những thay đổi trong huyết động và hô hấp trong gây mê trong mổ nội soi lồng ngực trên trẻ sơ sinh - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay việc áp dụng kỹ thuật nội soi lồng ngực có hỗ trợ của máy quay
video (kỹ thuật VATS :Video Assisted Thoracic Surgery) ngày càng phát
triển và đã nhanh chóng trở thành một phương pháp hữu ích cho chẩn đoán và
điều trị có hiệu quả trong một số bệnh trong lồng ngực ở trẻ em cũng như trẻ
sơ sinh. Nội soi lồng ngực ở trẻ em đã được chứng minh là có ưu điểm hơn so
với đường mở ngực kinh điển do giảm thiểu chấn thương do phẫu thuật, đau
sau mổ ít hơn, giảm thiểu nguy cơ tử vong sau mổ, cho ăn sớm hơn, giảm
ngày giường tại hồi sức, giảm thời gian nằm viện sau mổ do đó giảm chi phí
phẫu thuật, đặc biệt giảm tỉ lệ biến dạng lồng ngực sau mổ. Chỉ định nội soi
lồng ngực trên bệnh nhân nhi ngày càng được mở rộng và linh hoạt ngay cả
đối với một số ca trước đây có chống chỉ định [11,15]
Bên cạnh sự phát triển của phẫu thuật, thay đổi trong kỹ thuật GMHS,
tìm hiểu và hiểu biết những thay đổi về sinh lý tuần hoàn, hô hấp cũng như
những ảnh hưởng tới các cơ quan khác trong cơ thể đó giúp người GMHS đạt
được những sự tiến bộ giúp cho nội soi lồng ngực ngày càng phát triển.
Ngoài những ưu điểm mà phẫu thuật nội soi mang lại, người GMHS phải
tính đến một số vấn đề phức tạp cũng như nguy cơ trong mổ đó là: kiểm soát
đường thở, suy hô hấp tiềm tàng trước mổ, thay đổi liên quan đến tư thế nằm
nghiêng, bơm CO2 vào khoang lồng ngực [16]
Vấn đề sinh lý bệnh hô hấp liên quan đến nội soi lồng ngực :
- Đõu tiên đó là mất cân bằng giữa tưới mỏu-thụng khớ khi bệnh nhân
nằm nghiêng và sau khi thông khí một phổi.
- Sau đó là ảnh hưởng rất lớn của việc bơm CO2 vào khoang lồng ngực
lên hô hấp do hạn chế hoặc mất hẳn thông khí phổi cựng bờn.
1
- Cuối cùng là sự hấp thu CO2 qua màng phổi gây tăng CO2 hệ thống.
Ảnh hưởng lên tuần hoàn ở trẻ em ít hơn người lớn:
- Nguyờn nhân chính là khi bơm hơi đã gây ra một áp lực dương vào
khoang lồng ngực dẫn đến giảm tiền ghỏnh, giảm thể tích tống máu, giảm
cung lượng tim và giảm huyết áp.

Năm 1982, sự thành công của phẫu thuật cắt túi mật nội soi và sự ứng
dụng kỹ thuật nội soi ổ bụng kết hợp với máy quay video vào phẫu thuật lồng
ngực đã nhanh chóng trở thành một phương pháp điều trị có hiệu quả trong
phẫu thuật lồng ngực. Việc thực hiện kỹ thuật VATS (Video Assisted
Thoracic Surgery) đã thực sự phát triển trong mười năm qua và nội soi lồng
ngực có thể áp dụng để chẩn đoán hay điều trị hầu hết các bệnh trong lồng
ngực ở người lớn. Ngay từ những năm đầu của cuộc cách mạng này, các nhà
GMHS đã tự nhận thấy sự cần thiết phải có những thay đổi trong kỹ thuật gây
mê nhằm đưa ra biện pháp chăm sóc tối ưu cho bệnh nhân trong mổ. Yêu cầu
đặt ra là phải giảm thiểu hơi có trong đường tiêu hóa, duy trì đủ giãn cơ trong
suốt cuộc mổ, phối hợp với phẫu thuật viên từ việc đặt tư thế bệnh nhân, áp
lực bơm khí vào các khoang của cơ thể đến các tăng thì phẫu thuật để có được
trường mổ tốt nhất và ảnh hưởng lờn cỏc cơ quan là ít nhất. Sự ra đời của ống
nội khí quản hai nòng, sử dụng ống NKQ đơn cú búng chốn ở cuối (ống
3
Univent), hoặc sử dụng Fogarty mạch mỏu,… cho phép thông khí phổi từng
bờn đó đánh dấu một bước tiến bộ trong lĩnh vực GMHS giúp cho phẫu thuật
nội soi ngày càng phát triển.
