318 Tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam - Pdf 24

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nớc nông nghiệp, hiện có 73% dân số và 56% lao động
sinh sống và làm việc ở nông thôn. Do đó, nông nghiệp, nông thôn và nông dân
là những nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nớc ta đã quan tâm đầu t cho phát triển
nông nghiệp, nông thôn. Do đó, bộ mặt nông thôn có khởi sắc, kinh tế nông
nghiệp, nông thôn đợc đổi mới, đời sống nông dân đợc cải thiện, tình trạng đói
nghèo đợc giảm dần.
Tuy nhiên, mức đầu t cho nông nghiệp, nông thôn tuy có tăng nhng cha
đáp ứng đợc yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
Núi Thành là một huyện nghèo của tỉnh Quảng Nam, trình độ phát triển
còn thấp, trong khi tiềm năng về đất đai, rừng, biển và lao động dồi dào nhng
cha đợc khai thác và sử dụng có hiệu quả.
Để huy động vốn đầu t thúc đẩy quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn
cả nớc nói chung, huyện Núi Thành nói riêng, cần có sự tác động của nhiều nhân
tố, trong đó tín dụng ngân hàng là một nhân tố hết sức quan trọng.
Vì vậy, ngân hàng mà đặc biệt là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn cần phát huy vai trò, chức năng của mình nhằm thúc đẩy nông
nghiệp, nông thôn phát triển.
Xuất phát từ những lý do trên mà tác giả chọn đề tài: "Tín dụng của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với phát triển nông nghiệp, nông
thôn ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam" làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Gần đây có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài về hoạt
động tín dụng ngân hàng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn nh:
1
- Hà Huy Hùng (2003), Đổi mới hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Nghệ An, Luận án tiến sĩ

huyện Núi Thành.
Phạm vi nghiên cứu: Về tín dụng của NHNo&PTNT với phát triển nông
nghiệp, nông thôn ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ
2001 - 2005.
5. Phơng pháp nghiên cứu
ứng dụng các phơng pháp cơ bản nh: phơng pháp luận duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phơng pháp khái quát hoá, phơng pháp so sánh, thống
kê... và kết hợp với việc nghiên cứu lý luận, quan điểm, chính sách của Đảng,
Nhà nớc, các quy định, các qui chế của ngân hàng Nhà nớc, NHNo&PTNT.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Phân tích "Tín dụng của NHNo&PTNT với phát triển nông nghiệp,
nông thôn" từ đó nêu những thành tựu đạt đợc, những bài học thành công và
chỉ ra khiếm khuyết, hạn chế trong hoạt động NHNo&PTNT tại cơ sở, đặc biệt
về cho vay phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Núi Thành.
- Đa ra những giải pháp, kiến nghị đối với ngân hàng cấp trên, chính
quyền địa phơng nhằm hoàn thiện về mặt lý luận chung trong tổ chức chỉ đạo và
điều hành hoạt động ngân hàng No&PTNT ở huyện Núi Thành ngày càng tốt
hơn.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn kết cấu thành 3 chơng, 7 tiết.
3
Chơng 1
Mối quan hệ của ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn với việc phát triển
nông nghiệp, nông thôn
1.1. Tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
1.1.1. Khái niệm, bản chất tín dụng
Tín dụng ngân hàng nói chung, tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn nói riêng cũng mang tính chất chung của quan hệ tín dụng.

