bài tập tình huống quản trị học - Pdf 24

Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
Chuyên đề 1 (câu 1)
Vì sao quản trị cần thiết trong mọi tổ
chức?
1. Các khái niệm cơ bản: Quản trị và Tổ chức
Quản trị là tiến trình làm việc với con người và thông qua con người nhằm đạt
được mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn thay đổi. Trọng tâm của quá
trình này là sử dụng hiệu quả nguồn lực có giới hạn. (Theo Robert Kreiner).
Trong đó, tổ chức được hiểu là một thực thể có mục đích riêng biệt, gồm các thành
viên và được xây dựng theo một cơ cấu chặt chẽ có tính hệ thống.
2. Vai trò của hoạt động quản trị đối với tổ chức
Ngay trong khái niệm của Robert Kreiner, chúng ta đã có thể thấy rằng, quản trị là
hoạt động tất yếu phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể/tổ chức
để cùng hoàn thành mục tiêu chung.
Trong một định nghĩa khác, các tác giả Koontz và O’Donnell cũng đã khẳng định:
“Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc
quản trị, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ
cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường thuận lợi mà trong đó các cá nhân làm
việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã
định.”
Vai trò của hoạt động quản trị đối với tổ chức được thể hiện ở những mặt sau:
• Quản trị quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Không có các hoạt
động quản trị, mọi người trong tập thể sẽ không biết phải làm gì, làm lúc nào và công
việc sẽ diễn ra một cách lộn xộn.
• Bằng cách hoạch định công việc, hướng mọi người phối hợp hoạt động, cùng
hướng về mục tiêu chung, quản trị giúp tổ chức hoạt động “hiệu quả”, đạt được mục
tiêu đề ra.
Trang 1
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
• Bên cạnh đó, hoạt động quản trị còn giúp tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá
trình thực hiện, tạo ra hệ thống, quy trình phối hợp hợp lí nhằm đạt tối đa hóa "hiệu

tắc/luật lệ của trò chơi và thừa nhận một người nào đó khởi xướng trò chơi
và tuân thủ các hướng dẫn của người đó. Điều này có thể nói lên rằng quản
trị là thiết yếu trong mọi sự hợp tác có tổ chức.
 Ngay cả khi chỉ có một mình, thì quản trị cũng rất quan trọng, bởi lẽ mỗi
người đều phải sắp xếp và tổ chức các nguồn lực của mình hướng về mục
tiêu cuối cùng để đạt đến kết quả tốt nhất.
 Khi nguồn lực không bị giới hạn thì có cần đến quản trị nữa hay không?
 Một trong những nguyên nhân khiến hoạt động quản trị trở nên quan trọng
là do nguồn lực hữu hạn. Do đó, mỗi cá nhân và tổ chức phải biết cách
hoạch định-tổ chức-điều khiển và kiểm soát để đạt được hiệu suất cao trong
công việc.
 Thế nhưng, ngay cả khi những nguồn lực rất dồi dào đến mức gần như
không giới hạn thì quản trị vẫn có vai trò của nó. Khi đó, nó giúp tổ chức đi
đúng hướng để có thể đạt đến mục tiêu. Ví như, khi ta muốn đi lên mặt
trăng thì phải biết hướng về quỹ đạo mặt trăng, còn nếu cứ chạy quanh trên
mặt đất thì dù nguồn lực là vô hạn cũng chẳng bao giờ chạm được đích đến
đã định.
3.Vai trò của nhà quản trị đối với tổ chức
Để đánh giá chi tiết hơn về vai trò của quản trị, tiếp theo đây, chúng ta sẽ tập
trung phân tích vai trò, chức năng của nhà quản trị trong tổ chức. Nhà quản trị là
những người nắm vị trí đặc biệt trong một tổ chức, được giao quyền hạn và trách
nhiệm điều khiển và giám sát công việc của những người khác, nhằm hoàn thành mục
tiêu chung của tổ chức đó.
Trên thực tế, nhà quản trị phải làm rất nhiều công việc khác nhau, có liên quan đến
cấp trên, cấp dưới, khách hàng và xã hội… Tuy nhiên, khái quát những công việc mà
nhà quản trị phải đảm nhận, Henry Mintzberg cho rằng nhà quản trị phải đảm đương
10 vai trò, chia thành 3 nhóm sau đây:
 Vai trò quan hệ với con người:
Trang 3
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21

Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
Không thể phủ nhận vai trò của nhà quản trị trong kết quả hoạt động của tổ
chức bởi mọi sự thành công hay thất bại của một công ty đều bắt nguồn từ hoạt động
quản trị. Nhiệm vụ của nhà quản trị là hướng các thành viên của tổ chức đến mục tiêu
chung vì lợi ích của doanh nghiệp; duy trì, xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa
con người với con người. Nhà quản trị sử dụng tất cả những nguồn lực của tổ chức
bao gồm nguồn lực tài chính, vật chất và thông tin cũng như nguồn nhân lực để đạt
được mục tiêu. Trong những nguồn lực trên, nguồn lực con người là quan trọng nhất
và cũng khó khăn nhất để quản lý.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Quản trị học. Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh. Khoa Quản trị
kinh doanh. Nhà xuất bản Phương Đông. 2011
2. Quản trị học. Nguyễn Hải Sản. Nhà xuất bản Thống kê. 2003
3. Kiến Thức Nền Tảng - MBA Cơ Bản. Tom Gorman. Trần Thị Thái Hà (Dịch giả).
Nhà xuất bản Lao động Xã hội. 2009.
4. Quản trị học – Những vấn đề cơ bản. TS. Hà Văn Hội. NXB Thông Tin Truyền Thông.
2009
5. Quản trị học căn bản. Donnelly, James H, Ja. Nhà xuất bản Lao động - Xã hội. 2008.
6. Tài liệu Quản trị học:
www.sch.vn/jquery /46b2c08405ea53d646add260dcc2797c.pdf
Chuyên đề 3: (câu 5)
Trang 5
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
Các kỹ năng cần thiết đối với nhà quản
trị? Mức độ đòi hỏi về từng loại kỹ năng
này đối với các nhà quản trị ở cấp bậc
khác nhau? Những kỹ năng này giúp ích
gì cho nhà quản trị trong điều hành công
việc?
1. Các kỹ năng cần thiết đối với nhà quản trị:

tổ chức nào, dù là phạm vi kinh doanh hoặc phi kinh doanh.
Kỹ năng nhân sự thể hiện qua:
Trang 7
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
- Nhận thức được những thái độ, giả thiết và niềm tin của chính mình đối với
các cá nhân khác hay đối với các nhóm; họ có khả năng thấy được tính hữu ích
và những hạn chế của các cảm giác này. Bằng cách chấp nhận sự tồn tại của
những quan điểm, những nhận thức và những niềm tin khác với những quan
điểm, nhận thức và niềm tin của chính mình, họ có kỹ năng hiểu được cái mà
những người khác thực sự muốn nói qua từ ngữ và hành vi của họ.
- Thông qua hành vi của mình, truyền đạt cho những người khác điều mà họ
muốn nói đến, trong những ngữ cảnh của những người kia một cách thành
thạo. Người như vậy thường cố gắng tạo ra một bầu không khí tán thành và
đảm bảo, trong đó những người dưới quyền cảm thấy tự do trong việc tự biểu
lộ bản thân mà không sợ bị khiển trách hoặc chế nhạo, bằng cách khuyến khích
họ tham gia vào việc lập kế hoạch và tiến hành những công việc có ảnh hưởng
trực tiếp đến họ.
- Họ có đủ nhạy cảm đối với những nhu cầu và động cơ của những người khác
trong tổ chức đến mức họ có thể đánh giá những phản ứng và những hậu quả
của những cách hành động khác nhau mà họ có thể làm. Với sự nhạy cảm như
vậy, họ có khả năng và mong muốn hành động theo cách nào có tính đến được
những nhận thức đó của những người khác.
Kỹ năng thực tế trong công tác với những người khác phải trở thành một hoạt
động tự nhiên, liên tục, vì rằng nó đòi hỏi tính nhạy cảm không chỉ ở thời điểm ra
quyết định mà còn cả trong hành vi ứng xử hàng ngày của cá nhân. Kỹ năng con
người không thể là "một thứ đôi khi thỉnh thoảng".
Vì vậy, để hoạt động có hiệu quả, kỹ năng này phải được phát triển một cách tự
nhiên cũng như phải phù hợp, phô diễn trong những hành vi cá nhân đó. Nó phải trở
thành một bộ phận cấu thành của toàn bộ bản chất một nhà quản trị.
Ví dụ: Hãng Honda có chính sách luân phiên huấn luyện nhân viên. Thông thường,

