NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ
- HÀNH VI VỀ DINH DƯỠNG, SỨC KHỎE BÀ MẸ
TRẺ EM, NƯỚC SẠCH,VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TẠI BỐN HUYỆNKRÔNG PA, KÔNG CHRO,
MANG YANG VÀ KBANG – TỈNH GIA LAI
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3
I. Đặt vấn đề
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã kết luận rằng chất lượng nước và dung
lượng nước sinh hoạt có ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người. Nhiều vụ dịch bệnh
liên quan đến nước bị ô nhiễm như bệnh tả, thương hàn, lị, ỉa chảy, viêm gan A…đã và
đang xẩy ra ở cả những nước phát triển và đang phát triển. Thiếu nước cũng gây ảnh
hưởng trầm trọng, đặc biệt là sự phát sinh và lây nhiễm các bệnh về da, mắt và các bệnh
truyền qua đường phân miệng. Ước tính trên thế giới có khoảng 6 triệu người bị mù do
bệnh đau mắt hột và khoảng 500 triệu người có nguy cơ bị mắc bệnh này. Từ những năm
1990, Tổ chức Y tế thế giới thông báo 80% bệnh tật con người liên quan đến nước,
25,000 người chết hàng ngày là do các bệnh có liên quan đến nước. Vi khuẩn, vi rút và
ký sinh trùng có khả năng lây truyền thông qua đất, nước, côn trùng, tay bẩn, từ đó thông
qua thức ăn có thể gây ra các bệnh tiêu chảy (bao gồm cả bệnh lỵ và bệnh tả), nhiễm ký
sinh trùng và đau mắt hột. Trên toàn thế giới hàng năm có gần 2 tỷ người bị lây nhiễm ký
sinh trùng đường ruột có tới 500 triệu người có nguy cơ bị đau mắt hột, 146 triệu người
bị đe dọa bởi mù lòa. Ngoài ra, có tới 133 triệu người bị mắc các bệnh đường ruột như
nhiễm giun sán, mà thường dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hơn như suy giảm nhận thức,
kiết lỵ lớn, hoặc thiếu máu. Những bệnh này gây ra khoảng 9400 ca tử vong mỗi năm.
Năm 2010, các nhà khoa học hàng đầu về lượng giá gánh nặng bệnh tật do các yếu tố
nguy cơ đã tiến hành hệ thống hóa các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến gánh nặng
bệnh tật do ô nhiễm nước gây ra, kết quả cho thấy ô nhiễm nước chịu trách nhiệm cho
116,126 DALYs cho toàn cầu.
phân loại rác tại hộ gia đình, những loại rác khô dễ cháy thì được đốt ngay tại vườn, một
số thì đào hố chôn lấp, rác hữu cơ thì có thể tiết kiệm làm thức ăn cho gia súc hoặc làm
phân bón.
Đối với việc tiếp cận với các kênh thông tin giáo dục truyền thông, phần lớn người dân đã
từng nghe nói/đọc các thông tin liên quan đến nước sạch VSMT và từ nhiều nguồn khác
nhau. Các nguồn thông tin mà người dân tiếp nhận được chủ yếu là thông qua họp thôn,
loa phát thanh xã/thôn, cán bộ chính quyền đoàn thể, từ đài phát thanh, truyền hình của
tỉnh và trung ương.