Nhưng phải tới những năm 1990, khi công nghệ thực sự tiến bộ, dụng cụ
nội soi có kích thước nhỏ được đưa ra nhằm mục đích hạn chế tối đa cho bệnh
nhân những chấn thương phẫu thuật hay còn gọi là phẫu thuật can thiệp tối
thiểu (Minimal Access Surgery: MAS) thì phẫu thuật nội soi đã thực sự được
áp dụng trong chẩn đoán và điều trị bệnh ở trẻ nhỏ thậm chí là trẻ sơ sinh có
cân nặng thấp. Nhiều bệnh viện trẻ em các nước, số lượng của phẫu thuật nội
soi đã trở nên nhiều hơn số lượng của phẫu thuật mở truyền thống. Việc áp
dụng MAS vào những ca phẫu thuật phức tạp ở trẻ ngày càng nhiều, chỉ định
ngày càng rộng rãi. Một số trường hợp trước đây là chống chỉ định của MAS
thì bây giờ có tác giả lại cho rằng tốt hơn khi sử dụng MAS ví dụ như thất
phải hai đường ra, hen phế quản…. Các nhà gây mê nhi khoa ngày càng trở
nên thông thạo và có kinh nghiệm hơn, đưa ra kế hoạch gây mê an toàn nhăm

1.2.2. Những vấn đề được đặt ra trong gây mê cho phẫu thuật nội soi ở trẻ em
[10, 11]:
1.2.2.1. Chọn bệnh nhân:
- Cũng như thăm khám gây mê thông thường, hỏi tiền sử và khám lâm
sàng là vô cùng quan trọng. Tất cả những triệu chứng và xét nghiệm ngoài
giới hạn bắt buộc phải thông báo và cân nhắc, quyết định xem bệnh nhân có
thể chịu đựng được những tác động do bơm khí gây ra hay không.
- Hiện nay chỉ định của nội soi lồng ngực là rất thay đổi, có trường hợp
trước đây là CCĐ thì hiện nay có một số báo cáo đã thực hiện thành công kỹ
thuật này. Tuy nhiên phẫu thuật nội soi lồng ngực không được đặt ra đối với
các trường hợp:
• Hen phế quản nặng, có tổn thương phổi bên đối diện gây hạn chế
thông khí, …
• Rối loạn thông khí nặng.
• Bệnh lý thần kinh cơ, gù vẹo cột sống,
• Bệnh tim bẩm sinh cú tớm, ….
• Rối loạn đụng mỏu.
• Bệnh lý nội khoa khác cần được cân nhắc cụ thể trên từng trường hợp.