sự thay đổi đó có hiệu quả hơn. Và do vậy, cơ hội thành công sẽ tăng lên rất nhiều.
Không chỉ có việc phối hợp một cách hiệu quả các bộ phận khác nhau của doanh
nghiệp mới phụ thuộc vào kỹ năng tư duy của các nhà quản trị mà toàn bộ đường
hướng và sắc thái tương lai của tổ chức cũng tùy thuộc vào đó. Thái độ của người
điều hành cao nhất quyết định sắc thái toàn bộ tính chất phản ứng của tổ chức và
quyết định "nhân cách của công ty", cái phân biệt cách tiến hành kinh doanh của một
Trang 9
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Những thái độ này là phản ảnh của kỹ năng
tư duy của nhà quản trị (mà một số người coi là "khả năng sáng tạo" của họ - cái cách
mà họ nhận thức và phản ứng lại trước định hướng mà doanh nghiệp cần đi theo,
trước các mục tiêu và chính sách của công ty, và những lợi ích của các cổ đông và các
nhân viên trong công ty).
Vì thành công trên tổng thể của công ty phụ thuộc vào kỹ năng nhận thức của
người điều hành trong việc hình thành và thực hiện các quyết định chính sách, nên kỹ
năng này là một thành phần không thể tách rời, thành phần làm chức năng phối hợp
của quá trình điều hành và có tầm quan trọng không thể chối cãi trên tổng thể.
Tóm lại, có vẻ như các cấp chịu trách nhiệm điều hành thấp hơn, kỹ năng kỹ thuật
và kỹ năng nhân sự là yêu cầu có tính nguyên tắc. Lên những cấp cao hơn, kỹ năng kỹ
thuật trở nên tương đối ít quan trọng hơn, trong khi cần thiết phải có kỹ năng tư duy
tăng lên nhanh chóng. Tại cấp cao nhất của tổ chức, kỹ năng tư duy trở thành kỹ năng
quan trọng nhất của tất cả các quá trình điều hành thành công.
2. Mức độ đòi hỏi về từng loại kỹ năng này đối với các nhà quản trị ở cấp bậc
khác nhau và những kỹ năng này giúp ích gì cho nhà quản trị trong điều hành
công việc?
Tầm quan trọng tương đối của ba kỹ năng này theo cấp trách nhiệm điều hành. Tại
những cấp thấp hơn, kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng con người là những yếu tố cần thiết
nhất. Tại những cấp cao hơn, tính hiệu quả của hoạt động điều hành phần lớn phụ
thuộc vào kỹ năng con người và kỹ năng nhận thức. Ở cấp cao nhất, kỹ năng nhận
thức trở thành yếu tố quan trọng nhất trong tất cả những hoạt động quản trị thành

- Cấp cao nhất nhấn mạnh sự cần thiết của tự nhận thức và sự nhạy cảm đối với
những quan hệ con người của các nhà quản trị cấp này.
Những khám phá này có xu hướng chỉ ra rằng kỹ năng nhân sự hết sức quan trọng
ở tất cả các cấp, song cũng chỉ ra sự khác biệt trong tầm quan trọng tương đối ở các
cấp khác nhau.
Kỹ năng nhân sự tỏ ra quan trọng nhất ở những cấp thấp hơn, nơi mà số lần giao
tiếp trực tiếp giữa những nhà quản trị và những cán bộ dưới quyền là lớn nhất. Càng
lên những cấp quản trị cao hơn, số lượng và tần số những giao tiếp cá nhân đó càng
giảm, và kỹ năng nhân sự cũng trở nên ít cần thiết hơn theo tỷ lệ thuận, mặc dầu có lẽ
không tỷ lệ thuận một cách tuyệt đối. Cùng lúc đó, kỹ năng tư duy trở nên ngày càng
quan trọng hơn do nhu cầu ra quyết định chính sách và hành động trên tầm rộng lớn.
Trang 11
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
Kỹ năng nhân sự xử lý các quan hệ với các cá nhân khi đó trở thành phụ trợ cho kỹ
năng tư duy hòa nhập các lợi ích và hoạt động của nhóm thành một tổng thể.

