đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u lympho ác tính không Hodgkin (ULAKH) trẻ em điều trị tại bệnh viện k từ 6-2000 đến 6-2008 - Pdf 24


1
ĐẶT VẤN ĐỀ U lympho là thuật ngữ mô tả một nhóm các bệnh ác tính khác nhau trong
đó khởi đầu là một tế bào lympho ngoài tuỷ xương chuyển dạng và tăng sinh
không kiểm soát được, tạo thành khối u. Do hệ bạch huyết có mặt khắp nơi
trong cơ thể nên u lympho có thể bắt đầu ở bất kỳ chỗ nào và lan tràn đến hầu
hết các cơ quan.
U lympho (trong đó gồm Hodgkin và không Hodgkin) là bệnh ác tính hay
gặp nhất hàng thứ ba ở trẻ em sau bạch cầu cấp và u não, trong đó u lympho
ác tính không Hodgkin (ULAKH) chiếm khoảng 7% tất cả các ung thư trẻ em
dưới 20 tuổi [25], [36]. Ở Mỹ ước tính mỗi năm có khoảng 750-800 trẻ được
chẩn đoán ULAKH [36], [51]. Theo thống kê giai đoạn 2001-2004 về tỷ lệ
phân bố một số ung thư hay gặp thì ULAKH chiếm 11,3% ung thư trẻ em trên
Thế giới và chiếm 13,9% ung thư trẻ em ở Việt nam [9].
ULAKH trẻ em có đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, mô bệnh học và điều trị
khác với ở người lớn. Đa số bệnh nhi (BN) đến bệnh viện ở giai đoạn muộn.
ULAKH giai đoạn III và IV chiếm khoảng 60%-70% tuỳ theo các nước và
các báo cáo [6], [13], [19]. Giai đoạn muộn, mô bệnh học độ ác tính cao là hai
yếu tố tiên lượng không thuận lợi trong ULAKH trẻ em. Trên lâm sàng bệnh
được chia giai đoạn khu trú (giai đoạn I và II) và lan tràn (giai đoạn III và IV).
Trước những năm 1970, tỷ lệ chữa khỏi bằng phẫu thuật (PT) và/hoặc tia
xạ (TX) ULAKH trẻ em chỉ là 10%-20% [37], [45[, [46]. Từ những năm đầu
của 1970, sự ra đời các phác đồ hoá chất (HC) đã giúp cải thiện thời gian sống
thêm của BN rõ rệt. Có nhiều thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu kết quả điều
trị của các phác đồ kết hợp nhiều hoá chất. Hiện nay, lựa chọn phác đồ điều
trị tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh và phân nhóm mô bệnh học còn gặp nhiều
khó khăn do bệnh giai đoạn muộn, phác đồ điều trị thường mạnh, nhiều tai