- Những bệnh nhi khỏe mạnh là ứng cử viên tốt cho MAS do khả năng tự
điều chỉnh của tim và phổi rất lớn, không có bệnh xơ vữa động mạch nên chịu
đựng tốt với sự thay đổi của tần số tim, huyết áp và cung lượng tim mà không
xảy ra các biến chứng như nhồi máu cơ tim hay đột quỵ Tuy nhiên từ 0 đến 6
6
tháng tuổi, tăng tần số tim là biện pháp duy nhất nhằm duy trì cung lượng tim
trước sự thay đổi tiền ghỏnh hay hậu gánh. Khả năng chịu đựng trước những
ảnh hưởng do bơm hơi vào khoang màng phổi kém hơn nhưng với áp lực bơm
hơi từ 4-6 mmHg đã được chứng minh là thành công thậm chí ở trẻ sơ sinh
non yếu. Hơn một thập kỷ qua, MAS đã được thực hiện thành công ở trẻ ngày
càng nhỏ thậm chí trọng lượng cơ thể chỉ có 900 gam, và được công nhận là
xu thế phẫu thuật chủ đạo.

8
- Với NKQ không có búng chốn, nếu khí bị rò ra ngoài ở áp lực
+15cmH2O thì cần thiết phải đổi ống khác có đường kích lớn hơn 0.5mm vì
sẽ không đảm báo thông khí trong mổ.
- Làm ấm khí CO2, làm ấm dịch truyền, làm ấm và ẩm khí thở, hệ thống
sưởi bằng hơi ấm tránh tụt nhiệt độ.
- Hệ thống theo dõi ngoài điện tâm đồ, SpO2, EtCO2, NIBP, đo thân
nhiệt và dán ống nghe vùng trước tim, theo dõi huyết áp động mạch xâm nhập
liên tục cho phép theo dõi liên tục huyết áp của bệnh nhân đồng thời kiểm tra
khớ mỏu động mạch khi cần và điều chỉnh toan kiềm. Ngoài ra đo ALTMTW
và đặt sông bàng quang là cần thiết vì trẻ dễ có nguy cơ thiếu dịch cũng như
quá tải dịch. Cần phải sửa chữa tình trạng huyết động trước khi thiểu niệu xảy
ra. Nên đo nhiệt độ hậu môn vì nhiệt độ thực quản trong nội soi lồng ngực
không phản ánh đúng nhiệt độ trung tâm đặc biệt là trên trẻ nhỏ.
- Giãn cơ tốt đòi hỏi duy trì suốt cuộc mổ nhằm cung cấp phẫu trường tốt
nhất với áp lực bơm hơi nhỏ nhất và trỏnh khớ rò rỉ qua khe hở của trocar.
- Gây tê tại chỗ đặt trocar không được đặt ra với trẻ nhỏ do khó tránh khỏi
quá liều khi gây tê tất cả các điểm chọc trong khi kích thước dụng cụ nhỏ chỉ
3mm. Đặt catheter ngoài màng cứng để giảm đau cho phẫu thuật nội soi ngực ở
trẻ nhỏ còn nhiều bàn cãi do khả năng gây tổn thương tủy sống ở bệnh nhân
chưa đủ khả năng nhận thức về tình trạng cảm giác và vận động trước đó.
- Vết mổ nhỏ nhưng bệnh nhân lại chịu một đau khác do bơm khớ gõy
kéo căng và thay đổi vị trí của cơ hoành và trung thất. Khí lạnh bơm vào
khoang màng phổi được làm ấm nhanh chóng bởi nhiệt độ cơ thể, khớ khụ có
thể gây tổn thương các màng gây đau sau mổ và hạ nhiệt độ. Làm ấm và làm
9
ẩm CO2 trước khi bơm vào bệnh nhân, xả hết CO2 sau mổ sẽ làm mất đi
những tồn tại này.
- Một số nghiên cứu gần đây đưa ra bằng chứng dùng thuốc giảm đau
kháng viêm không steroid trước mổ, ức chế cyclooxygenase-2 (COX-2), làm

+ Thay đổi khớ mỏu khi bơm CO2 vào khoang màng phổi và thông khí
thế nào để duy trì các chỉ số trong giới hạn cho phép.
1.3. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý của trẻ sơ sinh liên quan đến GMHS
[6, 13, 14].