Kỹ năng tư duy như đã chỉ ra trong những phần trên, ngày càng trở nên tối
quan trọng tại những vị trí điều hành có trách nhiệm lớn hơn, nơi mà những tác
động của kỹ năng này đạt mức tối đa và dễ quan sát nhất. Trên thực tế, những
phát hiện của các nghiên cứu thời gian gần đây đưa tới một kết luận là tại cấp
quản trị cao nhất, kỹ năng tư duy này trở thành khả năng quan trọng nhất trong
tất cả.
Mối quan hệ giữa cấp bậc quản trị và các kỹ năng của nhà quản trị:
Ví dụ minh họa:
Bí quyết điều hành của Nhà quản trị Apple:
Apple hiện là công ty có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất thế giới, nhưng hơn cả,
mô hình quản lý của công ty này đã trở thành hình mẫu được nhiều tập đoàn, doanh
nghiệp khác “noi gương”.
- Dồn nhân sự giỏi nhất cho dự án quan trọng nhất:
Khi Apple bắt đầu nghiên cứu điện thoại iPhone, hãng đã đưa tất cả những người

- Thiết kế đi trước, “làng nước” theo sau:
Hầu hết các công ty thường bắt đầu với ý tưởng về sản phẩm, kế hoạch marketing
và xong xuôi mọi thứ mới tính tới thiết kế sản phẩm. Apple thì ngược lại. Các chuyên
gia thiết kế là những người cầm cân nảy mực. Họ sẽ xác định những gì cần có cho một
sản phẩm và sau đó Apple đưa ra những chi tiết còn lại.
Trang 13
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
 KỸ NĂNG TƯ DUY
- Không khích lệ nhân viên bằng cách thăng chức:
- Ở hầu hết các doanh nghiệp, nhân sự nào làm tốt việc của họ sẽ được xem xét cất
nhắc để nâng chức và đồng thời tăng thêm gánh nặng trách nhiệm cho họ. Tại Apple
sẽ tăng lương cho người làm tốt nhưng cố gắng duy trì họ làm việc ở những vị trí mà
họ thành công nhất.
VD: bạn là một nhà thiết kế giỏi nhưng không có nghĩa rằng bạn sẽ là một nhà quản lý
bộ môn thiết kế tài ba. Mặc dù ở công ty khác, bạn sẽ được thăng lên chức quản lý,
nhưng ở Apple, bạn vẫn làm việc đó và được trả lương cao hơn
 KỸ NĂNG NHÂN SỰ
- Thỏa mãn các “Thượng đế”:
Việc sáng tạo ra các sản phẩm cũng như những trải nghiệm với nó đều phải hướng
tới người dùng, mong muốn người dùng yêu thích sản phẩm.
 KỸ NĂNG TƯ DUY
- Ít nhưng khỏe, còn hơn đông mà yếu:
Apple luôn cố gắng giới hạn số nhân viên làm việc trong mỗi dự án lớn dưới 100
người. Kể từ khi ra mắt chiếc máy tính Mac, Jobs vẫn luôn muốn duy trì số lượng
nhân viên ở khoảng đó. Đó là một cách để giữ cho các nhóm dự án luôn tập trung và
có tổ chức.
 KỸ NĂNG NHÂN SỰ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quản trị học – PGS.TS Nguyễn Thị Liên Diệp – NXB Lao động xã hội
2. Quản trị học – Khoa Quản trị kinh doanh - Trường ĐH Kinh Tế TP.HCM –

Trang 16
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
- Môi trường tổng quát: Môi trường tổng quát: Bao gồm các yếu tố như kinh
tế, chính trị-pháp lí, văn hóa xã hội, dân số, tự nhiên, công nghệ… ở phạm
vi một quốc gia.
- Môi trường ngành (Môi trường tác nghiệp): Được hình thành tùy thuộc vào
những điều kiện sản xuất kinh doanh từng ngành. Môi trường này bao gồm
các yếu tố như: Khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, những người cung cấp
và các nhóm áp lực.
 Môi trường nội bộ: Bao gồm các yếu tố bên trong của doanh nghiệp, có ảnh
hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường nội bộ bao gồm
nhiều yếu tố như: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu phát
triển, cơ sở vật chất, tài chính, văn hóa tổ chức…