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm về dịch tễ học bệnh ULAKH:
Thuật ngữ lymphosarcoma lần đầu tiên được Wirchow giới thiệu năm
1863 [23], [58]. Có nhiều ấn bản đã tách bệnh Hodgkin-một bệnh được báo
cáo lần đầu tiên năm 1832 khỏi các khối u có nguồn gốc lympho khác.
ULAKH được Sternberg mô tả về bệnh học tế bào vào đầu thế kỷ 20.
U lympho (Hodgkin và không Hodgkin) là bệnh ác tính hay gặp nhất hàng
thứ ba ở trẻ em sau bạch cầu cấp và u não, trong đó ULAKH chiếm khoảng
7% tất cả các ung thư trẻ em dưới 20 tuổi [25], [36]. Ở Mỹ ước tính mỗi năm
có khoảng 750-800 trẻ được chẩn đoán ULAKH [36], [51], đến 3/8/2008, có
khoảng 450 trường hợp ULAKH được chẩn đoán dưới 15 tuổi [19].
Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của ULAKH thay đổi từ 6,1/1.000.000 trẻ (0-15
tuổi) ở Anh và Nhật bản đến 9,1/1.000.000 theo báo cáo từ Ibadan, Nigeria
[21], [27]. Tỷ lệ phân bố ULAKH trong tổng số ung thư trẻ em tăng lên từ 3%
đối với trẻ dưới 5 tuổi đến 8-9% đối với trẻ 10-14 tuổi [27]. Tỷ lệ mắc bệnh
tăng lên rất nhanh sau 3 tuổi, ước tính khoảng 10/1.000.000 trẻ ở độ tuổi
quanh 4 tuổi. Trung bình hay gặp 9 tuổi, đỉnh cao nhất khoảng 7-10 tuổi [27],
[58]. ULAKH gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái. Tính trội nam thấy ở tất cả các
nhóm tuổi. Trong mỗi nhóm tuổi và mỗi thể mô bệnh học, tỷ lệ nam:nữ khác
nhau nhưng nhìn chung khoảng 3:1 [1], [6], [13]. Theo Murphy SB và cs
nghiên cứu 338 trường hợp ULAKH 71% là nam, tuổi nhỏ nhất là 7 tháng,
trung bình là 10 tuổi [55]. Theo Baruchel, lứa tuổi hay gặp nhất từ 7-9 tuổi,
hiếm gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 2/1 hoặc 3/1 [13]. Theo Alfred
Reiter, Martin Schrappe nghiên cứu 413 trường hợp có tuổi mắc bệnh trung
bình là 9, tỷ lệ nam/nữ là 3,49 [20]. Ở Việt nam, theo ghi nhận những bệnh
ung thư phổ biến nhất của trẻ em tại 5 tỉnh thành giai đoạn 2001-2004,

4
ULAKH đứng hàng thứ hai ở Hà nội (15%), Hải phòng (15,4%), Thái nguyên

ULAKH trẻ em, chiếm 15-45% [40]. Tỷ lệ nam/nữ là 3/1 nhưng đã có báo
cáo tỷ lệ đó là 8,5/1. Độ tuổi hay gặp nhất là gần 10 tuổi [40], [54]. Hơn 75%
trường hợp ULAKH nguyên phát trung thất có thể mô bệnh học là nguyên
bào lympho, thường có nguồn gốc tế bào T [5], [ 24]. Theo Magrath IT,
Sandlund JT, Baruchel A, u trung thất gặp 26-30% trường hợp ULAKH trẻ
em [13]. Tỷ lệ tổn thương ở trung thất theo Cairo và cs chiếm 30% [26], theo
Trần Chánh Khương 30% [16], [17], theo Nguyễn Thị Mai Hương 23,68%
[13]. Trong ULAKH trẻ em, tổn thương trung thất có tỷ lệ thâm nhiễm não
trung bình 36% [ 35], [40], [63]. ULAKH biểu hiện ở trung thất không bao
giờ được xem là bệnh khu trú. Khối u tác động tại chỗ có thể gây hội chứng
tĩnh mạch chủ trên bao gồm chèn ép cấu trúc trung thất trên, làm tổn thương
đường thở, đây là tình trạng cấp cứu lâm sàng. Các triệu chứng như xung
huyết tĩnh mạch, thiếu oxy máu, phù ở vùng chèn ép tĩnh mạch chủ trên, thở
rít, khó thở, ho, đau ngực, sốt. Tắc hoàn toàn đường thở có thể gây tử vong
đột ngột. Trong một nghiên cứu 124 trẻ em bị ULAKH, 6% có hội chứng tĩnh
mạch chủ trên [19]. Tỷ lệ thâm nhiễm tuỷ trong ULAKH biểu hiện ở trung
thất rất cao, 49/68 (70%) trường hợp có tế bào ác tính trong tuỷ >20% [63],
[64].
Tổn thương nguyên phát ở đầu cổ chiếm 5-10% [19] , [70]. Vị trí nguyên
phát bao gồm vòng Waldeyer, các xoang, xương hàm trên, ổ mắt, tuyến nước
bọt, tuyến giáp và da đầu. Nhóm này có nguy cơ cao xâm lấn hệ TKTW, đặc
biệt khi tổn thương ở gần màng não. Mô bệnh học rất phong phú bao gồm các
trường hợp u lympho Burkitt, nhưng hay gặp thể nguyên bào lympho hơn
[64], [70].