Tỉnh Gia Lai đang thực hiện các giải pháp nâng cao hệ số sử dụng nước sạch và vệ
sinh môi trường ở vùng nông thôn, phấn đấu đến năm 2015 có 85% số dân sử dụng, trong
đó 35% số dân sử dụng nước đạt quy chuẩn của Bộ Y tế; trên 38% hộ gia đình có nhà
tiêu, 39% hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại, 100% trường học mầm non và phổ
thông (điểm trường chính), trạm y tế có nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh. Qua kết quả
kiểm tra, giám sát của Ban Dân tộc – Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai về việc thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường cho thấy, nhiều công
trình nước sạch trên địa bàn tỉnh sử dụng kém hiệu quả, ảnh hưởng đến đời sống và sinh
hoạt của người dân, nhất là ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện nay, vẫn còn một
số nơi vùng sâu xa trong tỉnh có nước, có nhà tiêu nhưng không đưa vào sử dụng mà ra
sông suối để lấy nước về dùng và sinh hoạt bừa bãi. Hơn nữa, công tác vận động, tuyên
truyền, giáo dục nâng cao ý thức của người dân về nước sạch và vệ sinh môi trường chưa
được chú trọng, nhất là ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều buôn làng dân tộc
vẫn còn tình trạng nuôi gia súc thả rông hoặc nuôi nhốt gần nơi ở, dưới sàn nhà; những
công trình nước sạch được xây dựng gần nơi đồng cỏ bị trâu bò gây hư hỏng.
5
Ở Gia Lai, nước sinh hoạt ở nông thôn chưa đạt tiêu chuẩn.Trung tâm Y tế dự phòng
Tỉnh đã xét nghiệm được 256 mẫu. Kết quả, 180 mẫu không đạt tỷ lệ về vi sinh hóa, chỉ
có 76 mẫu đủ tiêu chuẩn, phần lớn các mẫu không đạt là do độ đục, các hợp chất hữu cơ
cao, tỷ lệ sắt Florua, các chỉ số E.coli, Coliform đều cao.,vv. Nguyên nhân chính dẫn đến
các hợp chất chiếm tỷ lệ cao là do vệ sinh tại các nguồn nước không đảm bảo, bị ô nhiễm
ngay từ đầu nguồn nước. Một trong những nguyên nhân được đề cập đến là do nhận thức
quan đến y tế (tiêm chủng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, kiểm soát bệnh tả, nhiễm trùng hô
6
hấp cấp, cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn); (iv) Khả năng phân tích số liệu của
các cán bộ y tế còn hạn chế và chưa có các thông tin và dữ liệu phân tách cần thiết để xác
định những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất nhằm phục vụ cho việc hoạch định y tế
tại địa phương.
Thêm vào đó, hạn chế trong năng lực thực hiện hiệu quả công tác truyền thông cộng đồng
nhằm chăm sóc sức khỏe, cải thiện các thông tin, kiến thức và thực hành cơ bản trong
lĩnh vực chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe đặc biệt với đối tượng là bà mẹ và trẻ em là
một trong những lĩnh vực chương trình hướng tới hỗ trợ.
Trung Tâm Truyền Thông Gia Lai trực thuộc Sở Y Tế và dưới sự điều hành chuyên môn
của TTTT Trung Ương được thống nhất đóng vai trò đầu mối và thực hiện các hoạt động
truyền thông của hợp phần Vì Sự Sống Còn và Phát Triển trong chương trình hợp tác
2012-2016. Qua những cuộc họp làm việc giữa UNICEF và Sở Y Tế và Trung Tâm
Truyền Thông, một trong những ưu tiên cho hoạt động truyền thông trong chu kỳ của
chương trình được xác định là việc thực hiện các nghiên cứu điều tra về kiến thức, thái
độ và thực hành (KAP) một số các chỉ số về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, dinh
dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm cung cấp thông tin cho các can thiệp
truyền thông nhằm thay đổi hành vi, nâng cao nhận thức và dẫn đến thay đổi cộng đồng
trong các thói quen và tập quán có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, cụ thể là
bà mẹ và trẻ em.
Do vậy, một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi của người dân địa phương tại 4
huyện dự án về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe y tế, dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh được
đề xuất thực hiện nhằm cung cấp thông tin cho các can thiệp truyền thông của tỉnh Gia
Lai.
Nghiên cứu triển khai với 3 mục tiêu chính:
1. Mô tả kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi
trường tại 4 xã thực hiện dự án.
