Chính sách Bảo hiểm y tế đối với người nghèo
tại xã Đồng Lạc – Chí Linh – Hải Dương
HOÀNG THỊ HẢI YẾN
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ. Công tác xã hội: 60 90 01 01
Nghd: PGS. TS. Trần Thu Hương
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Công tác xã hội; Chính sách xã hội; Bảo vệ y tế; Người nghèo; Hải Dương
Contents:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề Chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho người nghèo nhằm đảm bảo công bằng trong tiếp
cận và sử dụng các dịch vụ y tế luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chú trọng. Xác định
được tầm quan trọng của vấn đề trên, nhiều chính sách y tế đã được ban hành và có hiệu lực triển
khai trong thực tiễn, qua đó góp phần đảm bảo quyền lợi cho người dân trong CSSK, Khám chữa
bệnh (KCB), trong đó có chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) với đối tượng người nghèo.
Chính sách BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực CSSK do Nhà
nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo
hiểm y tế số 25/2008/QH12 [19]. Kể từ khi Luật BHYT có hiệu lực thi hành đã đánh dấu bước
phát triển mới trong công tác CSSK và KCB cho người dân, đặc biệt là với đối tượng người
nghèo. Mục tiêu chính của chính sách BHYT là hướng đến bao phủ toàn dân, đảm bảo việc
CSSK và tiếp cận các dịch vụ y tế công bằng, bình đẳng đối với các nhóm đối tượng khác nhau
trong xã hội.
Thực hiện đúng những chủ trương, đường lối của Đảng trong công tác CSSK, KCB cho
người nghèo nhằm đảm bảo: “Thực hiện công bằng xã hội trong CSSK, có chính sách trợ cấp và
BHYT cho người nghèo tiến tới BHYT toàn dân…” [14] xã Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương đã
góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ và tăng cường sức khỏe của người nghèo tại địa phương.
Nhiều hộ nghèo tại Đồng Lạc đã được cấp thẻ BHYT miễn phí, được hỗ trợ trong vấn đề ăn ở, đi
có 15 nước lựa chọn cơ chế tài chính y tế dựa trên BHYT xã hội, trong đó có 4 quốc gia đã có bề
dày nổi bật về công cuộc triển khai và thực hiện chính sách BHYT, bao gồm: Nước Đức và Pháp
ở Châu Âu; Nước Nhật Bản và Hàn Quốc ở Châu Á [29].
2.1.1. Mô hình BHYT tại Đức
Diện bao phủ của BHYT: Trước hết, người lao động có thu nhập dưới một mức nhất định
(năm 2006 là 47.250 euro/năm cho khu vực Tây Đức và 42.740 euro/năm cho khu vực Đông Đức)
[28] là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Nếu người dân có thu nhập cao hơn quy định nói trên, họ
có thể tiếp tục tham gia BHYT nhưng không bắt buộc hoặc lựa chọn tham gia tự nguyện các chương
trình BHYT thương mại. Từ ngày 01/01/2009, Luật BHYT tại Đức thực hiện chế độ bao phủ toàn
dân.
Nguồn tài chính BHYT: Qũy BHYT tại Đức có hai nguồn thu chính: tiền đóng BHYT của
người lao động và chủ sử dụng lao động tính theo thu nhập và tiền hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Từ ngày 01/01/2009, khi Luật BHYT thực hiện chế độ bao phủ toàn dân, chính phủ Đức quy
định một mức phí chung cho tất cả các quỹ BHYT, nguồn thu được tập trung vào nguồn quỹ
quốc gia và phân bổ về cho các quỹ BHYT tính theo đầu thẻ bằng một công thức (có tính tới
tuổi, giới tính và 80 bệnh mãn tính hoặc bệnh chi phí lớn).
Quyền lợi khi tham gia BHYT: Gói quyền lợi của người có chế độ BHYT bắt buộc theo
luật định tại Đức rất toàn diện, bao gồm các quyền lợi về y tế (dịch vụ y tế dự phòng, điều trị nội
trú và điều trị ngoại trú), một phần phụ cấp nghỉ ốm, nghỉ sinh và phụ cấp nuôi con.