6
Tổn thương nguyên phát ở hạch ngoại vi (>25%) ít gặp hơn so với
ULAKH ở người lớn [54], [74]. Hạch cổ hay gặp nhất nhưng cũng có thể gặp
ở bất kỳ vị trí hạch nào.
Vị trí tổn thương nguyên phát khác như da, xương, tinh hoàn, hệ thần kinh

sử rõ ràng là ULAKH thì tỷ lệ lymphoblast trong tuỷ dù rất cao vẫn phải coi
đấy là ULAKH thâm nhiễm tuỷ [38]. Điều trị cho những BN này bằng phác
đồ cho ULAKH tiến triển hay như bệnh bạch cầu lympho cấp vẫn còn cần có
nhiều thử nghiệm lâm sàng tiến cứu thêm. Theo Ob Eden, điều này không
phải có ý nghĩa trong tất cả các trường hợp. Trong ULAKH tế bào B, không
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả điều trị của giai đoạn III với
giai đoạn IV với tỷ lệ lymphoblast trong tuỷ > 70% [54]. Ngày nay, các nhà
ung thư học có khuynh hướng coi là ULAKH thâm nhiễm tuỷ khi cứ có > 5%
lymphoblast trong tuỷ xương và/hoặc có lymphoblast ra máu ngoại vi [19].
ULAKH trẻ em khác với người lớn. Đa số trẻ đến bệnh viện ở giai đoạn
lan tràn do bệnh tiến triển nhanh. Theo Murphy SB, hồi cứu 338 trường hợp
NHL trẻ em thấy 18% giai đoạn I, 21% giai đoạn II, 43% giai đoạn III và
18% giai đoạn IV [51]. Theo Patte C và cs ở Pháp 40% giai đoạn III, 19% giai
đoạn IV còn 41% giai đoạn I và II [58]. Theo Friedberg JW ở Mỹ 50% giai
đoạn III, 25% giai đoạn IV, còn 25% giai đoạn I và II [30]. Ở Việt nam, theo
Trần Chánh Khương, 35% giai đoạn III, 30% giai đoạn IV, 15% giai đoạn I
và II [17]. Theo Nguyễn Thị Mai Hương, 60,53% giai đoạn III, 15,79% giai
đoạn IV, 23,68% giai đoạn II, không có BN nào giai đoạn I khi nghiên cứu 38
trường hợp ULAKH trẻ em [13].
1.4 Đặc điểm mô bệnh học [4], [5]:
Từ trước tới nay đã có nhiều phân loại mô bệnh học dùng cho trẻ em.

8
- Phân loại của Rappaport (1966) dựa vào 3 tiêu chí là thể mô bệnh học, nhóm
tế bào, độ biệt hoá. Cải biên của phân loại này là thêm vào chia các u lympho
thành thể cục và thể lan toả, có ý nghĩa tiên lượng vì các biến thể cục có tiên
lượng tốt hơn thể lan toả. Phân loại này được sử dụng rộng rãi ở Mỹ do tính
tiện lợi, đơn giản, đáng tin cậy.
- Phân loại của Lennert (1974) chia các u lympho thành độ ác tính thấp và
cao. Việc chia độ này dựa trên loại tế bào. Loại ác tính thấp bao gồm các loại