2. Mô tả kiến thức và thực hành của người dân về dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe
bà mẹ trẻ em.
Các bước chọn mẫu tại thực địa bao gồm:
Bước 1: Chọn xã từ các huyện được chọn: Chọn mỗi xã từ mỗi huyện thuộc 4 huyện
Krông Pa, Kông Chro, Mang Yang và K' Bang được chọn từ đầu bằng phương pháp bốc
thăm bằng cách viết tên các xã của từng huyện lên mỗi thăm và chọn ngẫu nhiên 1 thăm
từ số thăm tương ứng với số xã trong mỗi huyện. Sau bốc thăm ta sẽ có danh sách 4 xã
thuộc 4 huyện Krông Pa, Kông Chro, Mang Yang và K' Bang được chọn từ đầu. 4 xã
được chọn cụ thể là: Lơ Pang (huyện Mang Yang), Lơ Ku (huyện Kbang), Đăk Sông
(huyện Kông Chro) và Chư Đrăng (huyện Krong Pa).
Bước 2: Chọn hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã được chọn: Để thực hiện
việc chọn ngẫu nhiên các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại các xã được chọn, cán bộ y tế của
từng xã sẽ lên danh sách bà mẹ có con dưới 5 tuổi vào tháng 11/2013. Cỡ mẫu của từng
xã/ấp được tính tỷ lệ theo dân số và được chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
với khung mẫu là danh sách bà mẹ có con dưới 5 tuổi của từng xã và với khoảng cách
mẫu là tổng số hộ có bà mẹ dưới 5 tuổi trong xã chia cho số hộ cần điều tra trong xã đó.
Tương ứng với mỗi xã được chọn, cỡ mẫu cụ thể cho mỗi xã ở 4 huyện là: Krông Pa: 120
bà mẹ, Kông Chro: 120 bà mẹ, Mang Yang: 80 bà mẹ và K’Bang: 80 bà mẹ.
8
Biến số và bộ công cụ định lượng thu thập số liệu:
Dựa trên mục tiêu của nghiên cứu, 4 bộ câu hỏi được xây dựng để đáp ứng được
nhu cầu thu thập các thông tin cần thiết, bao gồm: 01 bộ câu hỏi dành cho bà mẹ có trẻ
dưới 5 tuổi nhằm thu thập các thông tin liên quan đến kiến thức và thực hành của mẹ
trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, 01 bộ câu hỏi phỏng vấn đối tượng hộ gia đình
về thực trạng sử dụng và kiến thức thực hành liên quan đến nước sạch, nhà tiêu và vệ
sinh môi trường. 02 bộ câu hỏi quan sát tương ứng với quan sát các nguồn nước và nhà
tiêu, vệ sinh xung quanh của hộ gia đình nhằm bước đầu đánh giá được nguy cơ ô nhiễm
nước và vệ sinh của hộ gia đình tham gia nghiên cứu.
02 bộ câu hỏi quan sát được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu đánh giá nguy cơ ô
nhiễm nước và vệ sinh của Bộ Y tế và Cục quản lý môi trường y tế. Bộ câu hỏi quan sát
đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu đánh giá ban đầu về nguy cơ ô nhiễm nguồn
nước và vệ sinh tại hộ gia đình. Bộ câu hỏi cũng được thử nghiệm trên thực tế địa bàn
Cách thức thu thập thông tin: Phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và quan sát không tham dự.
Thảo luận nhóm: mỗi xã 3 cuộc x 4 xã = 12 cuộc
Phỏng vấn sâu: mỗi xã 3 cuộc x 4 xã = 12 cuộc
10
III. Kết quả nghiên cứuvà bàn luận
III.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 4 huyện địa bàn của Gia Lai là K’Bang, Kông
Chro, Krông Pa và Mang Yang với cỡ mẫu lần lượt là 80 (20,1%), 119 (29,8%), 120
(30%) và 80 (20,1%).Đặc điểm của đối tượng và hộ gia đình được mô tả ở các bảng 1
dưới đây.