Mức chi trả: Để đảm bảo số tiền cùng chi trả của người bệnh không tạo ra gánh nặng tài
chính cho họ, Luật BHYT tại Đức quy định tổng số tiền cùng chi trả không vượt quá ngưỡng tối đa
(theo quy định hiện hành, ngưỡng cùng chi trả chi phí KCB của người có BHYT tối đa bằng 2% thu
nhập cá nhân trước thuế), đồng thời miễn cùng chi trả cho một số nhóm đối tượng, cụ thể: Những
người cần chăm sóc ở cấp độ II và III; Người mất sức lao động từ 60% trở lên; Người mắc một số
bệnh mãn tính cần điều trị lâu dài và thân nhân của người có bệnh mãn tính; Bệnh nhân dưới 18 tuổi
được miễn cùng chi trả, trừ trường hợp chi phí chữa răng và chi phí vận chuyển [28].
Phương thức thanh toán: Khu vực ngoại trú, các bác sỹ được chi trả bằng phương pháp
kết hợp giữa phí dịch vụ và chu kì thời gian. Còn khối các bệnh viện thanh toán chi phí điều trị
với cơ quan BHYT dựa trên nhóm chẩn đoán.
thanh toán theo nhóm chẩn đoán[28].
Có thể thấy, tại Pháp vấn đề CSSK và KCB cho người dân được chính phủ đặc biệt quan
tâm. Qua các năm triển khai thực hiện, BHYT ở Pháp đã dần mở rộng các chế độ bao phủ,
hướng đến các nhóm đối tượng có nguy cơ rủi ro cao để bảo vệ sức khỏe cho họ, để tạo điều kiện
để họ được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế. Qua đây chúng ta có thể thấy được phần nào sự
hiện diện của CTXH trong việc hỗ trợ các nhóm đối tượng yếu thế trong vấn đề CSSK, KCB.
Khi Luật BHYT bao phủ toàn dân có hiệu lực tại Pháp, theo đó đối tượng người nghèo
được quỹ BHYT chi trả miễn phí các chế độ KCB. Và để hỗ trợ cho người nghèo, Chính phủ đã
huy động từ thuế thu nhập doanh nghiệp kinh doanh thuốc lá và thuế thu nhập doanh nghiệp của
các quỹ BHYT thương mại. Điều này đã góp phần quan trọng trong việc giảm gánh nặng tài
chính y tế cho người nghèo để họ có thể được tiếp cận các dịch vụ y tế tốt hơn, đầy đủ và công
bằng hơn. Mặt khác, với các nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp để bổ sung cho quỹ người
nghèo, đây chính là hình thức liên kết, huy động nguồn lực quan trọng trong CTXH để giúp cho
đối tượng người nghèo giải quyết vấn đề tài chính của mình.
2.1.3. Mô hình BHYT tại Nhật Bản
Diện bao phủ: Với mục đích BHYT toàn dân, tất cả công dân Nhật đều là đối tượng tham
gia BHYT bắt buộc. Người lao động hưởng lương tham gia BHYT bắt buộc tại các quỹ BHYT
được tổ chức tại các doanh nghiệp (BHYT doanh nghiệp). Những người không phải là người lao
động hưởng lương trong các doanh nghiệp bắt buộc phải tham gia BHYT tại các quỹ BHYT trên
địa bàn cư trú (BHYT quốc gia). Tới năm 2000, một chương trình BHYT chăm sóc dài hạn được
triển khai, nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc điều dưỡng tại nhà cho những người trên 65 tuổi
hoặc những người từ 40 đến dưới 65 tuổi nhưng mắc bệnh mãn tính.
Nguồn tài chính của Qũy BHYT: Quỹ BHYT tại Nhật có nguồn thu tài chính chủ yếu từ
đóng góp theo tiền lương của người lao động và chủ sử dụng lao động. Ngân sách Nhà nước là
nguồn tài chính quan trọng cho các quỹ BHYT bao gồm: quỹ BHYT doanh nghiệp, quỹ BHYT
quốc gia, quỹ BHYT cho người cao tuổi.