MALT-oma

- Bảng phân loại của Revised European American Lymphoma Clasification
1994 (REAL) dựa trên hình thái học, miễn dịch, di truyền tế bào và sinh học
phân tử để xác định các týp u. Họ cho rằng sự thừa nhận các týp sinh học sẽ
làm phát triển chiến lược điều trị bệnh. Ví dụ sử dụng miễn dịch điều trị
(dùng kháng thể) đối với những u có biểu lộ kháng nguyên như Interleukin 2,
CD 30, và các Ig bất thường. Bảng này chia các ULAKH thành nhiều loại u
theo nguồn gốc tế bào thuộc dòng B hay dòng T, có đối chiếu với bảng Công
thức thực hành (WF).
- Phân loại của Tổ chức y tế Thế giới (2001): Bao hàm hình thái học,
phenotýp miễn dịch, những biến đổi di truyền và và các đặc điểm lâm sàng.
Đây là hệ thống phân loại chi tiết nhất, có ý nghĩa thực tiễn và dễ thực hiện.
Dựa vào sự bộc lộ các dấu ấn miễn dịch (Cluster of Differention). Tuy nhiên
mới chỉ bắt đầu thực hiện ở Bệnh viện K trong 2-3 năm gần đây và chưa rộng
rãi do chi phí tốn kém.
Hiện nay ở Việt nam, các trung tâm điều trị ung thư nói chung và ung thư
trẻ em nói riêng vẫn áp dụng cách phân loại mô bệnh học theo Công thức thực
hành dùng cho lâm sàng do dễ áp dụng, chi phí thấp.

10
Mô bệnh học ULAKH ở trẻ em chủ yếu là độ ác tính cao (90%), còn lại là
độ ác tính thấp. Nhóm độ ác tính cao hay gặp thể lan toả tế bào lớn 25%, thể
nguyên bào lympho 30%, thể tế bào nhỏ nhân không khía 40-50% và thể tế
bào lớn thoái sản [23], [ 38] , [51]. Theo Murphy SB, nghiên cứu 338 trường
hợp thấy theo WF thì thể lan toả tế bào lớn chủ yếu là nguyên bào miễn dịch
chiếm 26,3%, thể nguyên bào lympho 28,1%, thể lan toả tế bào nhỏ nhân
không khía (không biệt hoá, Burkitt hoặc không Burkitt) 38,8%, chỉ có 6,8%
là các thể khác [51]. Một số nghiên cứu mối liên quan giữa thể mô bệnh học
với tuổi cho thấy các khối u Burkitt và giống Burkitt trội lên ở lứa tuổi 5-14

Crist và cs (1999) B 45
T 51
Không B, không T 14

Ở Việt nam, có một số báo cáo về phân nhóm nguồn gốc tế bào trong
ULAKH ở người lớn nhưng chưa có báo cáo đầy đủ về vấn đề này trong
ULAKH trẻ em, chỉ có một vài báo cáo nhỏ về các khía cạnh khác của bệnh
trong đó các tác giả đề cập đến một phân nhóm nguồn gốc tế bào. Theo
Nguyễn Thị Mai Hương, gặp 10/11 trường hợp ULAKH tế bào T và B [13].
1.6 Chẩn đoán xác định ULAKH trẻ em: Chẩn đoán xác định dựa vào có u
hạch và bằng chứng mô bệnh học qua sinh thiết. Đôi khi u hạch ở những vị trí
khó tiếp cận như trong trung thất, thường lấy bệnh phẩm u hạch trung thất
dưới giúp đỡ của gây mê. Tuy nhiên với những trường hợp có tổn thương u
hạch trung thất thường bệnh ở giai đoạn lan tràn nên có thể lấy bệnh phẩm nơi
khác như hạch thượng đòn, tuỷ xương, dịch màng phổi để chẩn đoán xác định
mô bệnh học.
1.6.1Triệu chứng lâm sàng:

12
Khác với ở người lớn, ULAKH trẻ em thường tiến triển nhanh. Tổn
thương ngoài hạch chiếm tỷ lệ cao hơn tổn thương tại hạch. Trẻ có thể xuất
hiện u hạch ngoại vi mà cha mẹ tự thấy. Hạch to nhanh, cứng chắc, hạn chế di
động do dính vào tổ chức xung quanh. U hạch thường không gây đau, có khi
nhiều hạch dính nhau thành khối làm hạn chế di động. Khi bệnh biểu hiện ở
trung thất có thể gây khó thở, đau ngực, hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ
trên. Tổn thương ngoài hạch như sưng đau amidal, ở hốc mắt gây lồi mắt, tổn
thường ở vòm họng gây các triệu chứng như một ung thư biểu mô vòm họng.
Tổn thương u hạch ổ bụng gây đau bụng, có khi đến bệnh viện với một cấp
cứu tắc ruột. Trường hợp ít gặp khác với tổn thương cạnh cột sống chèn ép
ống sống gây liệt chi dưới, rối loạn cơ tròn. U trong xoang sọ chèn ép gây

Nhuộm hóa mô miễn dịch được thực hiện trên các lát cắt mô vùi nến bằng kỹ
thuật Biotin-Avidin Complex. Các bước nhuộm tiến hành theo phương pháp
chuẩn mô tả bởi nhà sản xuất DAKO. Kết quả được bác sỹ giải phẫu bệnh
đánh giá trên kính hiển vi quang học dựa vào sự dương tính với các dấu ấn
(CD).
- Tìm tế bào ác tính trong bệnh phẩm từ dịch ly tâm: Dịch màng phổi, màng
bụng, dịch não tuỷ
1.6.1.2 Các xét nghiệm đánh giá giai đoạn bệnh, tiên lượng và đánh giá
bilan trước điều trị:
- Huyết đồ: Đánh giá số lượng các tế bào máu ngoại vi, tìm tế bào ác tính
(lymphoblast).
- Tuỷ đồ: Đánh giá tình trạng phát triển của tuỷ xương, sự xâm lấn của tế bào
ung thư trong tuỷ.
- Chất chỉ điểm u trong huyết thanh trước điều trị:
+ Lactat Dehydrogenase (LDH): Giá trị bình thường 207-414 U/L.

14
+ β2- microglobulin: Giá trị bình thường ≤ 2 mg/L.
- Các chỉ số sinh hóa chức năng gan thận trước điều trị:
+ Ure: Giá trị bình thường 2,8-7,0 mmol/L.
+ Creatinine: Giá trị bình thường 70-100 µmol/L.
+ Transaminase (SGOT, SGPT): Giá trị bình thương 5-40 U/L.
- Định lượng acid uric huyết thanh nhằm phát hiện và phòng ngừa hội chứng
tan huỷ u trước, trong điều trị, nhất là những trẻ có khối u kích thước lớn và
thể mô bệnh học Burkitt.
- Chụp X quang lồng ngực thẳng, nghiêng, cắt lớp lồng ngực phát hiện u hạch
trung thất, tình trạng xâm lấn, hạch rốn phổi, tràn dịch màng phổi, màng tim
- Siêu âm ổ bụng, tiểu khung phát hiện u hạch, gan lách hạch to và các tổn
thương khác, chụp bụng không chuẩn bị khi nghi ngờ tắc ruột.
- Chụp cộng hưởng từ cột sống phát hiện u ngoài màng cứng, những khối u

gốc.
- Đa hoá trị liệu tốt hơn đơn hoá trị liệu. Xu hướng ngày càng lựa chọn phác
đồ nhiều thuốc, liều cao, kết hợp truyền tế bào nguồn.
1.7.2 Vai trò của các phương pháp điều trị:
1.7.2.1 Vai trò của PT:
- PT sinh thiết chẩn đoán.
- PT cấp cứu như tắc ruột do khối u trong ống tiêu hoá, u hạch ổ bụng to chèn
ép, u tắc nghẽn đường thở do khối u vùng mũi hầu, trung thất.
- PT đặt buồng tiêm truyền dưới da: nên áp dụng rộng rãi vì quá trình điều trị
cho trẻ phải tiêm truyền nhiều.
1.7.2.2 Vai trò của TX:
- TX có vai trò đặc biệt quan trọng trong những trường hợp bị liệt hai chi
dưới, rối loạn cơ tròn do u cạnh cột sống, ngoài màng cứng.
- TX sọ não dự phòng thâm nhiễm TKTW: Ngày nay hạn chế do những độc
tính với sự phát triển và thần kinh trên trẻ em và người trẻ. Liều 18-24Gy.

