ĐẶT VẤN ĐỀ
Đào tạo nhân lực luôn là vấn đề trọng tâm trong chiến lược phát triển
của bất cứ ngành nghề, tổ chức nào. Đánh giá nhu cầu đào tạo là một cách xác
định hiệu quả những khoảng trống giữa các kiến thức, kĩ năng mà bạn cần với
các kiến thức, kĩ năng mà nhõn viên bạn hiện có. Nó thu thập các thông tin để
xác định những lĩnh vực mà nhõn viên có thể nõng cao thực thi .Từ đó mà
xây dựng một chuơng trình đào tạo hiệu quả,mang tính ứng dụng cao.
Đối với ngành Y nói chung, chuyên khoa Ung thư nói riêng đào tạo
nguồn nhân lực đông đảo về số lượng, vững chắc về chuyên môn luôn là một
vấn đề trọng tâm. Trước sự gia tăng đột biến của ung thư như hiện nay, vấn
đề đó càng trở nên bức thiết.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo về mô hình bệnh tật trong
thế kỉ XXI: Các bệnh không lây nhiễm trong đó có ung thư sẽ trở thành nhóm
bệnh chủ yếu đe dọa đến sức khỏe con người chiếm 54% nguyên nhân gây tử
vong ở người, nhóm bệnh nhiễm trùng sẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu chỉ
chiếm 16% nguyên nhân gây tử vong. Theo ước tính của WHO hàng năm trên
thế giới có khoảng 11 triệu người mắc bệnh và 6 triệu người chết do ung thư.
Dự báo vào năm 2015 mỗi năm thế giới sẽ có 15 triệu người mới mắc bệnh
ung thư và 9 triệu người chết do ung thư, trong đó 2/3 là ở các nước đang phát
triển. Ở vùng châu Á Thái Bình Dương, ung thư là một trong 3 nguyờn nhân
chính gây tử vong . Tỉ lệ chết do ung thư lên tới 100/100.000 dân ở các nước
Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Chỉ tớnh riờng ở Trung
Quốc, mỗi năm ung thư đã cướp đi sinh mạng của 1,3 triệu người [8].
Qua ghi nhận ung thư tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh, ước
tính mỗi năm ở nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và
1
75.000 người tử vong do ung thư. Con số này có xu hướng ngày càng gia
tăng. Dự báo tới năm 2020, mỗi năm Việt Nam có khoảng 200.000 trường
hợp mới mắc và 100.000 trường hợp tử vong do ung thư [7], [8].
Quy hoạch mạng lưới phòng chống ung thư đang được xây dựng để có
thể đáp ứng được nhu cầu chăm sóc và phòng bệnh ung thư trên toàn quốc.
30/4/2010)….Kiến thức thu được từ những khóa đào tạo, hội thảo này không
hệ thống và đầy đủ, do đó không thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo cơ bản và
chuyờn sâu cho cán bộ xạ trị Bệnh viện K. Mặc dù đã có nhiều lớp đào tạo xạ
trị được tổ chức song chưa có điều tra chính thức nào xác định những thiếu
hụt kiến thức, thực hành xạ trị cũng như nguyện vọng đào tạo của các cán bộ
xạ trị viện K. Theo yêu cầu của Ban giám đốc Bệnh viện K là cần có kế hoạch
đào tạo lại cho cán bộ khối xạ trị của bệnh viện trong năm 2010- 2011 và từ
đó triển khai đào tạo cho cán bộ khối xạ trị toàn quốc trong Chương trình
phòng chống ung thư quốc gia. Do đó chúng tôi tiến hành : “ Nghiên cứu về
nhu cầu đào tạo của khối cán bộ xạ trị Bệnh viện K “ với mục tiêu :
1. Mô tả công tác đào tạo và đào tạo lại cho khối cán bộ xạ trị Bệnh
viện K.
2. Xác định những khó khăn về kiến thức và thực hành xạ trị của các
cán bộ xạ trị Bệnh viện K.
Trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác
đào tạo cho các cán bộ xạ trị Bệnh viện K
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đánh giá nhu cầu đào tạo xác định hiệu quả những khóa đào tạo đã
được tổ chức, xác định những kiến thức, kĩ năng mà nhân viên còn thiếu từ đó
xác định những lĩnh vực mà nhân viên có thể nâng cao thực thi. Để tiến hành
đánh giá nhu cầu đào tạo, bạn cần:
• Phân tích xem mục tiêu hoạt động của cơ quan và những kĩ năng
yêu cầu để đáp ứng mục tiêu đó.
• Đánh giá xem bạn muốn đào tạo những đối tượng nào và cách
nào để đạt hiệu quả tối đa.
• Chọn phương pháp đào tạo phự hợp,xỏc định thời diểm đào tạo
tối ưu.
• Tiến hành phân tích chi phớ/lợi nhuận trước khi trước khi đưa ra
bốn năm sau đại học và một đến hai năm đào tạo về y học lâm sàng. Họ được
Hội đồng Xạ trị Hoa Kỳ hoặc Hội đồng Vật lý y khoa Hoa Kỳ cấp bằng.
* Kĩ thuật viên xạ trị
Chuyên viên xạ trị liệu làm việc cựng cỏc bác sĩ xạ trị. Họ điều hành
quá trình xạ trị hàng ngày theo đơn thuốc và dưới sự giám sát của bác sĩ. Họ
phải ghi chép số liệu hàng ngày và thường xuyên kiểm tra các máy móc điều
trị để bảo đảm máy móc vận hành bình thường. Tại Mỹ, các chuyên viên xạ
trị liệu phải qua một chương trình đào tạo hai đến bốn năm sau khi học phổ
thông hoặc đại học. Họ phải qua một kỳ thi chuyên ngành và phải được Cơ
quan quản lý Kỹ sư công nghệ Xạ trị Hoa Kỳ cấp bằng.
* Y tá
Các y tá làm việc cùng cả nhóm điều trị để chăm sóc cho các bệnh nhân
trong quá trình điều trị. Họ góp phần đánh giá bệnh nhân trước khi bắt đầu
5
điều trị. Họ có thể nói chuyện với bệnh nhân về những tác dụng phụ có thể có
và cách xử lý. Trong quá trình xạ trị các bệnh nhân có thể được y tá kiểm tra
hàng tuần hoặc thường xuyên hơn để đánh giá các vấn đề cần chú ý. Y tá
đóng một vai trò chủ chốt trong việc giáo dục tư tưởng cho bệnh nhân về việc
điều trị, tác dụng phụ … Tại Mỹ, các y tá xạ trị là những y tá được cấp phép
hoạt động trong nghề y tá. Hầu hết các y tá xạ trị cú thờm bằng cấp khác về
chuyên ngành ung thư. Các y tá cấp cao trong ung thư học, bao gồm các y tá
chuyên về lâm sàng và y sĩ, thường đó cú bằng thạc sĩ.
Ngoài ra trong một nhóm điều trị xạ trị còn có thể có chuyên gia tâm lý,
nhõn viên hoạt động xã hội, chuyờn gia dinh dưỡng nhằm đảm bảo liệu trình
điều trị tốt nhất cho bệnh nhân ung thư.
1.1.2. Công tác đào tạo chung - Công tác đào tạo trong ngành Y
Đào tạo là nhằm xây dựng nguồn nhân lực-yếu tố quyết định để phát triển.
Trong chiến lược phát triển của bất cứ ngành nghề nào, đào tạo nhân lực
nhằm phát huy nội lực, nhất là năng lực trí tuệ của người Việt Nam bao giờ
cũng là nhiệm vụ then chốt.
vì không có cơ sở cho sinh viên thực hành. Sự thiếu nhân lực trầm trọng còn
diễn ra không đồng đều giữa cỏc vựng trong cả nước và ngay trong các
chuyên ngành. Như ở tỉnh An Giang có trường trung cấp với quy mô 800 học
sinh, nhưng số lượng đào tạo lại giảm dần từ năm 2007 đến nay. Tổng số đào
tạo trong năm 2007 đạt 440 học sinh, đến năm 2008 giảm còn 373 học sinh và
năm 2009 chỉ còn 311 học sinh. Hay như ở Trà Vinh, hiện số bác sĩ trên đầu
người mới chỉ đạt 4,52 BS/1 vạn dân (thấp hơn rất nhiều quy định 7BS/1 vạn
7
dân của Bộ Y tê). Một số nghành như: y tế dự phòng, y học cơ bản .… rất
thiếu cán bộ. Vấn đề đào tạo nhân lực càng trở nên bức thiết [2].
