Án lệ trong hệ thống các loại nguồn pháp luật
Hoàng Mạnh Hùng
Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Luận văn ThS. Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật; Mã Số: 60 38 01
Nghd: GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế
Năm bảo vệ: 2013
Abstract: Làm rõ khái niệm án lệ, nguyên tắc sử dụng án lệ, mối quan hệ giữa án lệ và văn
bản pháp luật, lịch sử phát triển cũng như ý nghĩa, vai trò của việc sử dụng án lệ trong hoạt
động xét xử. Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc xây dựng án lệ từ những
nước đặc trưng trong việc sử dụng án lệ như Anh, Mỹ, Úc … đến các nước có truyền thống
pháp luật dân sự như Pháp, Đức,… Tổng hợp thực tiễn sử dụng án lệ trong hoạt động xét
xử của Tòa án nước ta từ đó đánh giá những ưu khuyết điểm của việc áp dụng án lệ. Quan
điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển án lệ ở Việt Nam trong giai
đoạn tới. Chỉ ra cách thức xây dựng án lệ trong điều kiện cải cách tư pháp ở Việt Nam. Đã
chỉ ra các nguyên tắc, tiêu chí để xác định thế nào là một án lệ, ai có thẩm quyền ban hành
án lệ, lưu trữ án lệ, phổ biến án lệ… trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Keywords: Luật học; Án lệ ; Lịch sử nhà nước và pháp luật
Contents:
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, án lệ được coi là một loại nguồn rất quan trọng của pháp luật. Việc áp
dụng án lệ trên thực tế rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Mỹ, Hà Lan, Australia,
Indonesia… Ở các quốc gia này từ lâu đã hình thành nguyên tắc "Stare decisis", nghĩa là phải tuân
theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của tòa án ngoài ý
nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một "tiền lệ" để áp dụng cho các
vụ án tương tự sau này, tạo ra sự bình đẳng trong xét xử và giúp các bên gồm cả thẩm phán, luật
sư, doanh nhân… những người tham gia tố tụng tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, kiện
tụng, góp phần giúp cho các bên lưu ý trong quá trình thực hiện các giao dịch kinh tế, dân sự và
cho cả phía Nhà nước và xã hội phải lãng phí rất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức cùng nhiều
hệ lụy khác nữa. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã từng được nghe một phát biểu gây
"chấn động một thời" của một vị nguyên là Chánh án TANDTC trước Quốc hội rằng "Luật dân
sự xử sao cũng được". Ở đây xin không bàn luận về tính đúng sai của lời phát biểu này, nhưng rõ
ràng người ta thầm hiểu rằng, đó là một thông điệp cho thấy tính bất nhất trong hoạt động xét xử
của Tòa án.
Nhưng, có lẽ điều này sẽ ít xảy ra nếu như vụ án, vụ việc đó được xử lý bởi quốc gia
thừa nhận án lệ trong xét xử. Bởi lẽ, người ta sẽ không đời nào lại nộp đơn theo đuổi việc chống
án hay "chạy án" khi biết trước rằng, tòa cấp cao và cấp cao hơn nữa chỉ ra một phán quyết mà
kết quả không khác gì so với bản án mà tòa cấp dưới đã tuyên vì lẽ, bản án đó cũng tương tự như
là "tiền lệ", hay "án lệ" do chính tòa cấp trên phán quyết. Có lẽ, một phần do án lệ tự thân nó đã
có sức sống và một phần nhận thấy điều kiện chín muồi để áp dụng, cho nên, ngày 02/06/2005,
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020" đã đề ra mục đích xây dựng và hoàn thiện từng bước hoạt động của Tòa án nhân dân
(TAND) là "Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm" [21]. Như vậy,
có thể xem đây là lần đầu tiên kể từ sau khi đất nước thống nhất, thuật ngữ "án lệ" đã được được
Bộ Chính trị thừa nhận như một chủ trương đường lối xây dựng và phát triển án lệ chính thống
trong tiến trình cải cách tư pháp Việt Nam. Đây có thể coi là điều kiện tiền đề cho việc án lệ
chính thức được thừa nhận và phát triển ở Việt Nam.
Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa, với tư cách là một thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam cần phải tuân thủ các nguyên tắc về minh bạch hóa,
trong đó yêu cầu các tòa án cần phải công bố công khai các bản án của mình. Thực tiễn này đã và
đang đặt ra một nhu cầu bức thiết là công tác tài phán phải tiếp cận và giải quyết êm thấm được
các vụ án, vụ việc có yếu tố nước ngoài nhằm tạo dựng được hình ảnh và sự tin tưởng của cộng
đồng quốc tế khi lựa chọn tài phán tại Việt Nam thay vì việc phải lựa chọn đưa vụ việc ra tài
phán ở nước ngoài.
Với tình hình cấp bách như trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài "Án lệ trong hệ thống
các loại nguồn pháp luật" làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm góp phần làm rõ vai trò của án
lệ với tư cách là một loại nguồn quan trọng của pháp luật đồng thời đưa ra những kiến nghị và
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu về vấn đề án lệ trong mối tương quan với hệ thống
nguồn pháp luật và nghiên cứu những đặc trưng án lệ trong các hệ thống pháp luật Thông luật
(Common Law) và Dân luật (Civil Law) đồng thời, đề tài cũng cũng nghiên cứu, tổng hợp thực
tiễn sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án cũng như quan điểm đổi mới của Đảng và
Nhà nước ta về việc xây dựng và phát triển án lệ tại Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm trong cách thức xây dựng án lệ ở Việt Nam.
Để thực hiện được mục tiêu của đề tài đã đặt ra, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Làm rõ khái niệm án lệ, nguyên tắc sử dụng án lệ, mối quan hệ giữa án lệ và văn bản
pháp luật, lịch sử phát triển cũng như ý nghĩa, vai trò của việc sử dụng án lệ trong hoạt động xét
xử.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc xây dựng án lệ từ những nước đặc
trưng trong việc sử dụng án lệ như Anh, Mỹ, Úc … đến các nước có truyền thống pháp luật dân
sự như Pháp, Đức,…
- Tổng hợp thực tiễn sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án nước ta từ đó
đánh giá những ưu khuyết điểm của việc áp dụng án lệ.
- Quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển án lệ ở Việt
Nam trong giai đoạn tới.
- Chỉ ra cách thức xây dựng án lệ trong điều kiện cải cách tư pháp ở Việt Nam. Với
nhiệm vụ này đề tài sẽ chỉ ra các nguyên tắc, tiêu chí để xác định thế nào là một án lệ, ai có thẩm
quyền ban hành án lệ, lưu trữ án lệ, phổ biến án lệ… trong hoạt động xét xử của Tòa án.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về khái niệm án lệ, vị trí, vai trò và mối tương quan của án lệ
trong hệ thống nguồn pháp luật, quá trình hình thành và phát triển của án lệ cũng như thực tiễn sử
dụng án lệ của một số nước đại diện cho hệ thống Common law và Civil law. Đề tài cũng nghiên
cứu lịch sử án lệ, những biến tướng của án lệ và quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước về
xây dựng và phát triển án lệ ở Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong
việc xây dựng án lệ ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật.
3. Chính phủ (1955), Thông tư số 442/TTg ngày 19/01 của Thủ tưởng Chính phủ về việc trừng
trị một số tội phạm, Hà Nội.
4. Chính phủ (1994), Nghị định số 61/CP ngày 05/7 về mua bán và kinh doanh nhà ở, Hà Nội.
5. Chính phủ (2001), Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11 về việc người Việt Nam định cư
ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam, Hà Nội.
6. Chương trình đối tác tư pháp (2011), Kinh nghiệm quốc tế trong việc áp dụng tiền lệ và án lệ,
Hà Nội.
7. Ngô Cuờng (2012), "Bàn về cách thức xây dựng án lệ", Tòa án nhân dân, (12), tr. 1- 4.
8. Ngô Cường (2012), "Án lệ đã được sử dụng dưới triều Nguyễn", Tòa án nhân dân, (15), tr.
29-48.
9. Ngô Cường (2012), "Bàn về việc sử dụng án lệ", Tòa án nhân dân, (22), tr. 5-10.
10. Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Ngọc Ánh (2009), "Nhận thức chung về án lệ, tầm quan trọng
của án lệ trong công tác xét xử, khái quát các trường phái án lệ trên thế giới", Tòa án nhân
dân, (4), tr. 39-44.
11. Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Ngọc Ánh (2009), "Án lệ Nhật Bản và một số vấn đề đặt ra khi
đưa án lệ vào công tác xét xử tại Toà án Việt Nam", Tòa án nhân dân, (19), tr. 34-43.
12. Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật Hiến Pháp các nước Tư Bản, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
13. Nguyễn Đăng Dung (2001), Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nxb Giao
thông vận tải, Hà Nội.
14. Nguyễn Đăng Dung (2004), Hiến pháp đối chiếu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố
Hồ Chí Minh.
15. Nguyễn Đăng Dung (2004), Hình thức các nhà nước đương đại, Nhà xuất bản thế giới, Hà
Nội.
16. Nguyễn Xuân Dương (1957), “Án lệ: Vấn đề chồng liên đới trả nợ cho vợ”, Tập san Luật
học, (4), tr. 13-21.
17. Đỗ Văn Đại (2011), "Án lệ của Toà án tối cao- kinh nghiệm của Pháp đối với sự phát triển án
lệ tại Việt Nam", Tòa án nhân dân, (13), tr. 31-44.
18. Đỗ Văn Đại, Đỗ Văn Kha (2008), "Án lệ trong pháp luật thực định Việt Nam", Nghiên cứu
lập pháp, (12), tr. 39-48.
33. Lịch triều Hiến chương loại chí, Hình luật chí (1992), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
34. Montesquieu (1996), Tinh thần pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
35. Nguyễn Văn Nam (2011), "Án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự các nước Pháp, Đức và việc
sử dụng án lệ ở Việt Nam", Nghiên cứu lập pháp, (6), tr. 55-60.
36. Nguyễn Văn Nam (2011), "Lý luận về án lệ ở một số nước theo truyền thống pháp luật Cilvil
Law", Nhà nước và pháp luật, (3), tr. 3-9.
37. Nhà Pháp luật Việt - Pháp (2004), Kỷ niệm 200 năm bộ luật dân sự Pháp (1804 - 2004), Kỷ
yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội.
38. Nguyễn Ngọc Nhuận (Chủ biên) (2006), Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ
thế kỷ XV đến XVIII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
39. Đinh Văn Quế (2005), Pháp luật hình sự thực tiễn xét xử và án lệ, Nxb Lao động - Xã hội, Hà
Nội.
40. Hoàng Thị Kim Quế (2011), "Tiết kiệm pháp luật và lãng phí pháp luật", Nghiên cứu Lập
pháp, (19), tr. 16-22.
41. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
42. Quốc hội (2000), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
43. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội.
44. Quốc hội (2003), Luật Đất đai, Hà Nội.
45. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
46. Quốc hội (2008), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
47. Quốc hội (2011), Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
48. Quốc triều Hình luật (Luật hình triều Lê - Luật Hồng Đức) (2003), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
Thành phố Hồ Chí Minh.
49. Lê Minh Tâm (2003), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam những vấn đề lý
luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
50. Thái Vĩnh Thắng (2000), "Đổi mới nhận thức về hình thức pháp luật", Luật học, (1), tr. 46-
49.
51. Thái Vĩnh Thắng (2007), "Nguồn pháp luật trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ", Luật học,
(11), tr. 56-65.
52. Cao Việt Thắng (2011), "Án lệ và án mẫu - những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay",
Nội.
67. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển
bách khoa, Hà Nội.
68. Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển Pháp luật Anh - Việt, Nxb Thế giới, Hà Nội.
69. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
Tiếng Anh
70. Cross, Harris (1991), Precedent in English law, 4
th
edition, Clarenddon Law series.
71. Dictionary of Law (1993) 4th Edition, printed and published in England.
72. Evans, jim, Change In The Doctrine of Precedent During The Nineteenth Century, "Precedent
In Law", Edited by Laurence Goldstein, Clarendon Press-Oxford, 1987, page 57.
73. E. Matsumoto (2007), Stare dicisis in Civil Law Countries: the last basition, in "Themes in
Comparative Law in Honour of Bernard Rudden", Edited by Peter Birks and Ariana Pretto,
Oxford University Press.
74. D. Neil MacCornick and Robert S. Summers (1991), Interpreting Statues A Comperative
Study, Dartmouth Publishing Companny Limited.
75. Practice Statement at 1966, 3 ALL ER 77.
76. Rubert Cross, “The house of lords and Rule of Precedent”, in Law, Morality and Society
(1977), ed. P.M.S Hacker and J.Raz., p.145.
77. West Group St. Paul MN (2004), Black's Law Dictionary.
Tiếng Pháp
André Pouille, le pouvoir judiciare et les tribnaux (1984).