Quyền lợi: Quyền lợi giữa các quỹ BHYT có khác nhau ở mức cùng chi trả. Tham gia
quỹ BHYT doanh nghiệp, người đóng phí BHYT phải cùng chi trả 10% chi phí. Thân nhân phụ
thuộc cùng chi trả mức cao hơn: 20% chi phí điều trị nội trú và 30% chi phí điều trị ngoại trú.
Đối với người cao tuổi mức cùng chi trả là 500 yên/ngày, không quá 2.000yên/tháng đối với
2.1.4. Mô hình BHYT tại Hàn Quốc
Diện bao phủ: Toàn bộ người dân Hàn Quốc là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Từ
năm 2004, người mắc bệnh mãn tính, bệnh hiểm nghèo, trẻ em và thanh niên dưới 18 tuổi cũng
được hưởng chế độ KCB miễn phí theo qui định của Luật hỗ trợ y tế… Mặt khác, để giải quyết
khó khăn về tài chính cho CSSK người cao tuổi, từ năm 2008, chính phủ Hàn Quốc cho triển
khai chương trình chăm sóc dài hạn [29].
Nguồn tài chính BHYT: Nguồn tài chính cho quỹ BHYT Hàn Quốc bao gồm tiền đóng
phí BHYT, nguồn hỗ trợ của ngân sách nhà nước và thuế thuốc lá. Theo quy định hiện hành,
ngân sách nhà nước cấp cho quỹ BHYT hàng năm một khoản tiền bằng 14% kế hoạch thu
BHYT. Nguồn từ thuế thuốc lá bổ sung cho quỹ BHYT hàng năm khoảng 6% tổng thu [29].
Quyền lợi: Người tham gia BHYT tại Hàn Quốc được hưởng quyền lợi khi KCB nội trú,
ngoại trú, CSSK định kỳ, được bồi hoàn chi phí khi số tiền cùng trả cho các dịch vụ y tế vượt
ngưỡng tối đa, được chi trả cho các dụng cụ hỗ trợ khi bị tàn tật và gia đình được trả tiền mai
táng phí. Theo qui định hiện hành, người bệnh BHYT cùng chi trả một tỷ lệ chi phí tùy thuộc
vào tuyến kỹ thuật. Nếu số tiền chi trả vượt quá 3 triệu won trong vòng 6 tháng liên tục thì mọi
chi phí y tế tiếp theo sẽ do quỹ BHYT thanh toán 100% [29]. Sau đó, luật BHYT tại Hàn Quốc
đã tiến hành sửa đổi, mở rộng quyền lợi và giảm bớt tỷ lệ cùng chi trả. Qui định mới cũng cho
phép quỹ BHYT bồi hoàn cho người bệnh 50% chi phí cùng chi trả, nếu trong thời gian một
tháng số tiền cùng chi trả vượt quá 1,2 triệu won.
Phương thức thanh toán: BHYT Hàn Quốc đã thực hiện phương thức chi trả theo phí
dịch vụ trong một thời gian dài. Tuy nhiên với hình thức thanh toán này đã đẩy chi phí y tế tăng
nhanh, mặt khác làm gia tăng tình trạng lạm dụng y tế. Chính vì vậy, chính phủ Hàn Quốc đang
cố gắng triển khai các phương thức thanh toán khác thay thế phương pháp thanh toán theo dịch
vụ.
Như vậy, việc mở rộng nhóm đối tượng thuộc diện bao phủ của BHYT từ chỗ chỉ có
người lao động trong các doanh nghiệp tham gia, sau đó là lao động tự do ở nông thôn, nông dân
và lao động tự do ở thành thị - nhóm đối tượng dễ có nguy cơ lần lượt nằm trong diện bao phủ
của BHYT toàn dân tại Hàn Quốc đã cho thấy sự quan tâm của chính phủ trong việc CSSK nhân
dân, đặc biệt là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
Mặt khác, ngay từ năm 1977, khi Luật hỗ trợ y tế tại Hàn Quốc ra đời, nhóm đối tượng
đóng góp một phần chi phí có giới hạn và miễn trừ cùng chi trả một số nhóm đối tượng (người
nghèo, trẻ em, ngời mắc bệnh mãn tính…). Bên cạnh đó, số tiền cùng chi trả không vượt quá một
ngưỡng nhất định nhằm giúp đỡ những người bệnh giảm gánh nặng về tài chính y tế, ngoài ra
còn giúp họ được tiếp cận các dịch vụ y tế khi việc KCB đòi hỏi chi phí cao. Điều này cho thấy
các mô hình BHYT không chỉ dừng lại hỗ trợ trực tiếp các chế độ bao phủ khi người dân thực
hiện KCB, CSSK mà còn hỗ trợ phòng ngừa để người bệnh được tiếp tục khám BHYT trong
trường hợp chi phí điều trị cao hoặc đã phía chi trả tài chính y tế liên tiếp và vượt ngưỡng.