Bảng 1. Đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu
Các đặc trưng N %
Giới tính
Nam 18 4,5
Nữ 381 95,5
Dân tộc
Kinh 14 3,5
Tày 15 3,8
Bana 253 63,4
Gia Rai 108 27
Khác 20 2,3
Tôn giáo
Thiên chúa 18 4,5
Tin lành 14 3,5
Đạo phật 11 2,8
Cao đài 9 2,3
Không theo tôn giáo 365 91,5
Số thành viên
trong gia đình
Ít hơn hoặc bằng 5
nhất trong nhóm các đối tượng theo đạo (4,5%). Các kết quả này phù hợp với đặc điểm
dân số, địa lý của địa phương khi các huyện này chủ yếu là các đồng bào Bana và Gia Rai
sinh sống.
Liên quan đến trình độ học vấn, tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu bị mù chữ (49,1%),
tỷ lệ chỉ biết đọc biết viết chiếm đến 13% tổng số đối tượng nghiên cứu. Tốt nghiệp đại
học/cao đẳng chỉ có 2,3%. Kết quả này phản ánh đúng thực trạng của người dân tại địa
phương. Việc tham gia học tập thỏa mãn các bậc học không được chú trọng.
Nghề nghiệp chủ yếu của đối tượng nghiên cứu là nghề nông (chiếm 85% cơ cấu
nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu).Tỷ lệ hộ nghèo là 50,9% trong tổng số đối
tượng nghiên cứu.
12
III.2. Thực trạng, kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng nước sạch,
vệ sinh môi trường
III.2.1. Kiến thức của người dân về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường
Bảng 2. Kiến thức của người dân về nước sạch
T
r
o
n
g,
k
h
ô
n
g
m
à
u
K
h
u
ch
uẩ
n
củ
a
B
YT
T
í
n
h
c
h
u
n
g
7
0,
7
4
8
,
3
4,
7
1,
3
0,0
K
6
28
,6
50
,0
0
K
r
3
0,
3
4
0 0 0
13
o
n
g
P
a
8 ,
9
M
a
n
g
Y
a
n
g
1
sinh vật hay không hóa chất được ghi nhận với tỷ lệ rất thấp (ít hơn 5%). Không một đối
tượng nghiên cứu nào biết về tiêu chuẩn của BYT đối với nước sạch. Kết quả này cho
thấy người dân tại đây hoàn toàn thiếu hụt kiến thức liên quan đến nước sạch, điều này
trực tiếp ảnh hưởng đến các hành vi sử dụng nguồn nước cũng như các hành vi trong xử
lý nước của các đối tượng nghiên cứu. Bảng 6 liệt kê tỷ lệ người dân biết về sự cần thiết
khi sử dụng nước cần đun sôi.
Nhìn chung, chỉ có 31,7% tổng số đối tượng biết về sự cần thiết phải uống nước
đun sôi. Trong đó những đối tượng ở huyện KBang có tỷ lệ nhận biết là cao nhất. Điều
này cũng tương đối phù hợp với thực trạng sử dụng nguồn nước ở huyện này. Huyện
KBang có nguồn nước ăn uống và sinh hoạt chủ yếu là nước sông/suối chưa qua lọc phèn
và nước chảy.
Bảng 3. Biết về sự cần thiết phải uống nước đun sôi
KBang KrongChro Krông Pa MangYan
g
Tính
chung
Có biết 87,5 15,3 18,3 20,3 31,7
Không biết 12,5 84,7 81,7 79,7 68,3
14
Tổng 100 100 100 100 100
Với 126 đối tượng có nhận biết về sự cần thiết khi uống nước đun sôi (tương ứng
31,7% quần thể nghiên cứu), sự lý giải đối với hành vi này được mô tả theo bảng 4. Kết
quả cho thấy có 71% đối tượng trong tổng số 126 đối tượng này có nhận thức đúng về
việc lý giải tại sao phải uống nước đun sôi. Vẫn còn đến 29% số đối tượng còn có kiến
thức sai về hành vi này.