1.3.1. Hình thể:
Trẻ sơ sinh có cân nặng bằng 1/20, chiều dài bằng 1/3, diện tích da
bằng 1/9 người lớn. Đầu chiếm 25% chiều dài cơ thể. Thân mình dài còn chân
tay thì ngắn. Tỉ lệ Surface/volume lớn gấp 70 lần người lớn.
1.3. 2. Tuần hoàn:
- Tuần hoàn phổi thay đổi ngay lập tức sau khi sinh gây ra bởi tiếng
khóc chào đời. Sức cản mạch phổi trước khi sinh cao là do xẹp và chứa đầy
dịch của phổi, co mạch phổi. Sau sinh, các phế nang từ chỗ chứa đầy dịch nay
được khí làm đầy, sức cản mạch phổi giảm xuống là cơ hội cho dòng máu lên
phổi tăng lên, tăng oxy hóa máu, áp lực riêng phần của O2 trong máu động
mạch tăng lên và của CO2 giảm xuống. Sức cản hệ thống tăng và chấm dứt
tuần hoàn thai nhi.
- Tăng đột ngột sức cản hệ thống làm giảm lượng máu về tim từ tĩnh
mạch chủ dưới, giảm áp lực nhĩ phải. Sức cản phổi nhanh chóng giảm xuống
11
là cơ hội cho tăng dòng máu lên phổi, tăng lượng máu về nhĩ trái và áp lực
nhĩ trái. Lỗ bầu dục, ống động mạch, động mạch và tĩnh mạch rốn không còn
được sử dụng và dần đóng lại. Sự đóng vĩnh viễn xảy ra sau vài tháng, tuy
nhiên lỗ bầu dục vẫn tồn tại ở 15-20% người trưởng thành. Ống động mạch
đóng chức năng 10-15 giờ sau sinh và đóng giải phẫu 4-6 tuần sau sinh.
Trong vài tuần đầu, lưu thông của dòng máu qua lỗ bầu dục và ống động
mạch quay trở lại gần giống như thời kỳ bào thai là rất dễ xảy ra khi có toan
húa mỏu, thiếu oxy, hạ thân nhiệt, hạ đường máu, hạ calci máu, quá tải dịch,
tăng áp lực động mạch phổi. Riêng đối với ống động mạch còn chịu ảnh
hưởng của PGE1. Động và tĩnh mạch rốn đóng lại rất sớm, không phụ thuộc
vào các yếu tố trên và trở thành các dây chằng.

* Một số đặc điểm về giải phẫu:
- Đầu lớn so với kích thước cơ thể, cổ ngắn, khối cơ cổ kém phát triển.
- Lưỡi lớn so với thể tích khoang miệng nên trẻ sơ sinh bắt buộc phải
thở bằng mũi trong khi kích thước lỗ mũi nhỏ vì vậy đặt sông dạ dày qua mũi
là nên tránh.
- Nắp thanh quản lớn, mềm, hơi ra trước. Vị trí thanh quản cao, ngang
cổ 3 ở trẻ sinh non, ngang cổ 3-4 ở trẻ sinh đủ tháng và ở trẻ lớn là ngang
mức cổ 4-5.
- Vòng sụn nhẫn hẹp và là nơi hẹp nhất của khí quản và có kích thước
tương đương với lỗ mũi trước. Ở người lớn chỗ hẹp nhất của khí quản chính
là hai dây thanh.
13
- Đường kính khí quản nhỏ, khoảng 4mm tại sụn nhẫn. Khi niêm mạc
khí quản phù nề 1mm thì diện tích qua đó giảm 60-75% và sức cản tăng 16%
nhưng đối với người lớn thì diện tích qua đó chỉ giảm 44% và sức cản tăng
thêm 3%. Do vậy khi đặt nội khí quản cho trẻ sơ sinh thì hơi lỏng một chút
còn tốt hơn là khít chặt.