với cho vay dài hạn (Long - term loans).
Tín dụng xét theo nội dung hoạt động của các tổ chức tín dụng có nghĩa
khá rộng. Đó là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy
động để cấp tín dụng. Trong đó, cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận
để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả (gồm cả gốc
và lãi) bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ khác.
Quá trình phát triển tín dụng thơng nghiệp đã mở rộng và ăn sâu sang
lĩnh vực sản xuất làm xuất hiện hình thức tín dụng ngân hàng, nhờ sự phát triển
của hệ thống ngân hàng tín dụng đợc đẩy nhanh hơn bao giờ hết.
Tín dụng đợc xem là một trong những chức năng hoạt động cơ bản của
ngân hàng. Với cách tiếp cận này, tín dụng ngân hàng đợc hiểu nh sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho
vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân
doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản
cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận. Bên đi
vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn và lãi cho bên cho vay khi đến
thời hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả và có đặc trng sau:
5
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng Ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (động sản và bất động sản). Trớc những
năm 1960, hoạt động tín dụng của Ngân hàng hầu nh chỉ cho vay bằng tiền.
Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay đợc coi
nh đồng nghĩa với nhau. Ngày nay, dịch vụ Ngân hàng phát triển, việc cho thuê
vận hành và cho thuê tài chính đã đợc ngân hàng và các định chế tài chính khác
cung cấp cho khách hàng, đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một
hình thức tín dụng bằng tài sản thực (cho thuê văn phòng làm việc, phơng tiện
vận tải, máy móc, thiết bị.v.v.)

Thứ hai, kiểm soát các hoạt động kinh tế. Chức năng này đợc phát huy
tác dụng phụ thuộc vào sự phát triển của chức năng nói trên. Cụ thể là, thông
qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng góp phần phản ánh mức
độ phát triển nền kinh tế về các mặt nh: khối lợng tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội,
nhu cầu vốn trong từng thời kỳ. Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về
những quan hệ cân đối vốn trong nền kinh tế, đặc biệt là quan hệ giữa tích luỹ
và tiêu dùng.
Ngoài ra, trong hoạt động cho vay của ngân hàng, để góp phần đảm
bảo an toàn vốn, đảm bảo cho khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và có
hiệu quả, ngân hàng luôn thực hiện quá trình kiểm tra hoạt động kinh doanh
của khách hàng, đặc biệt là kiểm tra tình hình tài chính, qua đó sẽ phát hiện
kịp thời những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của khách hàng hoặc
những trờng hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của nhà nớc để cảnh báo,
nghiêm cấm hoặc có biện pháp xử lý kịp thời. Bên cạnh đó, trên cơ sở thực
hiện nguyên tắc cho vay có hoàn trả, tín dụng ngân hàng còn phản ánh kịp
thời tình hình quản lý và sử dụng vốn của các đơn vị có hiệu quả hay không.
Nh vậy, với chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế, tín
dụng sẽ góp phần giải quyết tình trạng mất cân đối cục bộ của nền kinh tế với
7
những giải pháp khắc phục kịp thời, từ đó phát huy vai trò quản lý và điều tiết vĩ
mô của Nhà nớc. Điều này cũng có nghĩa là tín dụng cần phải đợc vận dụng nh
một đòn bẩy kích thích phát triển kinh tế.
1.1.3. Các hình thức của tín dụng
Tín dụng biểu hiện dới các hình thức nh: cho vay, chiết khấu thơng phiếu
và chứng từ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính. Tín dụng ngân hàng là hình
thức tín dụng chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, nó thể
hiện quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức kinh tế và
cá nhân đợc thực hiện dới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền
và cấp tín dụng đối với các đối tợng trên.
- Hình thức cho vay:

quyền hởng lợi cho ngân hàng chiết khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu.
Hình thức chiết khấu chứng từ sẽ giúp cho ngời sở hữu chứng từ có tiền
để đáp ứng các nhu cầu thanh toán, nhất là khôi phục năng lực thanh toán, duy
trì đợc mối quan hệ tài chính, nhờ đó mà họ tiến hành sản xuất kinh doanh bình
thờng. Với nghiệp vụ chiết khấu qua NHTM làm cho các chứng từ có giá cha
đến hạn thanh toán có thể lu thông từ tay ngời này sang tay ngời khác, biến các
công cụ này từ chỗ các giấy nợ thơng mại trở thành các phơng tiện lu thông,
phơng tiện thanh toán.
Đối với các NHTM: Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng có đảm bảo bằng
các tài sản có tính thanh khoản cao, vì vậy vừa tạo ra tài sản có sinh lời cho
ngân hàng, vừa tạo ra một lực lợng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu
thanh toán. Khả năng thanh toán của ngân hàng luôn đợc đảm bảo vì vậy các
ngân hàng thờng có xu hớng mở rộng nghiệp vụ chiết khấu.
- Hình thức cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác. Bên cho thuê máy móc,
9
thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu tài sản
thuê. Bên đi thuê đợc sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt
thời hạn thuê đã đợc hai bên thoả thuận và không đợc huỷ bỏ hợp đồng trớc
hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đợc chuyển quyền sở hữu mua lại
hoặc tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Các nguyên tắc cho thuê tài chính:
+ Tài sản cho thuê thuộc sở hữu hợp pháp của công ty cho thuê tài chính,
bên thuê chỉ có quyền sử dụng.
+ Bên thuê phải quản lý tài sản thuê và sử dụng đúng mục đích xin thuê
và chịu trách nhiệm trớc pháp luật về việc sử dụng tài sản thuê.
+ Bên thuê phải thanh toán tiền thuê cả gốc và phí đầy đủ, đúng hạn.
+ Tiền mua tài sản thuê đợc bên cho thuê chuyển trả trực tiếp cho bên
cung cấp tài sản.

bệnh gia súc, gia cầm, chi phí ngày công lao động v.v..
Tín dụng vào nông nghiệp, nông thôn còn bao gồm các khoản vay trung,
dài hạn để cải tạo đồng ruộng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, trồng cây ăn trái
lâu năm, cây công nghiệp dài ngày, xây dựng kho tàng, cơ sở chế biến, các
ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ, mua sắm máy móc, thiết bị... phục vụ
phát triển nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy tín dụng giữ vai trò đặc biệt quan
trọng đối với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể:
- Tín dụng góp phần hình thành thị trờng tiền tệ ở nông thôn và giữ
vai trò trung gian thu hút vốn, tài trợ vốn cho sản xuất nông nghiệp:
Vấn đề tăng trởng và phát triển kinh tế là yêu cầu cần thiết, nó đòi hỏi vốn
đầu t làm động lực, thúc đẩy thị trờng vốn ra đời và phát triển. Trong nông nghiệp,
khi nghiên cứu địa tô t bản chủ nghĩa, Các Mác đã chỉ rõ vai trò của t bản (vốn)
nh sau: "... do những quy luật tự nhiên chi phối trong nông nghiệp, nên khi việc
canh tác đã đạt đến trình độ nhất định và khi đất đã bị kiệt màu đi một cách tơng
ứng, thì t bản... sẽ trở thành một yếu tố quyết định" [15, tr.333].
11
Nh vậy, theo C.Mác, cùng với đất đai và lao động, vốn trở thành một yếu
tố quyết định đối với mọi nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
ở nớc ta nông thôn đang là thị trờng rộng lớn, với dân số chiếm khoảng
73%, gồm hơn 12 triệu hộ nông dân. Trong khi đó, chủ trơng của Đảng và Nhà
nớc là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Từ đó mà nảy
sinh nhu cầu vốn để nâng cao năng lực sản xuất. Nhu cầu đó trở thành cầu nối
giữa tiết kiệm - tích luỹ - đầu t cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nông dân và các doanh nghiệp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh đòi hỏi phải có
vốn đầu t. Điều đó đặt ra cho ngân hàng phải thực hiện đầu t tài chính thông qua
thị trờng vốn nhằm huy động các khoản tiền nhàn rỗi để cho nông dân vay.
Mặt khác, một ngân hàng thơng mại hoạt động trong lĩnh vực tín dụng
giữ địa vị trung gian thể hiện qua chức năng thu hút vốn và cho vay. Khi ngời
nông dân thu hoạch và tiêu thụ đợc sản phẩm, họ thừa tiền, tạm thời cha đầu t
vào đâu, ở đây ngân hàng thơng mại, đặc biệt là NHNo&PTNT, với mạng lới

