BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA ĐIỀU DƯỠNG
TẠ THỊ PHƯƠNG
B00087
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ TỈ LỆ TUÂN THỦ
RỬA TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI KHOA NGOẠI VÀ
KHOA NỘI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỐNG ĐA – HÀ NỘI
TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP NHẰM TĂNG CƯỜNG VỆ SINH
BÀN TAY NĂM 2010 – 2011 ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HỆ VLVH Hà Nội, tháng 12 năm 2011
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các biểu đồ iv
Đặt vấn đề 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1. Tổng quan 4
1. Cơ sở khoa học của vệ sinh bàn tay 4
2. Nhiễm khuẩn bệnh viện 4
2.1. Định nghĩa NKBV 4
2.2. Tác nhân gây NKBV 4
2.3. Tình hình NKBV hiện nay 4
6. Phương pháp phân tích số liệu 12
7. Khía cạnh đạo đức nghiên cứu 12
CHƯƠNG 3. Kết quả 13
1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 13
2. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp 14
2.1. Kiến thức về VSBT trước và sau khi can thiệp 14
2.2.Tỉ lệ NVYT trả lời đúng câu hỏi về trình tự các bước của quy trình
rửa tay thường quy
15
2.3. Sự khác biệt về kiến thức VSBT theo một số yếu tố 16
3. Thái độ của NVYT với tuân thủ VSBT 17
3.1. Thái độ chung của NVYT về VSBT 17
3.2. Thái độ của NVYT với các yếu tố làm tăng tỉ lệ tuân thủ rửa tay 19
3.3. Sự khác biệt về thái độ với tuân thủ VSBT theo nghề nghiệp, giới
tính
19
4. Thực hành của NVYT về VSBT 20
2. Thái độ của NVYT với sự tuân thủ vệ sinh bàn tay 30
Thang Long University Library3. Thực hành vệ sinh bàn tay của NVYT 30
CHƯƠNG 6. Khuyến nghị 31
Tài liệu tham khảo 32
Phụ lục 34
Phụ lục 1 34
Phụ lục 2 41
Phụ lục 3
45
Phụ lục 4
46
Phụ lục 5
49i
LỜI CẢM ƠN
BN Bệnh nhân
BS Bác sỹ
CDC Trung tâm dự phòng và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ
(Centre for Diseases Control and Prevention)
ĐD ĐD
HIV Vi rút gây Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn
MRSA Tụ cầu kháng kháng sinh Methicillin
(Methicillin Resistant Staphylococcus Aureus)
NKBV Nhiễm khuẩn bệnh viện
NVYT Nhân viên y tế
SCT Sau can thiệp
TCT Trước can thiệp
WHO Tổ chức Y tế thế giới
(World Health Organization)
YTCC Y tế công cộng
iii
DANH MỤC BẢNG
thường quy 155
Biểu đồ 3. Sự khác biệt về kiến thức VSBT theo trình độ học vấn 176
Biểu đồ 4. Tỉ lệ tuân thủ rửa tay thường quy theo các thời điểm tiếp xúc với người
bệnh 22
Biểu đồ 5. Tỉ lệ rửa tay đúng theo các cơ hội của NC trước và sau can thiệp 233
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO), nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là các nhiễm
khuẩn xuất hiện sau 48h kể từ khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng
như không có ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. NVBK xảy ra ở khắp nơi
trên thế giới. Một số nghiên cứu đã đưa ra 5 hậu quả đối của NKBV đối với người
bệnh là: tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, ngày điều trị, chi phí điều trị và tăng sự
kháng thuốc của vi sinh vật. Chi phí điều trị cho một ca NKBV tại Việt Nam là từ 2
đến 32.5 triệu đồng tùy thuộc vào cơ quan/bộ phận bị NKBV [6]. Nỗ lực kiểm soát
các tác nhân gây NKBV hiện tại và tương lai vẫn còn là một thách thức đối với
những nhà quản lý y tế, những nhà nghiên cứu, thầy thuốc và ĐD lâm sàng.