Đào tạo trên tất cả các tuyến, chú ý đào tạo và nâng cao nguồn nhân lực
cho vựng sõu vựng xa. Ngay ở các bệnh viện tuyến trung ương cũng thưũng
xuyên tổ chức cỏc khoỏ đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực cho tuyến dưới. Từ
năm 1999, Bệnh viện Từ Dũ kết hợp cùng với công ty GlaxoSmithkline xây
dựng đề án: “Chương trình đào tạo 500 cô đỡ thôn bản người dân tộc thiểu
số” cho tuyến xã hàng năm [10].
Đào tạo theo từng chuyên ngành. Từ năm 2007, Bộ Y tế kết hợp với Tổ
chức Đột quỵ Quốc tế (WSO) triển khai chương trình đào tạo cơ bản điều trị
bệnh đột quỵ tại Việt Nam, đến nay có 6000 bác sĩ chuyên khoa thần kinh,
cấp cứu, tim mạch, phục hồi chức năng, lão khoa của 150 bệnh viện trong cả
nước được đào tạo [11].
Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y Hà Nội phối hợp với Phòng Đào
tạo và Nghiên cứu khoa học Viện Da liễu Quốc gia hàng năm quản lý và đào
tạo các lớp: Chuyên khoa định hướng da liễu, chuyên khoa 1 da liễu, chuyên
khoa 2 da liễu, cao học da liễu, nội trú da liễu, tiến sỹ chuyên ngành da liễu
[13].
Bộ môn Tim mạch-Đại học Y Hà Nội tham gia đào tạo về chuyên
ngành tim mạch cho tất cả các đối tượng sinh viên y đa khoa hệ chính quy
(năm 2, 3, 4, 6); cử nhân điều dưỡng, kĩ thuật viờn xột nghiệm…Hướng dẫn
luận văn tốt nghiệp cho rất nhiều sinh viên y khoa. Về hệ đào tạo sau Đại học:
9
- Đào tạo chuyên khoa định hướng ung thư, chuyờn sâu về phẫu
thuật, hoá chất, xạ trị, giải phẫu bệnh.
- Đào tạo sau đại học chuyên ngành ung thư.
- Đào tạo lại.
- Đào tạo liên tục.
- Đào tạo tại nước ngoài.
Đó là tình hình đào tạo chuyên ngành ung thư nói chung. Riêng điều trị
xạ trị là một chuyên khoa rất đặc thù trong điều trị ung thư: hoạt động theo
nhóm với sự kết hợp nhịp nhàng giữa các thành viên: bác sĩ xạ trị, kĩ sư vật
lý, kĩ thuật viên xạ trị, y tá xạ trị; áp dụng những ứng dụng của cả y học và vật
lý đồng thời luôn cập nhật những công nghệ mới nhất của cả hai ngành đó.
Một bác sỹ xạ trị trước tiên phải là một bác sĩ y khoa, sau đó phải trải qua một
khóa đào tạo chuyên ngành ung thư học để trở thành một bác sỹ ung thư, rồi
tiếp tục được đào tạo về xạ trị để trở thành một bác sỹ xạ trị (radiation
oncologist). Do tớnh đặc thù đó mà các nước phát triển rất coi trọng vấn đề
đào tạo điều trị xạ trị trong ung thư. Trung tõm Ung thư Memorial Sloan-
Kettering (Hoa Kỳ) có The school of Radiation Therapy chuyên đào tạo bác
sỹ, kĩ thuật viên ung thư [22].
Hệ thống y tế Washington (Washington hospital healthcare system) có
Trung tâm đào tạo xạ trị Washington (WROC) một trong những trung tâm
đào tạo bác sĩ, kĩ thuật viên xạ trị lớn nhất, thường xuyên áp dụng công nghệ
tiên tiến nhất [25].
