Phßng gi¸0 dôc vµ ®µo t¹o THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC LỘC CHÂU 2
=============
chuyªn ®Ò khèi 4
“DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 THEO HƯỚNG TÍCH CỰC”
N¨m häc: 2012 - 2013
Lộc Châu, Ngày 27 tháng 1 năm 2013
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong môn học Lịch sử và Địa lí lớp 4 nói chung và phân môn Địa lí, nhằm giúp
học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh, từ đó tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng
hòa nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi trường thiên nhiên.
Để đạt được mục tiêu trên, phần Địa lý phải giải quyết những vấn đề có liên quan đến
mối quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên, cụ thể phải thực hiện những
nhiệm vụ sau:
+ Cung cấp cho học sinh những biểu tượng Địa lí, bước đầu hình thành một số khái
niệm cụ thể, xây dựng một số mối quan hệ địa lí đơn giản.
+ Hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tự học tập, bước đầu rèn luyện
những kỹ năng địa lí như:kỹ năng sử dụng bản đồ, kỹ năng nhận xét, kỹ năng so sánh
phân tích số liệu,kỹ năng phân tích các mối quan hệ địa lý đơn giản.
+ Hình thành và phát triển ở học sinh thái độ và thói quen ham tìm hiểu, yêu thiên
nhiên, đất nước, con người.Có ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên.
+ Bước đầu hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh hạn chế những hiểu biết
sai lệch, mê tín, dị đoan trước những hiện tượng địa lý tự nhiên.
Vì vậy, việc dạy học địa lý không những chỉ cung cấp cho học sinh những kiến
thức địa lý tự nhiên thuần túy mà phải hình thành và phát triển cho các em các kỹ năng
và năng lực tự học.
. Để đạt được mục tiêu của dạy- học Địa lí Tiểu học như trên, cần có những phương
pháp dạy học thích hợp nhằm làm cho học sinh Tiểu học không những nắm vững kiến
thức địa lí mà còn phải rèn luyện cho các em các kỹ năng hành động phù hợp với môi
trường tự nhiên-xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế thời đại.
hợp phương pháp dạy học truyền thống cũng như hiện đại, kết hợp với sự vận dụng các
thành tựu giáo dục học, tâm lý học sẽ là con đường đúng đắn để tìm lời giải cho câu hỏi
trên.
A PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH
Gồm 35 tiết được đưa vào dạy suốt năm học, với định lượng 1 tiết/ 1 tuần, gồm các nội
dung sau:
+ Bản đồ và cách sử dụng bản đồ địa hình Việt Nam.
+ Thiên nhiên và hoạt động của con người miền núi và trung du.
+ Thiên nhiên và hoạt động của con người ở vùng đồng bằng.
+ Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền duyên hải.
B.NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN KHI DẠY ĐỊA LÍ
1.THUẬN LỢI
+ 9-10 tuổi, học sinh lớp 4 đã có vốn sống phong phú, các em ham tìm tòi, học hỏi,.
dễ bị lôi cuốn những điều mới mẻ, nhất là với môi trường xung quanh.
+ Ý thức học tập đã được hình thành.
+ Được thừa kế nội dung chương trình từ lớp 1 đến lớp 3:Kiến thức địa lí được tích
hợp ở mức cao trong các chủ đề khác nhau của môn Tự nhiên và xã hội.
+ Lên lớp 4 được học bản đồ và cách sử dụng bản đồ giúp học sinh làm quen với một
nguồn kiến thức, một phương tiện học tập rất đặc trưng của địa lí.Thiên nhiên và con
người ở các vùng khác nhau được phân chia theo địa hình phù hợp với tâm lí nhận thức
của các em, giúp các em hiểu, biết, ghi nhớ những nét đặc trưng của từng vùng và thấy
được sự đa dạng của thiên nhiên, con người Việt Nam.
Những điều kiện thuận lợi đó góp phần giúp các em nắm bắt vấn đề một cách nhanh
chóng.
2.KHÓ KHĂN
+ Các em gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm địa lí vì nó khá trừu tượng.
+ Kĩ năng chỉ bản đồ, lược đồ của các em hầu như chưa có nên rất khó khăn cho việc
học môn địa lí lớp 4.
+ Đa số các em và cả phụ huynh chưa thấy được tầm quan trọng của các môn học ở
lớp 4 nói chung và nhất là môn Địa lí.Vì vậy nên chưa đầu tư đúng mức vào việc học
như núi, rừng, lễ hội, thị trấn, ở địa phương hoặc quan sát qua tranh ảnh, băng hình qua
các bước cụ thể sau:
Bước 1:Lựa chọn đối tượng quan sát:Tùy theo nội dung học tập, giáo viên sẽ lựa chọn
đối tượng quan sát phù hợp với trình độ của học sinh và điều kiện địa phương.
Bước 2:Xác định mục đích quan sát:Trong quá trình quan sát, không phải lúc nào học
sinh cũng đều rút ra được những đặc điểm của đối tượng. Vì vậy, với mỗi đối tượng địa
lí, giáo viên cần xác định mục đích của việc quan sát (Ví dụ:Khi hình thành biểu tượng
về một con sông, nếu đối tượng quan sát là tranh ảnh thì đặc điểm “động” của nó như
hiện tượng nước chảykhông nên là mục đích quan sát của học sinh.Tuy nhiên, học sinh
có thể quan sát được nó nếu các em tiếp xúc với một dòng sông thực hoặc xem trong
băng hình, )
Bước 3:Tổ chức, hướng dẫn cho học sinh quan sát đối tượng thông qua hệ thống câu
hỏi, bài tập. Hệ thống câu hỏi, bài tập này xây dựng dựa trên mục đích quan sát và trình
độ hiểu biết của học sinh nhằm:
+ Hướng cho học sinh đến đối tượng quan sát.