16
- Ngoài HC, TX vào những vùng có tổn thương lớn có vai trò giảm nguy cơ
tái phát tại chỗ.
Do sự phát triển mạnh mẽ của HC, ngày nay PT và TX có vai trò hạn chế
trong điều trị ULAKH.
1.7.2.3 Vai trò của HC:
Trước những năm 1970, khi chưa có các phác đồ đa HC điều trị ULAKH
trẻ em tất cả các giai đoạn thì chỉ có < 20% được chữa khỏi bằng PT và /hoặc
TX [22]. Wollner từ Trung tâm ung bướu Memorial-Kettering là người đã bắt
đầu một thời kỳ mới với các phác đồ gồm nhiều HC. Phác đồ LSA2L2 được
xây dựng năm 1971 và đã có nhiều báo cáo về thành công của phác đồ này.
Tỷ lệ thoái lui ở 40/43 BN, tỷ lệ sống thêm 73% [54]. Sau đó người ta áp
dụng phác đồ này cho tất cả BN trẻ em chẩn đoán ULAKH không cần xem
xét tỷ lệ tế bào non trong tuỷ xương và trong máu ngoại vi [54].

sống thêm trung bình chỉ là 7 tháng, độc tính rất đáng kể [72].
Theo WS Velasquez và cs (1994) nghiên cứu điều trị phác đồ ESHAP cho
122 BN ULAKH tái phát hoặc dai dẳng, ĐƯHT đạt 37%, thời gian sống thêm
toàn bộ trung bình 14 tháng, độc tính chủ yếu là suy tuỷ với số lượng BCTT
trung bình 500/microL và TC trung bình 70.000/microL [75].
Theo Wei-Shu Wang và cs nghiên cứu 32 BN từ 10/1995 đến 9/1997 được
chẩn đoán ULAKH tiến triển, tái phát hoặc dai dẳng với điều trị kinh điển thì
đạt ĐƯHT khi điều trị phác đồ ESHAP là 31,3%, thời gian duy trì ĐƯHT
trung bình 12,2 tháng. Thời gian sống thêm trung bình cho tất cả các BN là
8,6 tháng. Độc tính liên quan đến phác đồ là suy tuỷ gặp ở tất cả các BN [72].

18
Theo nghiên cứu của Choi CW và cs (2002) trên 40 BN dược điều trị phác
đồ ESHAP, ĐƯHT đạt 22,5%, thời gian sống thêm trung bình 12 tháng. Suy
tuỷ là biến chứng hay gặp nhất [28].
Oztürk nghiên cứu 32 BN (2002) điều trị bằng phác đồ ESHAP áp dụng từ
1993 tại khoa Ung bướu nội khoa trường Đại học Hacettepe của Thổ Nhĩ Kỳ,
ĐƯHT đạt 28%, thời gian duy trì sự thái lui trung bình là 6 tháng, độc tính
suy tuỷ có ý nghĩa với tỷ lệ tử vong liên quan đến điều trị là 9% [55].
Theo Park SH và cs (2006) nghiên cứu trên 22 BN điều trị bằng phác đồ
ESHAP, ĐƯHT đạt 27,3%. Suy tuỷ là độc tính chủ yếu [56].
Ở Việt nam, không có nghiên cứu nào về kết quả điều trị và độc tính của
phác đồ ESHAP trong điều trị ULAKH.
- Phác đồ Non-Hodgkin’s Lymphoma – Berlin-Frankfurt-Münster 90 (NHL-
BFM 90): Kéo dài khoảng 2,5 năm. Gồm 11 thuốc, tiêm hoá chất nội tuỷ 5-7
lần trong pha tấn công, tổng cộng tiêm hoá chất nội tuỷ 11-13 lần. Đây là
phác đồ áp dụng nhiều từ đầu những năm 1980, do hợp tác nghiên cứu nhiều
trung tâm, viện, bệnh viện của Đức, qua nhiều thử nghiệm cho thấy là phác đồ
hiệu quả điều trị ULAKH giai đoạn lan tràn, mô bệnh học ác tính cao [62],
[66], [68], [69]. Hiện nay, phác đồ này cho tỷ lệ sống thêm không bệnh 5 năm