The ONCC là trung tâm đào tạo y tá xạ trị, chứng nhận cho khoảng
20.000 y tá, họ được học về những tiến bộ trong chăm sóc bệnh nhân ung thư,
10
một số có thể có bằng tiến sỹ. Thành viên của tổ chức xã hội này lên đến
37.000 người trong đó hơn 80% là y tá [22].
Tại Úc, các khóa học sẽ do Khoa Xạ trị liệu của Trường đào tạo Bác sĩ
Bức xạ học Hoàng gia Australia và New Zealand (RANZCR) tổ chức. Khóa
cao, giảm thiểu tới mức tối đa những biến chứng của tia xạ trên bệnh nhân.
Do đó nhu cầu được đào tạo lại, đào tạo bổ sung của các thành viên trong
nhóm điều trị xạ trị luôn đặt ra hết sức bức thiết.
Đào tạo lại trong điều trị xạ trị là đào tạo theo nhu cầu. Việt Nam là 1
trong 17 nứơc Châu Á thành viên của IAEA nờn luụn nhận đựơc những đợt
đào tạo quốc tế từ tổ chức này. Trong 5 năm gần đây đó cú 3 khóa đào tạo
ngắn hạn (trung bình 3-6 thỏng/khúa) do Bệnh viện K kết hợp với IAEA mở
ra nhằm cập nhật kiến thức mới, máy móc mới, nâng cao trình độ cho cán bộ
xạ trị Bệnh viện K. Hàng năm khoa Vật lý xạ trị Bệnh viện K đào tạo đựợc
hơn 30 lớp với gần 1000 học viên từ khắp mọi miền trong cả nước về kĩ thuật
xạ trị [18].
1.2. Những khó khăn về kiến thức và thực hành xạ trị của cán bộ xạ trị
1.2.1. Khó khăn về kiến thức
Như đã nói ở trên, công tác đào tạo các thầy thuốc trong lĩnh vực ung
thư còn rất hạn chế. Cả nước chỉ có 2 cơ sở đào tạo là Bộ môn Ung thư
Trường Đại học Y Hà Nội, Bộ môn Ung thư Trường Đại học Y Dược TP Hồ
Chí Minh. Chưa có cơ sở chính thức nào đào tạo về điều trị xạ trị. Các bác sĩ,
kĩ sư, kĩ thuật viên của chúng ta hoặc phải học ở nước ngoài hoặc thu thập
kiến thức từ các khóa đào tạo ngắn hạn, các hội thảo chuyên ngành, từ kinh
nghiệm bản thân. Do đó kiến thức không có tính hệ thống, nhiều phần kiến
12
thức không có điều kiện áp dụng vào thực tế. Với khoảng 1 khóa đào tạo quốc
tế /2 năm như hiện nay thì việc cập nhật kiến thức mới cũng rất hạn chế. Thí
dụ như kĩ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) đã bắt đầu được sử dụng trờn thế
giới từ năm 2002 cho nhiều loại ung thư nhưng phải đến 9/2008 Trung tâm y
học hạt nhân và ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai mới bắt đầu áp dụng vào
điều trị, chủ yếu cho bệnh nhân ung thư thực quản với số lượng hạn chế. Kĩ
thuật xạ trị liệu hướng dẫn bằng hình ảnh (IGRT) được ứng dụng trên toàn thế
giới từ 2008 nhưng đến nay Bệnh viện K vẫn chưa áp dụng kĩ thuật này vào
điều trị. Với vai trò là đơn vị đi đầu về xạ trị ung thư trong cả nước, việc bổ
• Các bác sĩ, kĩ thuật viên, kĩ sư vật lý, y tá hiện đang cụng tác chính thức
tại 5 khoa xạ trị của Bệnh viện K : Khoa Xạ đầu – cổ, Khoa Xạ vú – phụ
khoa, Khoa Xạ tổng hợp, Khoa Vật lý phóng xạ, Khoa Xạ Tam Hiệp (cơ
sở 2).
• Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
• Các bác sĩ, kĩ thuật viên, y sĩ đang theo học tại các khoa xạ trị Bệnh
viện K.