3. Vai trò của yếu tố môi trường
Một tổ chức không tồn tại biệt lập mà thường xuyên tác động qua lại với môi
trường. Nếu diễn tiến theo hướng thuận lợi, môi trường có thể tạo ra cơ hội thuận lợi
cho hoạt động của tổ chức. Ngược lại, nó có thể đe dọa và gây thiệt hại cho tổ chức.
Do đó, để quản trị một tổ chức hiệu quả không chỉ đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề
nội bộ mà quan trọng hơn là phải quản trị được các yếu tố tác động từ môi trường.
Nhìn chung, môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp/tổ chức ở
các mặt sau:
• Mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp
• Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp
• Kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Các nhà quản trị cần dành nhiều thời gian để khảo sát và dự đoán yếu tố biến đổi
của môi trường và coi đó như công việc đầu tiên phải tiến hành thường xuyên trong
hoạt động của mình. Việc phân tích các yếu tố môi trường có thể giúp cung cấp cho
nhà quản trị những dữ liệu quan trọng, làm cơ sở cho việc ra quyết định và thực hiện
quyết định quản trị. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể:

1. Môi trường toàn cầu
Khái niệm: Được hình thành từ các yêu tố kinh tế, chính trị-pháp lí, văn hóa xã
hội, dân số, tự nhiên, công nghệ… ở phạm vi toàn cầu.
Trang 18
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
Một số các yếu tố của môi trường toàn cầu mà các nhà quản trị cần quan tâm bao
gồm:
• Các biến động về kinh tế, chính trị, xã hội tại các quốc gia, khu vực và toàn thế
giới
• Các rào cản về thuế quan và văn hóa
• Sự hình thành và phát triển của các khu vực tự do thương mại
• Sự tồn tại, phát triển, cơ chế vận hành và những ảnh hưởng của các tổ chức
kinh tế lớn
• Các tác động của những định chế tài chính quan trọng trên thế giới
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang lan rộng như hiện nay, sự ảnh hưởng
của môi trường toàn cầu đến hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia nói chung cũng như
đối với từng doanh nghiệp nói riêng là không thể tránh khỏi. Những cơ hội và đe dọa
trực tiếp hoặc gián tiếp mà những biến động của môi trường toàn cầu đặt ra cho các tổ
chức, doanh nghiệp ngày càng to lớn.
VD: Tác động lan truyền của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới; Chỉ số chứng
khoán của Việt Nam bị tác động bởi các biến động của thị trường chứng khoán
của các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Nhật, EU ; Những tác động do biến động
trong giá trị của các ngoại tệ mạnh.
Do đó, vấn đề nghiên cứu môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ có ý nghĩa với
các doanh nghiệp có địa bàn hoạt động ở môi trường nước ngoài mà ngay cả những
doanh nghiệp chỉ hoạt động ở thị trường trong nước cũng cần nghiên cứu.
Yêu cầu đặt ra cho nhà quản trị là phải có năng lực nhận thức và dự báo những
thay đổi của môi trường toàn cầu, từ đó chủ động định hướng kế hoạch hoạt động của
tổ chức một cách linh hoạt nhằm giảm thiểu rủi ro và tận dụng cơ hội.
2. Môi trường tổng quát