20
CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 86 BN trẻ em được chẩn đoán ULAKH tại bệnh
viện K từ 6/2000 đến 6/2008.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Tuổi ≤ 16 tuổi.
- Chẩn đoán xác định ULAKH bằng mô bệnh học.
- Có đầy đủ hồ sơ bệnh án.
- Không có bệnh ung thư khác đồng thời.
- Chưa từng được điều trị hoá chất trước đó.
- Chọn bệnh nhân được điều trị phác đồ ESHAP hoặc NHL-BFM 90 cho giai
đoạn III, IV.
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không thuộc các tiêu chuẩn trên.
- Giải phẫu bệnh nghi ngờ, không rõ ràng.
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Loại hình nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có theo dõi dọc, hồi cứu kết
hợp tiến cứu.
2.2.2 Tính cỡ mẫu:
Theo công thức:

- Gọi điện thoại.
2.2.4 Các thông tin cần thu thập:
2.2.4.1 Đặc điểm BN và lâm sàng:
- Tuổi, giới, phân bố BN theo nhóm 1-4 tuổi, 5-8 tuổi, 9-12 tuổi, 13-16 tuổi.
- Tỷ lệ các lý do vào viện: Lý do thường gặp nhất? ít gặp nhất?
- Thời gian bị bệnh bao lâu trước khi nhập viện: Ngắn nhất, dài nhất, trung
bình kể từ khi có triệu chứng đầu tiên đến khi nhập viện.
- Vị trí tổn thương: Phân bố tổn thương tại hạch, ngoài hạch, tỷ lệ tổn thương
gặp nhiều nhất?
- Tỷ lệ các biểu hiện toàn thân: Tỷ lệ thiếu máu, gầy sút, sốt. Liên quan các
biểu hiện toàn thân với giai đoạn bệnh.
- Xếp giai đoạn bệnh theo Bệnh viện nghiên cứu trẻ em St Jude: Giai đoạn I,
II, III, IV.
Bảng 2.1 Phân loại giai đoạn bệnh ULAKH trẻ em theo St Jude
Giai đoạn I Một u (ngoài hạch) hay một vùng hạch ngoại trừ trung thất
hay ổ bụng.
Giai đoạn II Một u (ngoài hạch) kèm xâm lấn hạch vùng. Khối u nguyên
phát ở dạ dày ruột có hoặc không xâm lấn hạch mạc treo.
Trên cùng một phía cơ hoành:
-Hai hoặc hơn hai vùng hạch.

22
-Hai khối u riêng biệt (ngoài hạch) có hoặc không xâm lấn
hạch vùng.
Giai đoạn
III
- Ở hai phía cơ hoành: Hai khối u riêng biệt (ngoài hạch), hai
hoặc hơn hai vùng hạch.
- Tất cả các khối u nguyên phát trong lồng ngực (trung thất,
màng phổi, tuyến ức); tất cả các tổn thương nguyên phát lan

+ Nồng độ LDH điều trị: Bình thường? tăng vừa?, tăng cao?.
Bình thường 207-414 U/L.
Tăng vừa: gấp đôi đến dưới gấp 3 lần mức bình thường.
Tăng cao: Gấp 3 lần bình thường trở lên.