hoá sản xuất với trình độ công nghệ cao, với khoa học kỹ thuật hiện đại và hiệu
quả nhất. Qua đó hình thành các vùng chuyên canh nh: vùng cây lơng thực,
vùng cây nguyên liệu, vùng trái cây chất lợng cao, vùng rau an toàn; hình thành
các trung tâm đánh bắt và chế biến thủy sản, các vùng chăn nuôi tập trung... tạo
ra ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có giá trị.
Ngoài ra đầu t vào phát triển nông nghiệp, nông thôn nh trên nó sẽ làm
thay đổi cơ cấu lao động giữa nông nghiệp và công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, một bộ phận nông dân từ chỗ không biết hoặc cha biết sản xuất hàng
hoá từng bớc thích nghi với cơ chế thị trờng để đạt đợc việc sử dụng vật t - lao
động - tiền vốn một cách có hiệu quả hơn nhằm thoát đợc đói, giảm đợc nghèo
trở nên trung bình, từ trung bình thành giàu có. Từ đó thể hiện đợc vị trí tín
13
dụng NHNo&PTNT góp phần vào việc thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn,
tập trung sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
Tín dụng cũng sẽ thúc đẩy sản xuất theo mô hình trang trại - một hình
thức tổ chức kinh doanh phù hợp với kinh tế hàng hoá trong nông nghiệp. Tín
dụng còn theo các chơng trình dự án phát triển cây, con, các vùng chuyên canh,
phục hồi các làng nghề truyền thống từ đó tạo ra lợng hàng hoá tiêu dùng và
xuất khẩu đa dạng, có hiệu quả hơn.
- Tín dụng giữ vai trò trung gian điều tiết giữa sản xuất nông nghiệp
với các ngành sản xuất khác.
Tất cả các ngành sản xuất đều đợc tiến hành theo những cung đoạn nhất
định, những thời gian và chu kỳ cụ thể. Trong chu kỳ sản xuất đó, có lúc nhu
cầu vốn tăng lên rất cao, có lúc lại giảm xuống. Điều này đòi hỏi có một sự điều
tiết kịp thời giúp các nhà sản xuất giải toả phần vốn thừa và cung cấp phần vốn
thiếu. Giữa sản xuất nông nghiệp với các ngành sản xuất khác cũng có nhu cầu
điều tiết vốn, chính điều này đã nối kết sản xuất nông nghiệp với các ngành sản
xuất khác một chặt chẽ hơn.
Công nghiệp và dịch vụ là những ngành sản xuất tiêu thụ sản phẩm của
nông nghiệp dới dạng nguyên liệu sản xuất. Nếu sản xuất nông nghiệp gặp khó

doanh nhỏ lẻ đến doanh nghiệp đến hộ sản xuất, từ hình thức sản xuất riêng
biệt, đơn lẻ trong nông nghiệp đến các mô hình trang trại với các loại hình sản
xuất tổng hợp v.v... phát triển mạnh mẽ, dẫn đến tăng khả năng tích luỹ, tập
trung hơn cho quá trình tái sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp.
- Tín dụng góp phần khai thác tiềm năng lao động, đất đai:
Trong những năm qua, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
đã cho vay phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn nh: Khai thác, đánh bắt,
chế biến hải sản, cho vay xây dựng ao hồ và cho vay phục vụ nuôi tôm nớc lợ
tại địa bàn với hơn ngàn tàu và cả ngàn ha mặt nớc nuôi, cho vay sản xuất
15
đậu, mì, lúa và phát triển gia súc, gia cầm đối với các hộ sản xuất. Ngoài ra
còn cho vay trồng rừng, phát triển mô hình trang trại, mở rộng qui mô sản
xuất theo hớng chuyên canh, cho vay các nhà doanh nghiệp ở nông thôn, thu
hút nhiều lao động nông nghiệp có kỹ năng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp tạo sự chuyển biến trong cơ cấu giữa nông nghiệp với công
nghiệp.
ở những mức độ khách nhau, tín dụng cũng tham gia vào việc huy động
vốn, gia tăng vốn đầu t cho khoa học để vừa có đủ vốn nhập khẩu, những công
nghệ cao từ nớc ngoài khi trong nớc cha nghiên cứu đợc, vừa có vốn để nghiên
cứu, triển khai những công nghệ mới do các nhà khoa học trong nớc tạo ra
nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất, đặc biệt về giống
cây trồng, vật nuôi, bảo vệ thực vật, bảo quản và chế biến, góp phần đẩy mạnh
quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Tín dụng góp phần xây dựng sơ cở hạ tầng nông thôn:
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn nớc ta còn rất hạn chế về điện, đờng, trờng,
trạm v.v... Những năm gần đây đã đợc Nhà nớc và nhân dân tích cực chú trọng
đầu t nhiều hơn. Cơ sở hạ tầng là một trong những thành tố quan trọng tác động
rất lớn vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Vì
nó làm thay đổi bộ mặt nông thôn, đa nhanh các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào
sản xuất, tiếp cận với thị trờng trong và ngoài nớc, làm giảm sự chênh lệch về