Bảng 4. Lý giải về việc phải uống nước đun sôi
KBang KrongChro Krông Pa MangYan
g
Tính
chung
Sàn khô, sạch Không có mùi hôi, ruồi nhặng Cách xa nguồn nước
KBang 16,2 22,6 37,5
Kông Chro 36,8 32,1 25,0
Krong Pa 36,8 31,0 25,0
MangYang 10,3 14,3 12,5
Tính chung 34,7 42,9 4,1
Kiến thức của người dân liên quan đến nhà tiêu hợp vệ sinh được trình bày trong
bảng 5. Trong tổng số 399 đối tượng nghiên cứu, chỉ có 57,8% số đối tượng, tương ứng
với 196 người trả lời các câu hỏi về kiến thức liên quan đến nhà tiêu vệ sinh. Tuy nhiên,
theo ghi nhận ở bảng 5, đa số những đối tượng này chỉ nêu được 2 đặc điểm của nhà tiêu
hợp vệ sinh là sàn khô, sạch sẽ và không có mùi hôi thối, không có ruồi nhặng. Chỉ có
4,1% số đối tượng nêu được nhà vệ sinh cần phải cách xa nguồn nước sử dụng. Điều này
cho thấy việc cần thiết của những can thiệp truyền thông nhằm nâng cao kiến thức của
người dân đối với vấn đề vệ sinh.
16
III.2.2. Thực hành của người dân về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường
Bảng 6 dưới đây trình bày thực trạng sử dụng nguồn nước trong sinh hoạt của các đối
tượng nghiên cứu theo từng huyện và chung cho toàn bộ nghiên cứu.
Bảng 6. Thực trạng sử dụng nguồn nước trong sinh hoạt của người dân địa phương
Địa điểm Loại nguồn nước
Nước
sông/suối
lắng phèn
Nước
sông/suối
Nước giếng
đào
Nước
giếng
khoan
Nước
giếng
khoan
Nước chảy
Tính chung 38,5 1,8 50,3 2,4 13,5
KBang 0 16,7 19,3 62,5 60,9
Kông Chro 78,6 0 2,3 5,5 4,3
Krong Pa 21,4 16,7 51,5 12,5 0
Mang Yang 0 66,7 26,9 20 34,8
Tổng 100 100 100 100 100
Nguồn nước được sử dụng phục vụ cho mục đích ăn uống được trình bày tại bảng
3. Kết quả cho thấy điểm tương đồng với kết quả được chỉ ra ở bảng 7 khi nước giếng
đào được sử dụng làm nguồn nước ăn uống chính (50,3%). Điểm khác biệt tương đối rõ
ràng trong nhận thức của người dân được tìm hiểu cho thấy, với mục đích ăn uống, nguồn
nước sông/suối có lắng phèn trở thành nguồn nước được người dân sử dụng đứng thứ 2
(chiếm 38,5%) trong các nguồn nước được liệt kê. Với mục đích sinh hoạt, nguồn nước
sông/suối không lắng phèn lại là nguồn nước đứng thứ 2. Điều này cho thấy nhận thức
của người dân trong việc lựa chọn nguồn nước phục vụ cho ăn uống tương đối tốt.Tuy
nhiên, xem xét chi tiết theo từng huyện thì người dân huyện Mang Yang và Kbang vẫn sử
dụng luôn nguồn nước sông/suối không lắng phèn và nguồn nước chảy làm nguồn nước
phục vụ ăn uống. Lý giải cho điều này, nghiên cứu cho kết quả tìm hiểu và quan sát
tương đồng khi địa bàn 2 huyện được các dự án nước ngoài xây dựng, trang bị cho hệ
thống nước chảy. Vị trí địa lý của địa bàn 2 huyện không phù hợp cho các nguồn nước vệ
sinh hơn như giếng đào và giếng khoan.
