4
là lớp đối chứng. Ở lớp thực nghiệm, tôi dạy theo cách hướng dẫn học sinh
thiết lập công thức và vận dụng công thức giải nhanh vào giải toán hoá học. Ở
lớp đối chứng, tôi dạy học sinh giải bài tập theo cách giải thông thường. Sử
dụng kết quả bài kiểm tra 1 tiết đầu học kì 2 môn hóa học làm bài kiểm tra

hướng dấn học sinh lớp thực nghiệm tiến hành thiết lập các công thức tính
toán cho các dạng axit.
a. Dạng 1: Dạng axit chỉ có tính axit

→+
AxitKL
Muối + H
2
(Thường gặp: HCl, H
2
SO
4
loãng )
• Tính số mol kim loại phản ứng (hoặc số mol H
2
sinh ra)
Cho kim loại M hóa trị a vào dung dịch axit ( HCl, H
2
SO
4
) thu được n mol
khí H
2
.
Dựa vào phương pháp bảo toàn electron ta có:
M M
a+
+ ae
mol n
kl

Cho kim loại M tác dụng với axit H
b
A và giải phóng khí H
2
Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố ta có:
H
b
A
2
2
H
n
b

n
axit
>
2
H
n
=>
2
ax
2
it A H
n n n
b
= =
(2)
Trong đó: n

Cũng sử dụng công thức
2
. 2
kl H
a n n
=
Hay dạng kim loại phản ưng với halogen:
KL + X
2
> Muối ( X : F; Cl; Br; I)
Với cách chứng minh tương tự ta có công thức:

log
. 2
kl ha en
a n n
=

b. Dạng 2: Axit có tính oxi hóa mạnh
(Thường gặp: HNO
3
và H
2
SO
4
đặc)
10
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Sơ đồ phản ứng 1:
KL + HNO

4
đặc nóng) thu
được muối và sản phẩm khử X( X có thể là: NO
2
; NO; N
2
O; N
2
; NH
4
+
; SO
2
; S;
H
2
S).
Gọi a hoá trị cao nhất của kim loại M; c là tổng số electron nhận của N
+5
hoặc S
+6
tạo sản phẩm khử X.
Áp dụng định luật bảo toàn e ta có:
Ta có: M M
+a
+ a.e
n
kl
n
kl

2
O
Gọi b là hóa trị của gốc axit H
b
A => muối tạo thành có dạng: M
b
A
a

ta có: M
b
A
a
b.M
a+
+ a.A
b-

n
kl
n
A

.
kl
A X
a n
c
n n
b b

b b
+
= + =
Vậy :
axitpu X
c b
n n
b
+
=
(7)
TH: X chứa hai nguyên tố phi kim ( X có thể là: N
2
; N
2
O).
Tương tự ta có:
(7

)
2. Hệ thống bài tập hóa học và ứng dụng phương pháp
a. Dạng 1: Dạng axit chỉ có tính axit
Ví dụ 1. Hoà tan hoàn toàn 0,855gam hỗn hợp bột Al và Mg vào dung dịch
HCl thu được 1,68 lít H
2
(đkc). Phần % khối lượng của Al trong hỗn hợp là
Giải:

Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Đặt số mol Al là x mol, Mg là ymol.

855,0
27.005,0
%
==
Al

Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
Đặt số mol Al là x mol, Mg là ymol.
Ta có: nH
2
= 0,075 mol =>
2
. 2
kl H
a n n
=


3.x + 2.y = 0,075 (1)
Dựa vào khối lượng hỗn hợp : 27.x + 24.y = 0,855 (2)
Từ (1) và (2) => x = 0,005 mol; y = 0,03 mol
=>
%79,15%100
855,0
27.005,0
%
==
Al
Ví dụ 2. Cho 11,9 gam hỗn hợp gồm Zn, Al tan hoàn toàn trong dung dịch
H

4
+ H
2
Ta có: n
2
H
= 0,4 mol => 1,5x + y = 0,4 (1)
Khối lượng hỗn hợp: 27x + 65y = 11,9 (2)
Từ (1) và (2) => x = 0,2 mol; y = 0,1 mol
=> n
Al
342
)(SO
= 0,1 mol; n
4
ZnSO
= 0,1 mol
m
muoi
= 0,1x342 + 0,1x 161 = 50,3 gam
13
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]

Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
nH
2
= 0,4 mol
Ta dùng công thức tính khối lượng muối :
2
2 2

M
= 0,2 mol
=>
M
=
03,0
67,1
=55,67. đk M
A
<
M
<M
B
, A, B ở hai chu kỳ liên tiếp nhóm II
A
=> M
A
=40 (Ca); M
B
=87 (Sr)

Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
Ta có: n
2
H
= 0,3 mol
Ta dùng công thức :
2
. 2
kl H

Ví dụ 4. .Cho 0,69 gam một kim loại kiềm tác dụng với nước (dư) thu được
0,336 lít khí hiđro (ở đktc). Kim loại kiềm là
Giải:
Áp dụng công thức tính nhanh có thể tính nhanh bài toán như sau:
n
H
2
= 0,015
Ta dùng công thức :
2
. 2
kl H
a n n
=