Về phương thức chi trả: Phương thức chi trả theo phí dịch vụ dần được thay thế bằng các
phương thức thanh toán khác, trong đó có phương thức thanh toán theo nhóm chẩn đoán.
2.2. Các nghiên cứu về việc thực hiện Bảo hiểm y tế đối với người nghèo ở Việt Nam
Vấn đề CSSK cho người nghèo nhằm đảm bảo công bằng trong việc tiếp cận và sử dụng
dịch vụ y tế luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chú trọng. Với việc ban hành và triển khai
những văn bản chính sách có liên quan đến việc CSSK cho người nghèo, một mặt đã tạo ra một
cơ chế bảo vệ hữu hiệu cho người nghèo trước những nguy cơ rủi ro khác nhau, mặt khác cũng
góp phần tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đáng ghi nhận trong công tác CSSK người nghèo, vẫn còn tồn tại những hạn chế
nhất định, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người nghèo trong KCB, CSSK. Chính vì
thế, nhằm đánh giá thực trạng CSSK cho người nghèo, nhiều công trình, nhiều đề tài của các tác
giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích để làm rõ vấn đề trên. Cụ thể như:
Nghiên cứu “Viện phí và người nghèo ở Việt Nam” của nhóm tác giả Phạm Huy Dũng và
cộng sự công bố năm 1999 [12]. Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành tại bốn
tỉnh: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Ninh Bình và Hải Phòng. Mục tiêu của nghiên cứu là đi sâu phân
tích các tác động của việc thực hiện chính thu viện phí nói chung và đánh giá ảnh hưởng của nó
đối với người nghèo. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Chất lượng chăm sóc y tế cho người nghèo kém
hơn so với chất lượng của các bệnh nhân trả tiền. Phân tích số liệu từ bệnh án của bác sĩ cho thấy
số ngày nằm viện của những bệnh nhân được miễn phí dài hơn số ngày nằm viện của những
bệnh nhân trả tiền. Ngược lại, chi phí KCB cho những bệnh nhân này thấp nhất ở tất cả các địa
phương trừ tỉnh Bắc Kạn. Trong khi đó, chi phí cho thuốc chiếm chủ yếu trong chi phí KCB. Do
đó, những bệnh nhân này có thể đã được chữa bệnh với số lượng thuốc ít hơn và rẻ hơn so với
những bệnh nhân trả tiền. Tuy nhiên, bằng chứng này chưa đủ sức thuyết phục để đưa ra kết
vấn đề: Làm thế nào để tăng cường nguồn lực để bù đắp chi phí trong việc hỗ trợ miễn giảm một
số dịch vụ CSSK cho người nghèo. Nguồn lực đó có thể thực hiện được bằng cách cân đối lại
chính sách thu phí và miễn giảm phí giữa các đối tượng, các khu vực, các vùng miễn khác nhau.
Đây chính là một trong số những vai trò quan trọng của CTXH trong việc huy động, liên kết,
điều phối nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BHYT đối với người nghèo.
Mặt khác, việc cấp phát thẻ BHYT cho người nghèo trong KCB, CSSK chính là một
trong số những hình thức nhằm đảm bảo quyền lợi của người nghèo trong việc tiếp cận các dịch
vụ y tế, CSSK trong điều kiện kinh tế của họ còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy việc tăng cường,
khuyến khích hình thức cấp phát thẻ BHYT này chính là nhằm biện hộ và bảo vệ cho nhu cầu
CSSK, KCB của người nghèo, để họ được đảm bảo công bằng và bình đẳng trong CSSK.
“Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo trong giai đoạn hiện nay” là công trình nghiên
cứu của nhóm tác giả: Lê Quang Hoành, Trần Thị Mai Oanh, Phan Hồng Vân và Nguyễn Thị
Thắng, công bố năm 2000 [15]. Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: tổng quan
tài liệu, điều tra cơ sở y tế và phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân thuộc diện miễn giảm phí tại cơ sở y
tế, nhóm tác giả muốn đi sâu tìm hiểu thực trạng công tác KCB cho người nghèo tại các tuyến ở
một số địa phương kể trên.
Nghiên cứu đã khẳng định: Có nhiều hình thức KCB miễn giảm phí cho người nghèo đ-
ược áp dụng ở các địa phương, tuy nhiên hình thức cấp thẻ BHYT cho người nghèo là hình thức
có nhiều ưu điểm nhất. Với hình thức này, cơ quan BHYT cấp thẻ BHYT cho người nghèo bằng
nguồn ngân sách của nhà nước gọi chung là Quỹ XĐGN.
Một hình thức KCB miễn giảm phí nữa tương đối phổ biến ở hầu hết các bệnh viện là
đơn xin miễn giảm phí do địa phương chứng nhận. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy do
kinh phí hạn hẹp nên thực tế số người nghèo được cấp thẻ KCB miễn phí vẫn còn ít và khác nhau
giữa các tỉnh. Trạm y tế xã là nơi người nghèo thường sử dụng nhất khi cần phải KCB nhưng hầu
hết lại không được miễn giảm phí khi KCB ở tuyến xã. Đây cũng là một yếu tố làm hạn chế việc
sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo ở tuyến y tế cơ sở. Đối với cơ sở y tế tuyến trên, mặc dù
được miễn giảm phí nhưng trên thực tế người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn do vẫn phải chi phí
cho các chi phí KCB gián tiếp như ăn uống, đi lại. Do vậy, nhiều người nghèo được hưởng chế
độ miễn giảm phí KCB nhưng vẫn không đến được cơ sở y tế.
Nghiên cứu đi đến kết luận:
Dương và Bắc Giang” [8]. Nghiên cứu nhằm: đánh giá hiệu quả của quỹ KCB cho người nghèo
thông qua các chỉ số như việc sử dụng dịch vụ y tế, các rào cản trong việc sử dụng và tác động
của Quỹ đối với việc giảm gánh nặng tài chính cho người nghèo. Kết quả nghiên cứu đã cho
thấy: Một số ảnh hưởng tích cực của việc triển khai Quỹ KCB cho người nghèo như: Gánh nặng
chi tiêu y tế đối với hộ nghèo giảm rõ rệt khi so sánh với trước khi triển khai Quỹ KCB cho
người nghèo, tỉ lệ chi tiêu hàng năm cho y tế so với tổng chi tiêu hàng năm của hộ gia đình giảm
từ 6,9% xuống còn 5,5%; Có dấu hiệu tăng việc sử dụng các dịch vụ y tế sau khi triển khai Quỹ
KCB cho người nghèo, đặc biệt KCB nội trú. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã phát hiện ra
những điểm còn hạn chế khi triển khai Quỹ KCB cho người nghèo như: năng lực của tuyến tỉnh
và các tuyến dưới trong việc quản lý Quỹ KCB cho người nghèo còn yếu; Nhận thức của người
nghèo về Quỹ KCB cho người nghèo còn rất hạn chế; Sự hài lòng của người nghèo đối với các
dịch vụ y tế được cung cấp bao gồm cả nội trú và ngoại trú nhìn chung còn thấp; có một tỉ lệ
đáng kể người hưởng lợi từ Quỹ KCB cho người nghèo đã không sử dụng thẻ BHYT/ thẻ KCB
cho người nghèo khi đi khám ở các cơ sở y tế nhà nước.
Nghiên cứu đã đi đến kết luận: Nhìn chung, Quỹ KCB cho người nghèo đã hoạt động tốt.