+ Điều khiển tri giác và hướng dẫn tư duy học sinh theo hướng quan sát cần thiết
(quan sát từ tổng thể đến chi tiết, từ ngoài vào trong, )
+ Giúp học sinh tổng kết và khái quát những điều đã quan sát, liên hệ với các đối
tượng cùng loại mà các em đã nhìn thấy rồi rút ra những kết luận khách quan, khoa học.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát về đối tượng. Sau đó giáo viên
cùng học sinh trao đổi, thảo luận, xác nhận và hoàn thiện kết quả, nhằm giúp cho học
sinh có biểu tượng đúng về đối tượng. Ví dụ: Việc hình thành biểu tượng về Rừng
rụng lá mùa khô (Rừng khộp) cho học sinh lớp 4 qua tranh ảnh (H 7 – Bài 8/ SGK Lịch
sử và Địa lí 4- phần Địa lí). Những nơi có điều kiện có thể cho học sinh quan sát trực
tiếp rừng khộp hoặc qua băng hình, qua tranh, ảnh do giáo viên sưu tầm.
+ Những đặc điểm của rừng rụng lá mùa khô (rừng khộp) mà học sinh có thể quan sát
từ tranh ảnh là:
. Rừng thưa.
. Chỉ có một loại cây.
+ Hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh quan sát và phân tích làm việc với
hiểu biết sẵn có của học sinh về các đối tượng quan sát.
+ Bước 2:Đặt câu hỏi hoặc nêu tình huống có vấn đề để học sinh tìm ra những dấu hiệu
chung, bản chất của đối tượng.
+ Bước 3: Cho học sinh đối chiếu, so sánh các đối tượng cùng loại để lĩnh hội được đầy
đủ và vững chắc các dấu hiệu chung, bản chất của khái niệm.
+ Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả. Sau đó, giáo viên cùng học sinh trao
đổi, thảo luận, xác nhận và hoàn thiện các dấu hiệu chung của đối tượng, nhằm đưa ra
khái niệm đúng về đối tượng.
Ví dụ: Hình thành khái niệm về đảo (Biển, đảo và quần đảo-SGK Lịch sử và Địa lí 4
trang 149)
- Giáo viên cho học sinh quan sát hòn đảo (bằng tranh ảnh, băng hình)
- Giáo viên khai thác kinh nghiệm sống của các em bằng cách đặt một số câu hỏi:
+ Trong lớp ta, em nào đã nhìn thấy đảo? Các em thấy khi nào? Ở đâu?
+ Em hãy tả hoặc vẽ một hòn đảo mà em đã nhìn thấy?
- Sau khi khai thác kinh nghiệm sống của các em, giáo viên đặt tiếp câu hỏi để các em
phát hiện các dấu hiệu chung và bản chất của đảo: Đất nổi, có nước biển bao bọc xung
quanh.
-Nêu khái niệm:Đảo là bộ phận đất nổi xung quanh có nước biển và đại dương bao
bọc.
2.2 Hình thành khái niệm địa lí riêng
Việc hình thành khái niệm địa lí riêng được tiến hành theo các bước sau:
+ Bước 1: Giáo viên cần:
- Hình dung trước những dấu hiệu riêng của đối tượng.
- Lựa chọn nguồn tri thức liên quan đến đối tượng.
Trên cơ sở đó, xác định những dấu hiệu nào của những đối tượng có thể tổ chức cho
học sinh tìm tòi, phát hiện; những dấu hiệu nào giáo viên phải cung cấp cho các em.
+ Bước 2:Tùy theo trình độ nhận thức của học sinh, giáo viên soạn một hệ thống câu
hỏi, bài tập nhằm hướng dẫn học sinh làm quen với các nguồn tri thức đã lựa chọn để
phát hiện ra những dấu hiệu riêng của đối tượng.
+ Bước 3:Tổ chức cho học sinh làm việc với các nguồn tri thức theo hệ thống câu hỏi,
Câu 1: Đánh dấu ô sau ý đúng:
Tây Nguyên ở phía nào của dãy Trường Sơn Nam?
Phía Bắc Phía Đông
Phía Nam Phía Tây
Câu 2: Điền tên các cao nguyên vào bảng sau theo hướng từ Bắc xuống Nam
Thứ tự Tên cao nguyên
1
2
3
4
Qua cách sử dụng bản đồ để hướng dẫn học sinh khac thác, tìm tòi kiến thức thì tôi
thấy kiến thức của các em thu nhận được bền vững hơn đồng thời trong quá trình tìm tòi
kiến thức, kĩ năng địa lí của học sinh cũng được rèn luyện và củng cố.
4. Phương pháp hình thành mối quan hệ so sánh thông qua bảng số liệu
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc với bảng số liệu để các em thực hiện các bước
sau:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu.
Bước 2: Đọc tên bảng số liệu.
Bước 3: Xem tên các cột, nắm được ý nghĩa đơn vị và thời điểm đi kèmvới các số liệu
ở từng cột.
Bước 4: Đối chiếu các số liệu theo hàng dọc, hàng ngang của bảng số liệu để rút ra
nhận xét.
Ví dụ :Bài :Thành phố Hồ Chí Minh
-Kiến thức trong bài học học sinh cần nắm được qua bảng số liệu:
+ Nhận biết được dân số và điện tích của thành phố Hồ Chí Minh.
+ So sánh diện tích và dân số của thành phố Hồ Chí Minh với các thành phố khác
như :Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.
-Hệ thống câu hỏi làm việc với bảng số liệu:
Câu 1:Đọc tên các cột trong bảng số liệu.
Lộc Châu, ngày 27 tháng 1 năm 2013
Người viết
Võ Thị Phương Yến