Mục tiêu của NHNo&PTNT và PTNT tỉnh Quảng Nam đề ra tại Chơng
trình triển khai đề án cơ cấu lại NHNo&PTNT (giai đoạn 2006 - 2010) là: Tỷ
lệ tăng trởng nguồn vốn bình quân hằng năm tăng từ 15% đến 20%, tỉ trọng tiền
gửi dân c trên tổng nguồn vốn huy động chiếm ít nhất 60%, tiền gửi không kỳ
hạn từ 30% - 35%, tốc độ tăng trởng d nợ tín dụng bình quân phải đạt 15%- 17
% / năm, tỉ lệ cho vay trung và dài hạn chiếm 47% - 50%, tỉ lệ nợ xấu thấp hơn
4%, doanh thu về dịch vụ phấn đấu đạt 10% - 15% trên tổng thu tài chính.
17
Nh vậy, muốn đáp ứng yêu cầu về vốn cho hoạt động tín dụng,
NHNo&PTNT cơ sở phải tìm ra những giải pháp khả thi để huy động và sử
dụng có hiệu quả các nguồn vốn nhằm duy trì tiềm lực sẳn có đồng thời tạo ra
tiềm lực khả dụng hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống đối với nông
nghiệp, nông thôn.
- Mở rộng và nâng cao chất lợng trong hoạt động tín dụng:
Từ sau khi Hội đồng Bộ trởng ban hành Nghị định số 53 ( tháng 3 năm
1998) và tiếp theo là pháp lệnh ngân hàng, luật ngân hàng và luật các tổ chức
tín dụng. NHNo&PTNT và PTNT Việt Nam đã đóng góp đáng kễ vào sự ổn
định tiền tệ và phát triển kinh tế thông qua việc mở rộng và nâng cao chất lợng
tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT trong nền kinh tế thị
trờng không thoát khỏi những thiếu sót nh đầu t cha tập trung mạnh vào các
ngành kinh tế trọng điểm; còn chạy theo xu thế số lợng dự án đã hình
thành, cha chủ động t vấn cho những dự án mới, tỉ trọng tín dụng trung và
dài hạn còn thấp, tỉ lệ nợ quá hạn thể hiện qua số liệu còn thấp nh ng thực
chất nợ xấu, nợ có khả năng đầu t kém hiệu quả cha bộc lộ hết.
Vì vậy muốn nâng cao chất lợng tín dụng chúng ta cần phải:
+ Từng bớc nâng cao năng lực, trình độ, kiến thức về quản trị điều
hành của cán bộ trên cơ sở cơ cấu lại bộ máy hoạt động:
Đây là một đòi hỏi xuất phát từ thực tiễn, mang tính cấp bách đối với
NHNo&PTNT trớc nền kinh tế phát triển và hội nhập, nếu muốn tồn tại và phát