Ngày nay, mặc dù kiến thức về kiểm soát NKBV ngày càng cao, kháng sinh phổ
rộng ngày càng nhiều và các biện pháp kiểm soát NKBV ngày càng được tăng
cường, song NKBV vẫn chưa giảm. Có nhiều phương thức lây truyền NKBV, tuy
nhiên sự lây truyền qua bàn tay NVYT là một trong những nguyên nhân hàng đầu
[4]. Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định vệ sinh tay với dung dịch sát khuẩn tay chứa
cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyên tác nhân gây bệnh trong
các cơ sở y tế. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 18/2009/TT-BYT
ngày 14 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm
khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó đã quy định thầy thuốc, NVYT, sinh
viên/học sinh và người bệnh, người nhà người bệnh khi đến bệnh viện phải rửa tay
theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh [1].
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại các bệnh viện nhằm đánh
năm 2010-2011”
3
MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả can thiệp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và sự tuân thủ rửa tay
của NVYT tại khoa Ngoại và khoa Nội bệnh viện Đống Đa, Hà Nội trước và sau
can thiệp nhằm tăng cường vệ sinh bàn tay năm 2010-2011.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Mô tả kiến thức, thái độ và tỉ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tại khoa Ngoại và
khoa Nội tại bệnh viện Đống Đa trước (tháng 11/2010) và sau khi can thiệp (tháng
3/2011).
2.2. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng tới việc tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế
(NVYT)
Quận/Huyện cho thấy, tỉ lệ NKBV trung bình là 7,8%. Trong đó các bệnh viện
tuyến TW có tỉ lệ NKBV là 5,4%; các BV tuyến tỉnh/thành phố có tỉ lệ NKBV là
8,3% cao hơn tỉ lệ NKBV ở các BV tuyến quận/huyện là 6,4%. Tác nhân gây
5
NKBV hàng đầu là Pseudomonas aeruginosa, tiếp đó là Acinetobacte baumani và
nấm Candida [6].
2.4 . Hậu quả của Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề với bệnh nhân cũng như các
NVYT. Các hậu quả của NKBV bao gồm:
a) Tăng chi phí và tăng ngày điều trị:
Tại Việt Nam, thông tin tại Đại hội Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội năm 2008
cho thấy, mỗi NKBV làm kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9.4 đến 24.3
ngày và làm tăng chi phí điều trị trung bình từ 2-32,3 triệu đồng [7]. Đây quả là một
số tiền lớn so với mức thu nhập trung bình của người dân tại thời điểm năm 2008
mới là 1024 USD tương đương gần 16 triệu đồng [8].
Các bệnh nhân mắc NKBV đòi hỏi nhu cầu chăm sóc và điều trị cao hơn do đó làm
tăng thêm áp lực công việc cho các NVYT vốn đã làm việc trong tình trạng quá tải.
b) Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật
Nhiễm khuẩn bệnh viện không những gây hậu quả nặng nề về mặt lâm sàng, kinh tế
mà còn là nguyên nhân làm tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật, làm xuất hiện
những chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh (ví dụ như MRSA – tụ cầu kháng kháng
sinh Methicillin) là nguyên nhân dẫn đến tử vong trong các bệnh viện. Tại Hoa Kỳ,
tháng 10/2010, CDC công bố số người chết do MRSA đã vượt quá số người chết vì
bệnh AIDS. Trong số các bệnh viện được khảo sát, MRSA được tìm thấy ở 176
bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 45%, trong đó 7,7% bị lây khi đang nằm viện.
c) Các hậu quả khác
NKBV còn làm tăng tỉ lệ tử vong và tăng các biến chứng cho người bệnh.