- Xương sườn nằm ngang, cơ liên sườn chưa phát triển và, xương ức và
lồng ngực mềm do chưa cốt húa nờn trong trường hợp thở gắng sức sẽ xảy ra
hiện tượng di động đảo ngược làm giảm độ giãn nở của phổi .
- Cơ hoành cao và di chuyển lên xuống như pớton. Đây là cơ hô hấp
quan trọng nhất nên bụng chướng do bất kỳ nguyên nhân nào cũng góp phần
làm giảm hô hấp.
- Số lượng tiểu phế quản tận là 20-50 triệu trong khi ở người lớn là 300
triệu. Số lượng phế nang vì thế cũng giảm theo cấp số nhân, cùng với đó là
kích thước phế nang cũng nhỏ hơn. Thể tích phổi nhỏ không cân xứng với
kích thước cơ thể và nhu cầu chuyển hóa cao. Để tăng thông khí phỳt thỡ
cỏch duy nhất là phải tăng nhịp thở. Thở gắng sức lại làm tăng sức cản phổi,
giảm compliance phổi và kết quả là tăng nhu cầu tiêu thụ oxy lên 15%.
- Cơ hoành và cơ liên sườn thiếu sợi cơ typ 1 (là sợi cơ oxy hóa cao, co

gây mê và còn tồn tại sau mổ. Trẻ càng nhỏ càng có nguy cơ giảm RFC. Khắc
phục tình trạng này bao gồm thở CPAP 5cmH2O, giảm áp lực ổ bụng bằng
đặt thông dạ dày.
15
- Đường thở có xu hướng dễ bị xẹp trong thì thở ra làm khí bị giữ lại
trong phổi. Sức cản đường thở cao liên quan đến kích thước đường thở nhỏ.
Độ giãn nở phổi thấp do tổ cức chun giãn kém phát triển.
- Tỉ lệ tĩnh mạch trộn là 20% trong khi người lớn là 5%. Trẻ sơ sinh
đáp ứng với tăng CO2 yếu hơn với thiếu oxy. Ngược lại, thiếu oxy làm giảm
đáp ứng của hô hấp với tăng CO2.
- Trẻ sơ sinh dễ có nguy cơ mắc bệnh võng mạc và xơ hóa phổi trong 2
tuần đầu đặc biệt là sơ sinh non tháng. Khuyến cáo đưa ra chỉ số SpO2 cho trẻ
sinh đủ tháng là 92% và đối với trẻ sinh non là 88%.
1.3.4. Thần kinh:
- Trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén hệ thần kinh TƯ trưởng
thành nhanh chóng thể hiện bằng sự xuất hiện một loạt các phản xạ như phản
xạ Moro, phản xạ Grasp, những milestones này thường dược sử dụng để đánh
giá sự phát triển của tâm thần kinh.
- Lúc mới sinh, khối lượng não chỉ chiếm 10% trọng lượng cơ thể, gấp
đôi sau 6 tháng và gấp ba sau một năm.
- Hàng rào mỏu nóo chưa phát triển và cơ chế đau chưa rõ ràng
- Nồng độ thuốc mê bốc hơi sử dụng cho trẻ sơ sinh đủ tháng thường
thấp hơn trẻ nhũ nhi, là do sự chưa trưởng thành của hệ TKTW, chưa hoàn
thiện của hàng rào mỏu-nóo. Chớnh vì vậy mà trẻ sơ sinh cũng tăng nhạy cảm
với các thuốc thuộc họ barbiturat và họ morphin. Đối với các thuốc giãn cơ,
do chưa hoàn thiện ở bản vận động thần kinh–cơ và đáp ứng với
acetylcholine chạy dọc theo suốt chiều dài của sợi thần kinh nên liều thuốc
giãn cơ không khử cực tương đương với liều của người lớn và liều của giãn
cơ khử cực cao gấp hai lần người lớn.