Yêu cầu này chi phối sự phát triển của NHNo&PTNT đối với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo những bớc đi thích hợp để có thể đạt đợc
những hiệu quả kinh tế cao đảm bảo tự tăng trởng bền vững; lựa chọn đúng
19
ngành, đúng vùng, đúng đối tợng cần u tiên sẽ cho phép sử dụng các nguồn vốn
đầu t một cách tập trung nhằm khai thác tiềm năng từng vùng, lĩnh vực chuyên
ngành một cách tối u theo các tiêu chuẩn: sản phẩm đang có nhu cầu trên thị tr-
ờng; thu hút thêm lao động, tạo công ăn việc làm; sản phẩm và quá trình sản
xuất, tiêu thụ có liên quan đến các ngành nghề khác nhau; những ngành dựa
trên cơ sở nguồn vốn tự lực, đòi hỏi ít đầu t nhng thu đợc hiệu quả cao; phát
huy truyền thống, tinh hoa dân tộc. Ngoài ra còn phải tính đến những điều kiện
kinh doanh hiện tại và tiềm năng; vai trò và vị trí của địa phơng đối với các
vùng, khu vực khác; trình độ, kinh nghiệm sản xuất của vùng; nhu cầu cấp
bách và bớc đi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
+ Thực hiện tốt chính sách xã hội nhằm hổ trợ cho chính sách tín dụng
ở nông thôn:
Từ khi ra đời và hoạt động NHNo&PTNT đã đợc Đảng và Nhà nớc chiếu
cố cả về vốn điều lệ ( gấp đôi các NHTM khác). Ngân hàng phải thực hiện
chính sách cho vay nh: xoá đói, giảm nghèo, làm nhà trên cọc, cho vay khắc
phục bão, lụt... Tuy đến nay ngân hàng chính sách, ngân hàng nhà đã ra đời,
gánh vác chức năng xã hội lớn cho Nhà nớc, nhng trong nội tại của ngành
NHNo&PTNT, cũng nh dới góc độ thiên về xã hội, thì ngân hàng nông nghiệp cũng
chứa đựng một chính sách xã hội không thể không có. Đối tợng cho vay của ngân
hàng hầu hết hộ nông dân, với thiên tai, dịch bệnh, những rủi ro khác bất khả kháng,
mà thực tế đã xảy ra nh: Cơn bão số 2 năm 1999, bão Chan chu năm 2006, bão số 6
năm 2006, dịch cúm ga cầm v.v.. dẫn đến mất mát con ngời, tài sản, kéo theo
hàng tỉ đồng vốn tín dụng mà kết quả là NHNo&PTNT phải xử lý rủi ro dới sự
chỉ đạo của NHNN.
Ngoài ra, NHNo&PTNT còn cho các hộ trên vay vốn để khắc phục, phục
hồi tái sản xuất; giãn nợ, gia hạn nợ, khoanh nợ v.v... để khôi phục lại sản xuất,