• Các bác sĩ, kĩ sư vật lý, kĩ thuật viên, y tá của khoa nhưng hiện không
trực tiếp tham gia vào công tác điều trị xạ trị (y tá hành chính, nhõn
viên nghỉ ốm hoặc đang đi học).
• Từ chối tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang về nhu cầu đào tạo cho khối
cán bộ xạ trị Bệnh viện K năm 2010.
15
2.2.2. Mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu toàn bộ bao gồm tất cả các bác sĩ, kĩ sư vật lý, kĩ thuật viên
xạ trị, y tá hiện đang công tác tại 5 khoa xạ trị của Bệnh viện K.
Trong nghiờn cứu này chúng tôi tiến hành điều tra được 65 cán bộ đang
công tác trong lĩnh vực xạ trị Bệnh viện K
2.2.3. Mô tả kĩ thuật thu thập thông tin
Điền câu hỏi : Bản câu hỏi lập sẵn (kèm hướng dẫn điền câu hỏi) được
gửi tới các cán bộ khối xạ trị Bệnh viện K. Bản câu hỏi này được sử dụng cho
tất cả các đối tượng: bác sĩ xạ trị , kĩ sư vật lý, kĩ thuật viên xạ trị, y tá xạ trị.
Danh sách những người tham gia được xác định và báo trước cho các khoa xạ
trị. Các cán bộ y tế khối xạ trị thực hiện điền vào bộ câu hỏi sau khi đã được
Ban giám đốc Bệnh viện K thông báo và chúng tôi tiến hành giới thiệu cách
điền. Mỗi người ngồi xa nhau để tránh trao đổi về nội dung trả lời.
Nhu cầu đào
tạo
(nhóm biến
số phụ
thuộc)
Đào tạo Tỉ lệ % theo đào tạo (đã được đào tạo, chưa
được đào tạo)
Đào tạo ban đầu Tỉ lệ % được đào tạo ban đầu
Đào tạo lại Tỉ lệ % được đào tạo lại(có đào tạo, không
đào tạo)
Đào tạo 5 năm
gần đây
Tỉ lệ % được đào tạo trong 5 năm gần đây
Khó khăn Tỉ lệ % những khó khăn trong quá trình điều
trị xạ trị
Nội dung được
đào tạo
Tỉ lệ % nội dung đào tạo thiết thực
Nội dung cải
thiện
Tỉ lệ % những nội dung cần cải thiện
Áp dụng kiến
thức
Tỉ lệ % áp dụng kiến thức đã học vào thực
tế (đó áp dụng, chưa áp dụng)
Đề xuất đào tạo Tỉ lệ % những đề xuất cho khóa đào tạo
Đào tạo thêm Tỉ lệ % cán bộ muốn được đào tạo thêm
Nội dung đào
tạo thêm
Tỉ lệ % những nội dung được đào tạo thêm
> 50 6 9,2
Tổng 65 100
Tuổi trung bình 36,2
Trong khối cán bộ xạ trị Bệnh viện K được nghiên cứu, nhóm tuổi 31 –
40 chiếm tỉ lệ lớn nhất (58,5%). Tuổi trung bình là 36,2. Khoảng một phần
năm số cán bộ xạ trị ở độ tuổi dưới 30, trong khi chỉ có 9,2% số cán bộ trên
50 tuổi. Số cán bộ trong độ tuổi 31- 50 chiếm tới 70,8%.
3.1.2. Phân bố giới
Bảng 3.2:Phân bố giới trong khối cán bộ xạ trị Bệnh viện K
Giới Tần số Tỷ lệ %
Nam 27 41,5
Nữ 38 58,5
Tổng 65 100
Trong khối cán bộ xạ trị Bệnh viện K, tỉ lệ nam – nữ tương đối đồng
đều (nam 41,5%, nữ 58,5%) song số cán bộ nữ vẫn nhiều hơn số cán bộ nam.