16

năng cô đặc nước tiểu. Do đó trẻ sơ sinh dễ bị mất muối và nước. Bổ sung
muối là cần thiết ít nhất là trong 2 tuần đầu. Trẻ sinh đủ tháng cần bổ sung 2-3
mEq Na+/kg/ngày, trẻ sinh non có nhu cầu cao hơn, 30-35 tuần tuổi thai cần 4
mEq/kg/ngày và dưới 30 tuần tuổi thai cần 5 mEq/kg/ngày. Giữ nước và hạ
Natri máu hay gặp ở trẻ thở CPAP do tăng tiết vasopressin. Truyền dịch ưu
trương hay nhược trương đều gây ra phự nóo. Trẻ dễ thiếu dịch nhưng cũng
dễ bị quá tải dịch, quá tải dịch nặng sẽ gõy phự phổi, làm tồn tại ống động
mạch và suy tim xung huyết.
- Nồng độ protid và urờ mỏu thấp. Khả năng gắn kết của thuốc với
protein máu thấp làm cho nồng độ thuốc tự do trong huyết thanh cao.
- Chức năng thận chỉ hoàn thiện ít nhất sau 18 tháng tuổi. Nó ảnh
hưởng trực tiếp đến thải trừ thuốc do đó ảnh hưởng liều lượng cũng như
khoảng cách cho thuốc.
- Kali huyết thanh chỉ đưa ra một con số ước chừng do 98% lượng kali
của cơ thể năm trong tế bào. Toan gây tăng kali máu và kiềm gây hạ kali máu.
Rất nhiều thuốc làm ảnh hưởng đến nồng độ kali trong máu. Trong tất cả các
trường hợp thiểu niệu, vô niệu, sốc, toan, suy thận đều không được truyền
dung dịch chứa kali và thay thế vào đó là dung dịch mặn đẳng trương. Nhu
cầu từ 2-3 mEq/kg/ngày.
1.3.7. Vàng da:
Tăng bilirubin ở trẻ sơ sinh là một trong những vấn đề cần quan trọng
cần được lưu tâm. 60% trẻ sinh đủ tháng có vàng da sinh lý. Đối với trẻ sinh
18
đủ tháng khỏe mạnh thì vàng da sinh lý khụng gõy tác hại gì nhưng đối với trẻ
sinh non, có suy dinh dưỡng bào thai, hoặc có bệnh nặng kèm theo sẽ có
nhiều nguy cơ của bệnh vàng da nhõn nóo. Ở trẻ sinh đủ tháng, blirubin tăng
cao nhất vào ngày thứ ba sau sinh và giảm dần trong 4 tuần.
1.3.8. Máu và các tế bào máu:
- Lúc mới sinh, hemoglobin trong máu là 14-20 g/dl, trong đó huyết sắc
tố bào thai (HbF) chiếm 70-80%, lượng HbF giảm dần sau sinh và tới 6 tháng

dung dịch đường phải được theo dõi chặt chẽ.
- Hạ đường huyết khi dưới 45g/dl. Tăng đường huyết khi trên
125mg/dl. Tăng đường huyết thường là do thầy thuốc gây nên, nguy cơ tăng
áp lực thẩm thấu dẫn đến chảy máu não thất và lợi niệu thẩm thấu gây mất
nước và hạ Natri. Não, tim, dạ dày ruột sẽ bị tổn thương do thiếu máu khi
nồng độ đương huyết trên 200mg/kg.
1.4. Sinh lý thông khí một phổi [1, 4, 7, 10, 11, 16].
Trong phẫu thuật nội soi lồng ngực, có cô lập hay không có cô lập phổi
thì tại bên phổi phẫu thuật dưới ảnh hưởng của áp lực dương do bơm hơi vào
khoang ngoài màng phổi sẽ xảy ra hiện tượng xẹp phổi. Phản xạ tự nhiên của
hệ thống mao mạch phổi tại vùng phổi xẹp là co mạch tại chỗ gây tăng sức
cản mạch máu phổi và làm giảm dòng máu qua đó gọi là phản ứng co mạch
phổi do thiếu oxy (Hypoxic pulmonary vasoconstriction :HPV). Toàn bộ máu
20
tới những vùng phổi không được thông khí trở thành shunt trong phổi, trong
khi bình thường shunt trong phổi ở trẻ sơ sinh đã là 20%. Khi vùng phổi
không được thông khí chiếm từ 30-70%, trong tình trạng gây mê có thông khí
một phổi sẽ có sự khác biệt rất lớn về PaO2 giữa có HPV và không có HPV.