NKBV không chỉ gây biến chứng nặng nề cho bệnh nhân, là nguy cơ lây nhiễm cho
NVYT, NKBV còn làm giảm chất lượng điều trị và uy tín của bệnh viện.
tay với các loại hóa chất khác nhau
Đánh giá được tầm quan trọng của VSBT trong việc phòng ngừa và giảm bớt tỉ lệ
NKBV, từ năm 1996 Bộ Y tế đã đã ban hành Quy trình rửa tay thường quy có minh
hoạ bằng hình ảnh. Năm 2007, dựa trên hướng dẫn mới nhất của Tổ chức Y tế Thế
giới về phương pháp rửa tay thường quy và sát khuẩn tay bằng cồn, Bộ Y tế đã mời
các chuyên gia y tế và chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn sửa đổi quy trình cho phù
hợp với điều kiện Việt Nam và ban hành công văn số 7517/BYT-Đtr ngày 12 tháng
7
10 năm 2007 đề nghị các Sở Y tế, các đơn vị tổ chức cho cán bộ, nhân viên bệnh
viện học tập và thực hiện theo hướng dẫn mới và treo Quy trình rửa tay bằng hình
ảnh ở những vị trí thuận lợi để NVYT thực hiện theo quy định [2]. Năm 2009, Bộ Y
tế đã ban hành Thông tư 18/2009/TT-BYT: Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác
KSNK tại các cơ sở khám, chữa bệnh. Điều 1 của Thông tư quy định “Thầy thuốc,
NVYT, học sinh, sinh viên thực tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ rửa
tay đúng chỉ định và đúng quy trình kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Người
bệnh và người nhà người bệnh, khách đến thăm phải rửa tay theo quy định và
hướng dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh”[1].
4. Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và tỉ lệ tuân thủ VSBT của NVYT
4.1. Nghiên cứu trên thế giới
Tuân thủ VSBT phòng tránh được NKBV, tuy nhiên tỉ lệ tuân thủ rửa tay của các
NVYT còn rất thấp.
Năm 2002, tại Italia, Nobile và cộng sự đã tiến hành đánh giá Kiến thức, thái độ và
thực hành VSBT của các NVYT tại các khoa hồi sức tích cực của 24 BV vùng
Campania và Calabria. Kết quả cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức đúng, tỉ lệ có
thái độ tích cực về VSBT là 96,8%, thái độ tích cực của nhóm NVYT có trình độ
học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn một cách có ý nghĩa so với các nhóm
khác. Trong nghiên cứu này tỉ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tại thời điểm trước khi
chăm sóc người bệnh đạt 60% và sau khi chăm sóc người bệnh đạt 72,5%. Tỉ lệ này
hợp cùng Unilever Việt Nam thực hiện. Một trong các hoạt động của dự án tại bệnh
viện là triển khai chiến dịch vệ sinh bàn tay với mục đích nâng tỉ lệ tuân thủ rửa tay
của nhân viên y tế lên 60%. Dự án được thực hiện qua 3 giai đoạn
Giai đoạn 1: Khảo sát số bồn rửa tay cần lắp mới, cần sửa chữa và số lượng các
phương tiện rửa tay khác cần cung cấp cho bệnh viện. Khảo sát số lượng và các vị
trí dán poster khuyến khích nhân viên y tế tuân thủ vệ sinh bàn tay
Tập huấn giảng viên về vệ sinh bàn tay và cán bộ thu thập số liệu (do Cục Quản lý
khám, chữa bệnh tổ chức)
Đánh giá trước can thiệp (tháng 11 năm 2010)
Giai đoạn 2: Can thiệp (tháng 12/2010 đến tháng 2/2011)
- Tổ chức lễ phát động vệ sinh bàn tay trong toàn bệnh viện với sự tham gia
của 100% nhân viên y tế công tác tại bệnh viện.
9
- Tập huấn về kiến thức, kỹ thuật và tầm quan trọng của việc vệ sinh bàn tay
cho 100% nhân viên y tế công tác tại bệnh viện.
- Cung cấp các phương tiện phục vụ vệ sinh bàn tay: khăn lau tay, dung dịch
xà phòng diệt khuẩn, bánh xà phòng diệt khuẩn, chai dung dịch sát khuẩn tay
nhanh chứa cồn (dung tích 55ml/chai) cho NVYT Khoa Ngoại và khoa Nội
của bệnh viện.