Mức độ sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo tăng lên và gánh nặng tài chính y tế đối với người
nghèo có giảm đi. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số điểm còn hạn
chế trong việc triển khai Quỹ KCB cho người nghèo, nhất là vấn đề truyền thông nâng cao nhận
thức và năng lực hành động. Chính vì vậy, cần phát huy hơn nữa vai trò của CTXH trong việc
truyền thông thay đổi nhận thức và hành vi của những đối tượng có liên quan đến việc thực hiện
chính sách BHYT đối với người nghèo, trong đó đối tượng trực tiếp là người nghèo để họ có
nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chính sách BHYT và thụ hưởng chính sách một cách hợp
lý và hiệu quả hơn.
Cũng trên hai địa bàn này, tác giả Đàm Viết Cương và Trần Văn Tiến đã tiến hành
nghiên cứu “Tình hình BHYT, sử dụng dịch vụ y tế và chi tiêu y tế tại hai tỉnh Hải Dương và Bắc
Giang - kết quả điều tra cơ bản” [7]. Nghiên cứu cho thấy: Độ bao phủ của BHYT tại các huyện
nghiên cứu dao động từ 40-50%, trong đó học sinh, sinh viên là thành phần chủ yếu tham gia
BHYT tự nguyện. Có khoảng 70% nông dân chưa có BHYT. Người nghèo chiếm tỷ trọng cao
trong tổng số người tham gia BHYT, tuy nhiên vẫn còn khoảng 20-30% hộ gia đình báo cáo
thuộc diện hộ nghèo nhưng vẫn chưa được cấp thẻ BHYT. So với năm 2005, người nghèo đi
(QĐ-TTg): Việc sử dụng thẻ KCB người nghèo/thẻ BHYT đã góp phần làm giảm chi phí y tế của
dịch vụ KCB ngoại trú và nội trú. Tuy nhiên, người nghèo vẫn phải trả thêm một khoản chi phí
đáng kể cho các loại thuốc không được BHYT thanh toán cũng như cho các chi phí gián tiếp
khác. Nhìn chung, những người có thẻ phải chi trả cho các dịch vụ KCB với số tiền ít hơn so với
những người không có thẻ (cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp).
Thứ ba: Một số vướng mắc trong quá trình xác định đối tượng người nghèo và cấp phát
thẻ BHYT cho nghèo tại địa bàn nghiên cứu: Việc lập danh sách người nghèo được thực hiện
thông qua việc ghi chép bằng tay; Chưa xây dựng được cơ chế để kiểm tra và kiểm tra chéo danh
sách hộ nghèo; Quy trình lập danh sách hộ nghèo rất phức tạp; Nguồn tài chính cho công tác
quản lí hành chính hạn chế và không có chế độ khuyến khích cho nhân lực thực hiện công tác
này ở địa phương; Chậm trễ trong in ấn và cấp phát thẻ KCB người nghèo; Năng lực quản lí của
cơ quan BHXH; Năng lực của cơ quan BHXH trong công nghệ thông tin nhìn chung còn hạn chế
về nhiều mặt: nhân lực, xây dựng phần mềm quản lí và ứng dụng.
Thứ tư: Tác động của Quỹ KCB cho người nghèo đối với đối tượng hưởng lợi: Quỹ KCB
cho người nghèo có tác động tích cực tới việc CSSK cho người nghèo trong việc nâng cao khả
năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cũng như giảm gánh nặng tài chính cho nhóm đối tượng
hưởng lợi. Tuy nhiên một số đối tượng người nghèo chưa thực sự được hưởng lợi từ quỹ KCB
cho người nghèo. Nguyên nhân chính là do: Chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt tại tuyến xã còn
hạn chế; Thủ tục hành chính rườm rà; Thiếu kiến thức về các vấn đề sức khoẻ, CSSK và thực
hiện BHYT trong CSSK; Các hoạt động truyền thông chưa nhiều và chưa hiệu quả; Khó khăn về
giao thông và một số đối tượng gặp khó khăn về tài chính trong KCB do phải trả thêm chi phí
cho thuốc hoặc các chi phí gián tiếp khác như ăn uống và đi lại cũng là một trong số những rào
cản chính có ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của người nghèo.