Trong thực tế thì khi vùng phổi thiếu oxy ở trong khoảng này, HPV sẽ giúp
làm tăng PaO2 từ mức nguy hiểm có thể gây loạn nhịp lên mức an toàn. HPV
là cơ chế tự bảo vệ của phổi nhằm bảo vệ PaO2 bằng cách giảm shunt qua
những vùng phổi kém thông khí, phân bố lại dòng máu tới vùng phổi không
bị xẹp, có áp lực oxy phế nang cao, tăng thông khí nhằm giúp cho tỉ lệ thụng
khớ/tưới mỏu (V/Q) về gần như bình thường.
Thay đổi trong phân phối dòng máu phổi, shunt trong phổi, trên bệnh
nhân thở máy thông khí hai phổi chuyển sang thông khí một phổi ở tư thế
nằm nghiêng. (Hinh 49-7 trang 1866 anesthesia for thoracic surgery).
Khi thông khí một phổi, lý tưởng nhất khi shunt chiếm 20% tổng dòng
máu lên phổi. Ở điều kiện huyết động ổn định, khi đó PaO2 đạt được vào
khoảng 280 mmHg với FiO2 100%.

lên HPV
Tài liệu tham khảo.
Yếu tố bệnh nhân:
COPD
Xơ gan
Nhiễm khuẩn
Gắng sức
Tăng huyết áp
Thay đổi về sinh lý:
Toan
Kiềm
Ưu thán
Nhược thán
Sốt
Hạ thân nhiệt
Tăng áp lực nhĩ trái
Tăng PvO2
Giảm PvO2
Can thiệp trong mổ:
Nằm nghiêng
Nằm ngửa
Co kéo phổi (tác động
của phẫu thuật)
Pha loãng máu
Gây tê ngoài màng cứng
Almitrine
Ngửi NO
Thuốc mê hơi:
Nitrous Oxide
Halothane

0
Peinado 2002
Nakos 1993
Reeves 1974
Favret 2006
Guazzi 1989
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Balanos 2003
Balanos 2003
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Marshall 1983
Marshall 1983
Bardoczky 2000
Bardoczky 2000
Ishikawa 2003
Szegedo 2005
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Bindslev 1986
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Kerbaul 2001
Pruskowski 2007
23
Thuốc mê đường tĩnh mạch

Pruskowski 2007
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Hales 1978
Parson 1981
Marin 1979
Silove 1968
Doering 1997
Leeman 1988
Bindslev 1986
Weir 1975
Pillet 1998
Các nguyên nhân chính gây thiếu oxy trong thông khí một phổi:
- Thiếu oxy nguồn.
- Thông khí tại phổi không đủ.
- Ống NKQ không đúng chỗ.
- Tăng shunt trong phổi ngay sau khi bắt đầu thông khí một phổi.
- Co thắt phế quản, thường gặp khi gây mê chưa đủ sâu.
- Tụt huyết áp, giảm cung lượng tim, mất máu, tăng nhu cầu tiêu thụ oxy
như tỉnh, rét run.
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu dự kiến được tiến hành tại khoa gây mê hồi sức bệnh viện Nhi
trung ương từ tháng 1-2009 đến tháng 10-2009.
2.2. Đối tượng nghiên cứu và cỡ mẫu:
- Bệnh nhi có độ tuổi từ 0 đến 28 ngày tuổi.
- Có chỉ định mổ nội soi lồng ngực điều trị một số bệnh như teo thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status