• Tác động có tính trực tiếp hơnvà năng động hơn so với nhiều yếu tố khác của
môi trường tổng quát.
• Chứa đựng những cơ hội và đe dọa khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong
các ngành khác nhau.
• Có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược của doanh nghiệp.
Trang 20
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
2.2 Môi trường chính trị và luật pháp
Một số yếu tố cơ bản thường được quan tâm nhất:
• Đường lối chính sách của chính phủ: Vai trò điều tiết vĩ mô. Chính phủ vừa là
người điều hành kiểm soát, vừa là người cung cấp thông tin vĩ mô, vừa có thể là khách
hàng
• Hệ thống pháp luật hiện hành: Những quy luật ràng buộc đòi hỏi tổ chức phải
tuân theo
• Diễn biến chính trị trong nước
• Các xu hướng ngoại giao, chính trị
Yêu cầu đặt ra cho nhà quản trị:
• Nắm bắt được những quan điểm, quy định, ưu tiên, những chương trình chi tiêu
của chính phủ.
• Trong điều kiện có thể, tổ chức còn phải cố gắng thiết lập mối quan hệ tốt đẹp,
thậm chí có thể phải vận động hành lang khi cần thiết nhằm tạo ra môi trường thuận
lợi.
• Hiểu rõ tinh thần của luật pháp và chấp hành tốt những quy định của pháp luật
• Nhạy cảm với những thay đổi biến động về các xu hướng chính trị, đối ngoại.
2.3 Môi trường văn hóa xã hội
Khái niệm: Những chuẩn mực giá trị được chấp nhận bởi một xã hội hoặc một nền
văn hóa cụ thể.
Một số yếu tố cơ bản thường được quan tâm nhất:
• Những quan điểm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, xu hướng chọn nghề nghiệp
• Những phong tục, tập quán, truyền thống

kinh tế:
• Cung cấp những thông tin quan trọngcho các nhà quản trị trong việc hoạch
định chiến lược
2.5 Môi trường tự nhiên
Một số yếu tố cơ bản thường được quan tâm nhất:
• Vị trí địa lý
• Khí hậu
• Cảnh quan thiên nhiên
• Địa hình
Trang 22
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
• Đất đai
• Tài nguyên khoáng sản
• Mức độ ô nhiễm
Đặc điểm tác động:
• Luôn là một yếu tố quan trọng trong đời sống con người
• Một trong những yếu tố quyết định đầu vào sản xuất.
• Trong nhiều trường hợp, các điều kiện tự nhiên là một yếu tố rất quan trọng để
hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ.
• Môi trường tự nhiên đang có những biểu hiện xuống cấp nghiêm trọng trong
giai đoạn gần đây
Yêu cầu đặt ra:
• Ưu tiên phát triển các hoạt động có khả năng khai thác tốt các điều kiện và lợi
thế của môi trường tự nhiên trên cơ sở đảm bảo sự duy trì, tái tạo và làm phong phú
thêm nguồn tài nguyên sẵn có.
• Phải có ý thức tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. Chuyển dần
từ sử dụng các nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo sang các nguồn tài nguyên
bền vững hơn hoặc các vật liệu nhân tạo
• Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển công nghệ, sản phẩm theo hướng thân thiện
hơn với môi trường.

3. Môi trường ngành (Môi trường tác nghiệp)
Đặc điểm tác động của môi trường ngành:
• Môi trường tác nghiệp quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành
kinh doanh đó.
• Hình thành tùy thuộc vào đặc điểm từng ngành
• Có tác động trực tiếp và thường xuyên đến kết quả hoạt động của tổ chức,
doanh nghiệp
• Được các nhà quản trị đặc biệt quan tâm
3.1 Khách hàng
Ảnh hưởng:
• Một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh
• Quyết định đầu ra cho doanh nghiệp
Trang 24
Nhóm 10 –CH Đêm 6 K21
Yêu cầu đặt ra:
• Khảo sát cẩn trọng, tập trung làm rõ một số khía cạnh như:
- Khách hàng là ai? Nhu cầu và thị hiếu của họ? Những khuynh hướng trong
tương lai của khách hàng
- Ý kiến của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp?
- Mức độ trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp
- Áp lực hiện tại của khách hàng đối với doanh nghiệp và xu hướng sắp tới
• Thiết lập chiến lược tiếp cận phù hợp
3.2 Người cung ứng
Ảnh hưởng:
• Cung ứng các nguồn lực đầu vào cho doanh nghiệp
• Một số nhóm nhà cung ứng có thể tạo ra các chính sách và qui định ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Yêu cầu đặt ra:
• Tìm hiểu rõ về nhà cung ứng, tạo được mối quan hệ gắn bó, tin cậy.
• Đa dạng hóa nguồn cung ứng để tránh tình trạng bị động, phụ thuộc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status