Tóm lại, khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK của người nghèo ngày càng được cải thiện
kể từ khi Quỹ KCB cho người nghèo được triển khai. Tuy nhiên, hiệu quả của việc triển khai
hoạt động của Quỹ trong cung cấp dịch vụ KCB cho người nghèo và các nhóm đối tượng đích
khác còn một số hạn chế. Sau quá trình nghiên cứu, đề tài đã đưa ra những khuyến nghị cụ thể:
Tăng cường các hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức và hiểu biết của người
dân về BHYT
Nâng cao năng lực của cán bộ BHXH để triển khai chính sách BHYT hiệu quả hơn.
3.1. Ý nghĩa khoa học
Ứng dụng một số lí thuyết nghiên cứu trong CTXH để tìm hiểu, lí giải về vai trò của ngành
CTXH trong việc hỗ trợ tổ chức thực hiện BHYT đối với người nghèo
Cung cấp những tài liệu, kiến thức quan trọng và cần thiết về chính sách BHYT đối với
người nghèo
Cho thấy tầm quan trọng của chính sách BHYT nhằm đáp ứng nhu cầu KCB, CSSK của
người nghèo, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người nghèo
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đã chỉ ra những vai trò cơ bản của CTXH trong việc hỗ trợ tổ chức thực hiện
hiệu quả chính sách BHYT đối với người nghèo dựa trên việc đánh giá thực trạng triển khai
chính sách tại Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng triển khai chính sách BHYT với đối tượng người nghèo và vai trò của CTXH
trong việc hỗ trợ người nghèo tiếp cận và sử dụng tốt hơn, đầy đủ hơn chính sách BHYT tại
Đồng Lạc, Chí Linh. Hải Dương
4.2. Khách thể nghiên cứu
Người nghèo được cấp thẻ và chưa được cấp thẻ BHYT; Người nghèo đang sử dụng và không
còn sử dụng thẻ BHYT; Cán bộ Quản lý thẻ BHYT; Cán bộ trạm y tế xã
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu : Xã Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương
Thời gian nghiên cứu : Năm 2013
Vai trò của CTXH trong việc hỗ trợ tổ chức thực hiện chính sách BHYT đối với người
nghèo tại Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng triển khai chính sách BHYT và vai trò của CTXH trong việc hỗ trợ
thực hiện chính sách BHYT đối với người nghèo tại Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận về chính sách BHYT đối với người nghèo và CTXH trong việc
thảo luận nhóm và trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi ; Tổng hợp, trích lược và phân tích những tài
liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu như : Giáo trình, sách tham khảo, các bài viết, các
công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học…
7.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 15 đối tượng chia thành 3 nhóm, bao gồm : Nhóm 1:
10 người nghèo – Trong đó có 6 người đang sử dụng thẻ BHYT và 2 người nghèo chưa được cấp
thẻ BHYT, 2 người nghèo không có thói quen sử dụng thẻ BHYT trong KCB ; Nhóm 2: 3 cán bộ
làm công tác quản lý thẻ ; Nhóm 3: 2 cán bộ tại trung tâm y tế xã.
Với nhóm đối tượng 10 người nghèo, nội dung phỏng vấn sâu tập trung nhằm: Tìm hiểu nhận
thức của người dân về chính sách BHYT và công tác truyền thông về chính sách BHYT đến với người
dân tại địa phương. Bên cạnh đó, phỏng vấn sâu cũng nhằm tái hiện thực trạng sử dụng thẻ BHYT
trong KCB của người nghèo, những yếu tố ảnh hưởng đến việc người nghèo tiếp tục hoặc không còn
sử dụng thẻ BHYT trong KCB. Ngoài ra, những mong muốn, nguyện vọng của người dân trong quá
trình sử dụng thẻ BHYT cũng được khắc họa rõ nét, qua đó cần thiết phải phát huy vai trò của CTXH
trong việc hỗ trợ tổ chức thực hiện chính sách BHYT với đối tượng người nghèo hiệu quả hơn, để đáp
ứng tốt hơn những nhu cầu cơ bản của họ.