- Phát tờ rơi về quy trình rửa tay cho các NVYT, in và dán poster khổ lớn
khuyến khích NVYT rửa tay tại các vị trí dễ nhìn.
Giai đoạn 3: Đánh giá sau can thiệp (tháng 3/2011)
hiện bằng phương pháp phát vấn, sử dụng bộ công cụ đánh giá kiến thức và thái độ
về VSBT gồm 31 câu hỏi tự điền, thực hiện vào các buổi giao ban tại các khoa.
Nghiên cứu được tiến hành theo 3 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Tiến hành đánh giá kiến thức, thái độ và tỉ lệ tuân thủ rửa tay của
NVYT tại BV (tháng 11 năm 2010) như đã mô tả trong phần trên.
Giai đoạn 2: Can thiệp (tháng 12/2010 – 2/2011) với một số hoạt động chính như
sau:
Tổ chức lễ phát động VSBT trong khoa với sự tham gia của 100% NVYT
công tác tại khoa.
Tập huấn về kiến thức, kỹ thuật và tầm quan trọng của việc VSBT cho 100%
NVYT công tác tại khoa.
Cung cấp các phương tiện phục vụ VSBT như: khăn lau tay, dung dịch xà
phòng diệt khuẩn, bánh xà phòng diệt khuẩn, chai dung dịch sát khuẩn tay nhanh
chứa cồn (dung tích 55ml/chai) cho NVYT trong khoa.
11
Phát tờ rơi về quy trình rửa tay cho các NVYT, in và dán poster khổ lớn
khuyến khích NVYT rửa tay tại các vị trí dễ nhìn.
Giai đoạn 3: Đánh giá kiến thức thái độ và tỉ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tại BV
sau can thiệp (tháng 3 năm 2011).
Đánh giá tỉ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT được thực hiện bằng phương pháp quan
sát điền vào bảng kiểm (quan sát không tham gia). Các quan sát viên sử dụng bộ
công cụ và cách đánh giá sự tuân thủ rửa tay (được xây dựng dựa trên bộ công cụ và
cách tiến hành đánh giá tuân thủ rửa tay đã được chuẩn hóa của Tổ chức Y tế thế
giới thực hiện trên khắp các bệnh viện toàn thế giới) chọn vị trí quan sát không gây
sự chú ý đối với NVYT và quan sát các đối tượng thực hiện những thao tác chăm
sóc, điều trị bệnh nhân tại buồng bệnh hoặc giường bệnh trong khoa. Thời gian của
mỗi lần giám sát là 20±10 phút (tùy thuộc vào thao tác chăm sóc NVYT thực hiện
trên người bệnh), nếu hết thời gian quan sát NVYT chưa kết thúc thao tác chăm sóc
bệnh nhân, thì quan sát viên tiếp tục quan sát cho tới khi NVYT hoàn thành thao tác
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Bệnh viện Đống Đa Hà Nội.
Các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ về mục đích nghiên cứu.
Các thông tin cá nhân về đối tượng được giữ bí mật bằng cách mã hoá.
Nghiên cứu không có tác động nào trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu.
13
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Thông tin về tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu
Trước can thiệp
(n = 70)
Sau can thiệp
(n = 58)
Thông tin chung
n % n %
≤ 29 tuổi 25
Tuổi trung bình
35,9 ± 9,5 35,4 ± 9,3
Nam 20
28,6
14
24,1
Giới tính
Nữ 50
71,4
44
75,9
Số lượng NVYT tham gia vào điều tra TCT là 70 người, SCT là 58 người. Phần lớn
đối tượng nghiên cứu ≤ 29 tuổi (chiếm trên 35,7%). Về giới tính, đa phần đối tượng
tham gia nghiên cứu là nữ (chiếm trên 70%).