=> 1.n
kl
= 2. n
H
2
=> n
kl
= 2.0,015 =0,03 mol
=> M = 0.69/0,03 = 23 (Na)
Ví dụ 5. Cho 5,4 gam Al tác dụng hết với dung dịch H
2
SO
4
loãng thấy có V
lít khí (đktc) bay ra. Giá trị của V là

(M) là:
Giải:

Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Pư: 3 M +4a HNO
3
→
3M(NO
3
)
a
+ aNO +2aH
2
O
Ta có: n
NO
= 0,2 mol => n
M
=
a
6.0
mol
=>
19,2
. 32.
0,6
M a a
= =
=> a = 2, M = 64 , M là Cu
15

4
(đặc nóng) thu được 0,1 mol mỗi khí SO
2
, NO, NO
2
.
Biết rằng không có phản ứng tạo muối NH
4
NO
3
. Cô cạn dung dịch sau phản
ứng, thu được lượng muối khan là:
Giải:

Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Pư: 3 Mg +8 HNO
3
→
3Mg(NO
3
)
2
+ 2NO +4H
2
O (1)
3 Zn +8 HNO
3
→
3Zn(NO
3

2
SO
4
→
MgSO
4
+ SO
2
+2H
2
O (5)
Zn +2 H
2
SO
4
→
ZnSO
4
+ SO
2
+2H
2
O (6)
Đặt số mol của Mg, Zn trong pư 1, 2, 3, 4,5 6 lần lượt là x, y, z, t, a, b .
Ta có các pt: (2/3)x + (2/3)y = n
NO
=0,1 => x+ y = 0,15 (1)
2z+ 2t = n
NO
2

16
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Ta có: m
muối
= m
KL
+ m
gốc axit trong muối
Với số mol gốc axit trong muối:
A X
c
n n
b
=

1 2 3
3
. / 1 2
62( ) 96
2
muoi KL goc axit muoi KL X X X
c
m m m m c n c n n
= + = + + +
12,9 (3 0,1 1 0,1)62 1 0,1 96 47,3( )
muoi
m gam
= + × + × + × × =
Ví dụ 3. Hoà tan hoàn toàn hỗn hợp A gồm Fe, Al, Cu trong 100 ml dung
dịch HNO

3Cu +8HNO
3
→
3Cu(NO
3
)
2
+ 2NO + 4H
2
O (3)
8Al +30 HNO
3
→
8Al(NO
3
)
3
+ 3N
2
O +15H
2
O (4)
8Fe+30 HNO
3
→
8Fe(NO
3
)
3
+ 3N

3
= 4( x+y+z) + 10( a+b+c) = 0,11 mol

3
3
3
0,11
1,1( / )
0,1
HNO
HNO
ddHNO
n
C mol lit
V
= = =

Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
Ta áp dụng công thức:
axitpu X
c b
n n
b
+
=
17
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Xaxitpu
n
b

HNO
ddHNO
n
C mol lit
V
= = =
Nhận xét: Với 2 cách giải trên trong 3 ví dụ đều đưa đến một kết quả
cuối cùng, nhưng cách giải áp dụng công thức tính nhanh đơn giản (không
cần viết phương trình và cân bằng phản ứng) cho kết quả trong thời gian
ngắn hơn. Do đó, HS thấy từ một bài toán phức tạp trở nên đơn giản tạo
được hứng thú học tập cho tất cả các đối tượng học sinh.
Ví dụ 4. Chia m (gam) Al thành 2 phần bằng nhau.Phần 1 tác dụng với dung
dịch NaOH dư thu x mol H
2
. Phần 2 tác dụng với dung dịch HNO
3
dư thu
được y mol N
2
O. Quan hệ giữa x và y là:
Giải:
Phần 1: ta có a.n
kl
= 2.nH
2
= 2. x
Phần 2: ta có a.n
kl
= c.n
x

(đkc). Thành phần % của Mg trong hỗn
hợp là:
A. 50%. B. 48%. C. 20%. D. 40%.
Câu 2. Một hỗn hợp gồm 13 gam kẽm và 5,6 gam sắt tác dụng với dung dịch
axit sunfuric loãng dư. Thể tích khí hidro (đktc) được giải phóng sau phản
ứng là.
A. 2,24 lit. B. 4,48 lit. C. 6,72 lit. D. 67,2 lit.
Câu 3. Cho 4,05 gam Al tan hết trong dung dịch HNO
3
thu V lít N
2
O (đkc)
duy nhất. Giá trị V là
A. 2,52 lít. B. 3,36 lít. C. 4,48 lít. D. 1,26 lít.
Câu 4. Hỗn hợp X gồm Fe và Cu, trong đó Cu chiếm 43,24% khối lượng.
Cho 14,8 gam X tác dụng hết với dung dịch HCl thấy có V lít khí (đktc) bay
ra. Giá trị của V là
A. 1,12 lít. B. 3,36 lít. C. 2,24 lít. D. 4,48 lít.
Câu 5. Hoà tan 6,4 gam Cu bằng axit H
2
SO
4
đặc, nóng (dư), sinh ra V lít khí
SO
2
(sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là
A. 4,48. B. 6,72. C. 3,36. D. 2,24.
Câu 6. Hoà tan m gam Al bằng dung dịch HCl (dư), thu được 3,36 lít H
2
(ở