3.1.3. Phân bố trình độ chuyên môn
19
Bảng 3.3: Phân bố trình độ chuyên môn trong khối cán bộ xạ trị Bệnh viện K
Phân bố trình độ
chuyên môn
Tần số Tỷ lệ %
Bác sĩ 19 29,2
Kĩ sư vật lý 2 3,1
Kĩ thuật viên xạ trị 5 7,7
Y tá 39 60,0
Tổng 65 100
Trong khối cán bộ xạ trị Bệnh viện K, y tá chiếm tỉ lệ nhiều nhất
(60%). Bác sĩ cũng chiếm một tỷ lệ lớn (29,2%). Số kĩ thuật viên xạ trị ở mức
trung bình 7,7% (5 kĩ thuật viên/ 5 khoa) trong khi số kĩ sư vật lý cũn quỏ ớt,
chỉ có 2 kĩ sư tương đương 3,1% tổng số cán bộ xạ trị Bệnh viện K.
( tính theo năm )
Tần số Tỷ lệ %
Dưới 5 năm 18 27,7
Từ 5 đến 10 năm 26 40,0
Từ 11 đến 20 năm 18 21,7
Trên 20 năm 3 4,6
Tổng 65 100
Các cán bộ có thời gian công tác trong lĩnh vực xạ trị từ 5 đến 10 năm
chiếm tỷ lệ lớn (40%). Khoảng một phần ba cán bộ có thời gian công tác duới
5 năm (27,7%) song chỉ có 3 cán bộ có thời gian làm việc trong lĩnh vực xạ trị
trên 20 năm (4,6%). Đa số các cán bộ làm xạ trị trên 5 năm (72,3%).
3.2. Công tác đào tạo và đào tạo lại cho khối cán bộ xạ trị Bệnh viện K
3.2.1. Công tác đào tạo điều trị xạ trị
3.2.1.1. Đào tạo điều trị xạ trị
86,2%
13,8%
Có
Không
21
Biểu đồ 3.1 : Tỷ lệ % cán bộ được đào tạo điều trị xạ trị
Đa số các cán bộ tham gia nghiên cứu đã từng đựợc học về điều trị xạ
trị (86,2%) song vẫn có 13,8 % chưa từng được đào tạo về điều trị xạ trị.
3.2.1.2. Mối tuơng quan giữa trỡnh độ chuyên môn và đào tạo điều trị xạ trị
Bảng 3.7. Mối tương quan giữa trình độ chuyên môn và việc đã từng được
đào tạo xạ trị
Đào tạo xạ trị
Trình độ chuyên môn
Từng được đào tạo xạ trị
Có Không
Bác sĩ
Biểu đồ 3.3 : Tỷ lệ % cán bộ được đào tạo lại
Số cán bộ được đào tạo lại chiếm gần gấp đôi so với so cán bộ không
được đào tạo lại (63% so với 37%) chứng tỏ công tác đào tạo lại cho khối cán
bộ xạ trị Bệnh viện K đã được chú ý và đề cao.
3.2.4. Công tác đào tạo trong 5 năm gần đây ( 2005 – 2010 )
3.2.4.1. Mô tả về công tác đào tạo điều trị xạ trị trong 5 năm gần đây
Bảng 3.8 : Số lượng và tỷ lệ cán bộ được đào tạo trong 5 năm (2005 – 2010)
Đào tạo 5năm Tần số Tỷ lệ (%)
23
(2005-2010)
Có 52 80,0
Không 13 20,0
Tổng 65 100
Trong vòng 5 năm trở lại đây (2004 – 2010) có tới 80% cán bộ xạ trị
Bệnh viện K được đào tạo về điều trị xạ trị (bao gồm cả đào tạo cơ bản, đào
tạo lại, đào tạo bổ sung). Chỉ có 20% số cán bộ không được tham gia lớp đào
tạo nào trong vòng 5 năm 2005-2010 .
32.4.2. Mối tương quan giữa trình độ chuyên môn và công tác đào tạo trong
5 năm gần đây
Bảng 3.9. Mối tương quan giữa trình độ chuyên môn và công tác đào tạo
trong 5 năm gần đây
Đào tạo 5 năm
Trình độ chuyên môn
Đào tạo trong 5 năm
2005-2010
Tổng
Có Không
Bác sĩ
Tần số 19 0 19
Tỷ lệ (%) 100 0 100