Bảng 2. Thông tin về nghề nghiệp, trình độ học vấn và thâm niên công tác của
đối tượng nghiên cứu
Trước can thiệp
(n = 70)
Sau can thiệp
(n=58)
Thông tin chung
15,7
9
15,5
Cao đẳng 4
5,7
2
3,5
Trung học chuyên nghiệp 45
64,3
39
67,2
Thâm niên công tác tại viện
Dưới 5 năm 25
35,7
22
37,9
Về trình độ học vấn: đa số đối tượng có trình độ trung học chuyên nghiệp (chiếm
trên 64%), trình độ cao đẳng chiếm số lượng ít (chỉ chiếm trên 5%).
Về thời gian công tác: số đối tượng có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm tỉ lệ
lớn (trên 35%), số đối tượng có thâm niên công tác lâu trên 15 năm chỉ chiếm
29,2%.
Bảng 3. Kiến thức về VSBT của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp
Số lượng
Nội dung
Tần số
(n=70)
%
Được học về quy trình rửa tay thường quy trong thời
gian học trường Y
51 72,9
Được cập nhật kiến thức về VSBT từ khi tốt nghiệp đến
năm 2010
66 94,3
Trong năm 2010 được bệnh viện/khoa phòng phổ biến
về quy định/hướng dẫn rửa tay thường quy của BYT
69 89,6
Trước can thiệp, phần lớn các đối tượng đã được cập nhật kiến thức liên quan đến
VSBT (94,3%), và được hướng dẫn về các quy định của BYT liên quan đến tuân
thủ rửa tay thường quy (89,6%). Tuy nhiên chỉ có 72,9% số đối tượng trả lời đã
được học về quy trình rửa tay thường quy trong thời gian học tại trường Y.
2. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước và sau khi can thiệp
2.1. Kiến thức về VSBT trước và sau khi can thiệp
Phần kiến thức về VSBT gồm 19 câu hỏi tự điền, trả lời đúng 1 câu được 1 điểm,
tổng điểm là 19 điểm. NVYT đạt được từ 11 điểm trở lên là đạt yêu cầu, đạt từ 0 –
10 điểm là không đạt yêu cầu.
Bảng 4. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về VSBT trước và sau khi can thiệp
*
Điểm trung bình 10,9 ± 2,4 12,7 ± 2,1**
15
*: p< 0,05 (TCT so với SCT) ; **: p< 0,05 (TCT so với SCT).
Có 59,5% NVYT ở điều tra TCT đạt yêu cầu về kiến thức VSBT, tỷ lệ này sau can
thiệp tăng lên 82,5%. Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (χ²=21,9, p<0.05, OR
= 3,2, 95% CI= 1,9 – 5,3).
Điểm trung bình KT của NVYT trước can thiệp là 10,9 ± 2,4, sau can thiệp điểm
này tăng một cách có ý nghĩa lên 12,7 ± 2,1 (p<0,05),
2.2. Tỉ lệ NVYT trả lời đúng câu hỏi về trình tự các bước của quy trình rửa tay
thường quy
Các NVYT được yêu cầu sắp xếp lại 6 bước của quy trình rửa tay thường quy theo
trình tự đúng, kết quả được thể hiện ở biểu đồ sau
18.4%
60.6%
81.6%
39.4%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Trước can thiệp Sau can thiệp
(n2=53)
BS
(n1=14)
ĐD
(n2=44)
Không đạt ( 0 – 10 điểm) 10 (58,8%)
19 (35,8%)
4(38,6%)
6 (13,6%)
Đạt (≥ 11 điểm) 8 (41,2%)
34(64,2%)
10 (61,4%)
a
38 (86,4%)
Tổng 18 (100%)
53 (100%)
14 (100%)
44 (100%)*
Điểm trung bình 10±2,8 11,3±2,1 12,2±2,6 12,9±1,9**
80%
90%
100%
Sau
ĐH
ĐH CĐ THCN Sau
ĐH
ĐH CĐ THCN
Trước can thiệp Sau can thiệp
Kiến thức không Đạt
Kiến thức Đạt