Câu 12. Cho m gam Fe vào dung dịch HNO
3
lấy dư ta thu được 8,96 lit(đkc)
hỗn hợp khí X gồm 2 khí NO và NO
2
có tỉ khối hơi hỗn hợp X so với oxi
bằng 1,3125. Giá trị của m là
A. 0,56 gam. B. 1,12 gam. C. 11,2 gam. D. 5,6 gam.
Câu 13. Cho 60 gam hỗn hợp Cu và CuO tan hết trong dung dịch HNO
3
loãng
dư thu được 13,44 lit khí NO (đkc, sản phẩm khử duy nhất). Phần % về khối
lượng của Cu trong hỗn hợp là:
A. 69%. B. 96%. C. 44% D. 56%.
Câu 14. Cho 8,3 gam hỗn hợp Al và Fe tác dụng với dung dịch HNO
3
loãng
dư thì thu được 45,5 gam muối nitrat khan. Thể tích khí NO (đktc, sản phẩm
khử duy nhất) thoát ra là:
A. 4,48 lít. B. 6,72 lít. C. 2,24 lít. D. 3,36 lít.
20
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Câu 15. Cho 1,86 gam hỗn hợp Al và Mg tác dụng với dung dịch HNO
3
loãng
dư thì thu được 560 ml lít khí N
2
O (đktc, sản phẩm khử duy nhất) bay ra.
Khối lượng (gam) muối nitrat tạo ra trong dung dịch là:
A. 40,5 B. 14,62 C. 24,16 . D. 14,26

4
48 0 0% 8
16,7
%
26
54,2
%
12
25,0
%
2
4,1
%
5,68
Độ chênh lệch kết quả ở 2 lớp không cao, độ chênh lệch điểm trung
bình trước tác động là 5,68 – 5,54 = 0,14. Kết quả thu được của hai lớp gần
như tương đương. Nhưng kết quả cao hơn nghiêng về phía lớp đối chứng.
Lớp

số
Thống kê điểm kiểm tra sau tác động với ban học tự nhiên
0 → < 3 3 → < 5 5 → < 7 7 → < 9 9 → 10
ĐTB
SL % SL % SL % SL % SL %
12B2 46 0 0% 0 0% 16
34,8
%
25
54,3
%

số
Thống kê điểm kiểm tra trước tác động với ban học cơ bản
0 → < 3 3 → < 5 5 → < 7 7 → < 9 9 → 10
ĐTB
SL % SL % SL % SL % SL %
12C
6
49 2
4,1
%
8
16,3
%
31
63,3
%
7
14,3
%
1
2,0
%
4,9
12C
9
47 1
2,1
%
6
12,8

Tại một thời điểm, bài kiểm tra sau tác động (kiểm tra 1 tiết) ở hai lớp
thực nghiệm và đối chứng kết quả đều nghiêng về lớp thực nghiệm ở cả năm
học 2011-2012 áp dụng cho ban tự nhiên và năm học 2012 – 2013 áp dụng
cho ban học cơ bản.
Kết quả trên đã chứng minh: Hai lớp trước tác động là tương đương. Sau
tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình cho thấy: sự chênh lệch giữa
điểm trung bình lớp thực nghiệm và lớp đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh
lệch kết quả điểm trung bình lớp thực nghiệm cao hơn điểm trung bình lớp
đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động, nghiêng về lớp
thực nghiệm.
Như vậy đề tài “ Hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức
tính nhanh bài tập hóa học dạng kim loại phản ứng vơi dung dịch axit” kết
quả bước đầu thu được cho thấy tính hiệu quả trong quá trình giảng dạy.
23
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
C. KẾT LUẬN
I. KẾT LUẬN
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy hướng dẫn học sinh thiết lập
và vận dụng công thức tinh nhanh đã nâng cao được chất lượng dạy học, tạo
hứng thú học tập cho học sinh, pháp huy được tính tích cực chủ động của học
sinh đồng thời tăng cường và rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh.
Đặc biệt khi vận dụng công thức tính nhanh học sinh tìm được kết quả
nhanh và chính xác trong thời gian ngắn, rất phù hợp với hình thức thi trắc
nghiệm khách quan. Mặt khác, việc thiết lập và vận dụng công thức giải
nhanh áp dụng được cho rất nhiều dạng bài tập khác nhau, cho nhiều đối
tượng học sinh khác nhau (Giỏi, Khá, TB và yếu), giúp các em hiểu, vận dụng
và khắc sâu được những kiến thức đã học, yêu thích môn học.
II. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
Qua thực tế giảng dạy và đúc rút kinh nghiệm bước đầu, tôi có một vài
kiến nghị và đề xuất với các cấp quản lí giáo dục nói chung và BGH Trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status