Với những cán bộ làm công tác quản lí thẻ, phỏng vấn sâu chủ yếu nhằm làm sáng tỏ tình
hình người nghèo trong diện bao phủ của chính sách BHYT ; thực trạng quản lí thẻ BHYT và
quy trình cấp thẻ BHYT đối với nhóm đối tượng này. Với qui trình cấp thẻ và quản lí thẻ đó, còn
những bất cập gì cần phải khắc phục để đảm bảo tốt hơn và đầy đủ hơn sự công bằng đối với đối
tượng hưởng lợi là người nghèo, qua đó cho thấy vai trò tham mưu, hoạch định chính sách của
CTXH để thực hiện tốt hơn chính sách BHYT đối với người nghèo.
Phỏng vấn sâu tiến hành với các cán bộ trung tâm y tế xã đi nhằm tập trung tái hiện tình
hình người nghèo sử dụng và không còn sử dụng thẻ BHYT trong KCB ; Thực trạng cơ sở hạ
tầng, chất lượng dịch vụ và thái độ trách nhiệm của cán bộ khám BHYT; Những thuận lợi và hạn
chế trong khám BHYT đối với đối tượng người nghèo tại trạm y tế. Trước những khó khăn đó,
cần thiết phải phát huy hơn nữa vai trò của CTXH trong việc huy động, liên kết, điều phối nguồn
lực để tăng cường sức mạnh cho các cơ sở y tế cả về kinh tế lẫn chất lượng KCB cho người
nghèo để họ được thụ hưởng dịch vụ một cách công bằng, bình đẳng.
7.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
chính gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2. Thực trạng triển khai chính sách Bảo hiểm y tế đối với người nghèo tại
Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương
Chương 3. Vai trò của Công tác xã hội trong việc hỗ trợ tổ chức thực hiện chính sách
Bảo hiểm y tế đối với người nghèo tại Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2001), Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH
về việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001 – 2005
2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (1995), Thông tư số 27/LĐTBXH-TT ngày 24
tháng 10 năm 1995 về việc hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng được miễn
nộp một phần viện phí khi đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của nhà nước
3. Bộ Y tế - Bộ Tài chính (2013), Thông tư liên tịch số 33/2013/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn
tổ chức thực hiện quyết định số 14/2012/QĐ-TTG ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng
Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số 139/2002/QĐ – TTG ngày 15
tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám, chữa bệnh cho người nghèo
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ tài chính – Bộ y tế (1999), Thông tư liên tịch
Chính sách Y tế năm 2000
16. Lê Hồng Loan (2013), “Vai trò và nhiệm vụ nghề Công tác xã hội”, Kỷ yếu Hội thảo
Quốc tế “Nâng cao tính chuyên nghiệp Công tác xã hội vì phát triển và hội nhập”, NXB Đại học
Sư phạm Hà Nội.
17. Nguyễn Duy Nhiên (2008), “Giáo trình nhập môn Công tác xã hội”, NXB Đại học Sư
phạm.
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15 Tháng 04 năm 1992
19. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật Bảo hiểm y tế số
25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008
20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1989), Luật Bảo vệ sức khỏe nhân
dân ngày 30 tháng 06 năm 1989
21. Nguyễn Khánh Phương (2002), “Tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK cho người
nghèo: Đánh giá chính sách thu viện phí”, NXB Viện chiến lược và Chính sách y tế
22. Thủ tướng Chính phủ (1995), Quyết định số 131-TTg về sửa đổi một số điểm trong quyết
định 55/TTG ngày 3 tháng 2 năm 1994 về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở
23. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 35/2001/QĐTTg về “Chiến lược chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001- 2010” ngày 19 tháng 3 năm 2001
24. Thủ tướng Chính phủ (2002), Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm
2002 về việc “Khám, chữa bệnh cho người nghèo”
25. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn
nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010
26. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015
27. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng
Chính phủ về “Khám, chữa bệnh cho người nghèo”
28. Trần Văn Tiến (2010), “Tổng quan về Chính sách Bảo hiểm y tế ở một số nước trên Thế
giới”, Tạp chí Chính sách y tế, số 6/2010, tr 60 – 64
29. Trần Văn Tiến (2011), “Tổng quan về Chính sách Bảo hiểm y tế ở một số nước trên Thế