18
Bảng 8. Trung bình điểm quan sát nguồn nước sử dụng tại hộ gia đình
Nước chảy Nước giếng đào Nước giếng
khoan
Dụng cụ
chứa nước
gây ô nhiễm và cần thiết có các biện pháp khống chế. Nguồn nước giếng khoan và dụng
cụ chứa nước có kết quả điểm nguy cơ thấp, điều này cho thấy 2 nguồn nước này chưa
thực sự có những nguy cơ ô nhiễm rõ ràng (0,02 và 0,55).
19
Khi xem xét chi tiết điểm trung bình nguy cơ theo từng huyện, với nguồn nước
chảy, huyện Mang Yang có dấu hiệu cho thấy có nguy cơ cao gây ô nhiễm nguồn nước
(2,2). Với nguồn nước giếng đào, kết quả cho thấy, nếu xét riêng huyện KBang, nguồn
nước giếng đào cho kết quả điểm trung bình nguy cơ vượt mức 5 điểm (5,6), điều này
cho thấy với huyện KBang, nguồn nước giếng đào đã có sự ô nhiễm và sự ô nhiễm này
có thể có những ảnh hưởng lên sức khỏe người dân nếu tiếp tục sử dụng trong thời gian
dài mà không có các biện pháp can thiệp hiệu quả. Tiếp đến là huyện Kông Chro cũng có
nguy cơ nguồn nước giếng đào bị ô nhiễm (3,65). Hai huyện Mang Yang và Krông Pa
chưa có nguy cơ cao liên quan đến ô nhiễm nguồn nước giếng đào.
Mặc dù điểm trung bình chung nguy cơ chưa đạt mức báo động cao nhưng xem
xét chi tiết từng tiêu chí quan sát. Các nguồn nước trên địa bàn nghiên cứu đều đạt điểm
báo động liên quan đến các tiêu chí xung quanh (nguồn nước không cách xa nguồn thải,
chuồng gia súc, rác, phân) và hệ thống thoát nước, chứa nước hộ gia đình.
Ngoài việc tìm hiểu thực hành của đối tượng nghiên cứu liên quan đến sử dụng
nước, nghiên cứu còn tiến hành tìm hiểu thực trạng thực hành liên quan đến vấn đề vệ
sinh của người dân địa phương. Bảng 9 cho kết quả về thực trạng sử dụng các loại nhà
tiêu của các đối tượng nghiên cứu.
Bảng 9. Thực trạng sử dụng nhà tiêu của người dân địa phương
Hố xí tự
hoại
Hố xí thấm
dội
Hố xí chìm
có ống
thông hơi
Hố xí có
mà tận dụng vạt rừng quanh nhà. Cũng có những gia đình khá giả, có khả năng làm nhà
vệ sinh dội nước, nhưng họ cũng không làm. Thông qua trao đổi với y tế thôn bản, chúng
tôi ghi nhận được ý kiến như sau:
“Cái nhà vệ sinh ở đây em nghĩ là do họ không có nghĩ là cần làm nên là ai có
họ cũng không muốn làm luôn. Có nhà khá giả đó nhưng mà họ không có nghĩ tới. Nhà
vệ sinh giờ 15 triệu, 20 triệu chắc mấy người cũng làm được, nhưng họ không nghĩ tới,
không cần, kiểu không cần thiết lắm.” (Y tế thôn bản xã Chư Đrăng, huyện K’Bang)
Qua phỏng vấn, các chị em cho biết trong làng cũng có một số hộ gia đình có nhà
vệ sinh dội nước, song người già vẫn đi vệ sinh ở ngoài vì chưa biết sử dụng nhà vệ sinh.
Hơn nữa, người già vẫn có thói quen đi vệ sinh ở ngoài. Họ thấy không tự nhiên với nhà
vệ sinh kiểu mới.