23
+ β2- microglobulin: Bình thường? tăng vừa? tăng cao?
Bình thường ≤ 2 mg/L.
Tăng vừa: gấp 2 đến dưới 3 lần bình thường.
Tăng cao: gấp 3 lần bình thường trở lên.
- Các chỉ số sinh hóa chức năng gan thận trước điều trị:
+ Ure: Bình thường? tăng vừa? tăng cao?
Bình thường (2,8-7,0 mmol/L).
Tăng vừa: Gấp 2 đến dưới 3 lần bình thường.
Tăng cao: Trên 3 lần bình thường.
+ Creatinine: Bình thường? tăng vừa? tăng cao?
Bình thường 70-100
µmol/L.
Tăng vừa: Gấp từ 2 đến dưới 3 lần bình thường.
Tăng cao: Trên 3 lần bình thường.
+ Transaminase (SGOT, SGPT): Bình thường? tăng vừa? tăng cao?
Bình thường 5-40 U/L.
Tăng vừa: Gấp 2 đến dưới 3 lần bình thường.
Tăng cao: Trên 3 lần bình thường.
- Xét nghiệm transaminase, ure, creatinine huyết thanh sau mỗi đợt điều trị.
- Xét nghiệm dịch não tuỷ: Mầu sắc, nồng độ glucose, số lượng, hình thái tế
bào.
- X quang tim phổi, CT scans lồng ngực: Có u hạch trung thất, hạch rốn phổi,
u phổi, tràn dịch màng phổi, màng ngoài tim, viêm phế quản phổi, tổn thương
xương sườn, xương ức

Vincristin 1,5 mg/m2 (max 2 mg) TM ngày 8, 15, 22, 29.
Doxorubicin 30 mg/m2 TM ngày 8, 15, 22, 29.
L’asparaginase 10.000IU/m2TM ngày 8, 11, 15, 18.
Cyclophosphamide 1000 mg/m2 TM ngày 36 (với mesna)

25
Cytarabine 75 mg/m2 TM ngày 38-41, 45-48
Mercaptopurin 60 mg/m2 uống ngày 36-63.
Methotrexate 12 mg tiêm nội tuỷ ngày 38, 45.
Duy trì (tuần 30-104)
Mercaptopurin 60 mg/m2 uống hàng ngày.
Methotrexate 20 mg uống hàng tuần.
- Ghi nhận thông tin về đáp ứng điều trị, độc tính liên quan đến phác đồ của
30 BN điều trị bằng phác đồ ESHAP (hồi cứu)
Phác đồ ESHAP bao gồm 4 thuốc, không có bơm hoá chất nội tuỷ dự phòng
hệ TKTW. Cách thức sử dụng như sau:
Etoposide 60 mg/m2 TM ngày 1-4.
MethylPrednisolon 500 mg/m
2
TM ngày 1-4.
Cytarabine 2000 mg/m2 TM ngày 5.
Cisplatin 25 mg/m2 TM ngày 1-4.
Chu k ỳ 3 tuần x 6 đợt.
2.2.4.4 Đánh giá đáp ứng: Dựa vào đáp ứng cả về lâm sàng và xét nghiệm
* Đáp ứng lâm sàng: Theo WHO 2000.
- Đáp ứng hoàn toàn (ĐƯHT): Khối u và hạch tan hoàn toàn ít nhất kéo dài
trong 4 tuần, không xuất hiện thêm tổn thương mới.
- Đáp ứng một phần (ĐƯMP): Giảm ≥ 50% kích thước lớn nhất của tất cả các
tổn thương và không xuất hiện thêm tổn thương mới ít nhất trong 4 tuần.
- Bệnh không thay đổi: Kích thước của các tổn thương giảm đi < 50% hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status