21
Bảng 10. Điểm trung bình quan sát sử dụng nhà tiêu và quản lý rác tại hộ gia đình
Tự hoại/dội
nước
Chìm có
ống thông
hơi
Tự tạo Tình trạng thu gom
rác thải/vệ sinh
Điểm nguy cơ
quy chuẩn
0-1 0-1 0-1 0-1
Tính chung 0,6 0,23 0,02 0,83
KBang 0,025 0 0 0,39
KôngChro 0,36 0,47 0,08 1,03
Krong Pa 0,58 0,22 0,08 0,83
MangYang 1,52 0,13 0 0,96
Cũng tương tự việc quan sát thực tế sử dụng nguồn nước tại hộ gia đình, nghiên
cứu cũng song song yêu cầu điều tra viên tiến hành quan sát thực tế khu vực vệ sinh và
(k
h
ô
n
g
xà
p
h
ò
n
g)
T
hỉ
nh
th
oả
ng
(k
hô
ng
xà
ph
òn
g)
T
hư
ờn
g
xu
yê
n
g
5
,
8
53
,1
31
,3
9,
3
0,
5
K
B
a
n
g
8
,
7
21
,2
8,
0
62
,2
0,
0
K
5
29
,7
35
,2
5,
4
50
,0
M
a
n
g
Y
a
n
g
1
7
,
4
28
,8
10
,4
5,
4
0,
0
T
KBang 12,1 12,2 11,9 6,3
KôngChro 39,5 36,5 35,6 30,2
Krong Pa 33,9 37,8 37,6 22,3
MangYang 14,5 13,5 14,9 41,3
Tính chung 52,8% 31,5% 43,0% 26,8%
Trong tổng số 360 đối tượng nghiên cứu trong toàn bộ nghiên cứu không có hành
vi rửa tay hay rửa tay bằng xà phòng, nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin sâu hơn lý
giải hiện tượng này. Các thông tin được coi là nguyên nguyên dẫn đến hiện tượng này
được ghi nhận trong bảng 12. Các đối tượng nghiên cứu lý giải việc không rửa tay bằng
xà phòng là do họ thấy không quen (52,8%), cảm thấy không cần thiết cũng chiếm tỷ lệ
tương đối lớn với 31,5% số đối tượng nghiên cứu trả lời, 43% trong tổng số 360 đối
tượng nghiên cứu không rửa tay bằng xà phòng lý giải họ không dùng xà phòng vì họ
không có. Điểm này tương đồng với kết quả được tìm thầy trong phần quan sát và cũng
tương đồng với tình trạng kinh tế của địa bàn nghiên cứu (50,9% hộ gia đình trong
nghiên cứu là hộ nghèo). Các lý do khác được các đối tượng nghiên cứu liệt kê ở đây là
chỗ rửa tay không thuận tiện hay vị trí để xà phòng không tiện…
III.3. Thực trạng và kiến thức của các bà mẹ về sức khỏe bà mẹ, trẻ em
Song song với việc tìm hiểu các thông tin thực trạng liên quan đến nước sạch và
vệ sinh môi trường tại địa bàn nghiên cứu, mục tiêu quan trọng khác của nghiên cứu là
tìm hiểu các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em. 399 bà mẹ có
con dưới 5 tuổi được đưa vào vào nghiên cứu, tương đồng với cỡ mẫu nghiên cứu của
điều tra thực trạng nước và vệ sinh. Các bà mẹ này có tuổi trung bình là 27 tuổi, trong đó
tuổi trung bình của các bà mẹ ở Kông Chro là trẻ nhất (26 tuổi), các đối tượng ở các
huyện khác có độ tuổi trung bình tương đồng (27 tuổi). Tuy nhiên, sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê, điều này có thể cho thấy tính tương đồng về cơ cấu tuổi của
các bà mẹ tại các huyện nghiên cứu.
25