tai, thời vụ.
21
+ Đảm bảo lợi ích cho khách hàng, cho ngành và cho Nhà nớc:
Để giải quyết mối quan hệ hài hòa này cũng chính là hớng vào mục tiêu
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. NHNo&PTNT muốn tồn tại phải có
khách hàng. Khách hàng muốn tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh cũng
cần đến ngân hàng. Ngân hàng cùng khách hàng cùng tồn tại và phát triển trên
nền tảng dân giàu, nớc mạnh; thông qua các nguồn thu Nhà nớc sẽ cung ứng
những nhu cầu về phúc lợi xã hội cho nền kinh tế. Hàng ngàn tỷ đồng hàng năm
nộp cho ngân sách nhà nớc đã thể hiện đợc yêu cầu đó góp phần vào mục tiêu
chung về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Và cũng nhờ đó mà tạo
điều kiện cho đời sống cán bộ nhân viên ổn định, khách hàng phát triển, hoạt
động tín dụng mở rộng.
+ Đổi mới quản lý tín dụng.
Địa bàn hoạt động của NHNo&PTNT luôn rộng, khối lợng tín dụng
lớn, phân tán, đa dạng, các khoản cho vay manh mún, chi phí lớn, rủi ro cao,
tỉ suất lợi nhuận thấp vừa phải thực hiện chính sách u đãi đối với tín dụng
miền núi, hải đảo, các chơng trình cho vay theo chỉ định của Chính phủ. Đội
ngũ cán bộ tín dụng đông, nhng mức quản lý d nợ ngày càng tăng (Bình quân
tại cơ sở hơn 10tỷ đồng / cán bộ) điều này đòi hỏi NHNo&PTNT không
ngừng đổi mớiquản lý tín dụng theo yêu cầu phát huy nội lực, nâng cao hiệu
quả và chất lợng tín dụng, cụ thể qua các công cụ chủ yếu sau:
* Thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá tín dụng:
Các ngân hàng cơ sở phải xây dựng các phơng án, đề án thể hiện đợc
nguồn vốn tăng trởng, nhu cầu vốn tín dụng và khả năng thu hồi vốn trên cơ sở
mang lại hiệu quả cho công tác tài chính, đảm bảo hài hoà ba lợi ích giữa cán
bộ tín dụng trực tiếp làm công tác chuyên môn, ngành. Đồng thời thực hiện
nghĩa vụ đối với Nhà nớc trên cơ sở đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, cũng nh cho NHN
0

nghề rủi ro nhất trong hoạt động NHTM kinh doanh theo cơ chế thị trờng. Hiện
23
nay rất ít cán bộ thích làm tín dụng. Khoán tín dụng đợc thực hiện trên hai mặt
huy động và cho vay với kết quả mang lại là hiệu quả thể hiện ở d nợ lành
mạnh, tỷ lệ thu nợ đạt cao, tỷ lê quá hạn thấp. Để làm đợc điều đó thì ngời làm
công tác tín dụng cũng phải đợc giao khoán chế độ công tác phí, chi trả tiền l-
ơng kinh doanh, khen thởng một các đúng mức nhằm đảm bảo quyền lợi giữa
cá nhân ngành và nhà nớc.
- Thực hiện tốt việc thẩm định, kiểm tra, kiểm soát:
Một dự án, một đối tợng khi xem xét đầu t cho đến khi thu đợc nợ là một
chuỗi dài liên tục đòi hỏi việc thẩm định, kiểm tra, kiểm soát trớc, trong và sau
khi đầu t vì yêu cầu bảo toàn vốn, thực hiện chính sách tài chính ngành, chống
những biểu hiện tiêu cực là vấn đề cần quan tâm đặc biệt nhất là trong kinh
doanh theo cơ chế thị trờng. Thị trờng của NHNo&PTNT lại đa phần là nông
nghiệp, nông thôn vừa chịu tác động của thiên nhiên, vừa chịu tác động chủ
quan nhiều rủi ro về cả hai phía: khách hàng và ngân hàng, khi mà kinh tế trong
nông nghiệp và nông thôn ở nớc ta ngày nay không còn thuần khiết nh trớc.
Thực hiện tốt việc thẩm định, kiểm tra, kiểm soát còn phải khắc phục cho
đợc những tồn tại cũ từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp để lại, chống tệ
nhũng nhiễu phiền hà, ngăn chặn những hành vi vụ lợi cá nhân nhằm lành mạnh
hoá hệ thống NHNo&PTNT theo hớng phát triển bền vững.
1.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến hoạt động tín
dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với
phát triển nông nghiệp, nông thôn ở huyện Núi Thành
Trong lịch sử của mình, tín dụng ngân hàng đã trải qua một quá trình
phát triển lâu dài, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn. Nhìn chung, tín dụng ngân
hàng tồn tại và phát triển phụ thuộc vào các điều kiện sau:
1) Trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân.
2) Cơ chế quản lý và mô hình quản lý kinh tế.
24

sắt và quốc lộ 1A), có sân bay, bến cảng, ga đờng sắt nên điều kiện đi lại và
giao lu tốt với mọi địa điểm, khu vực trên địa bàn kể cả trong và ngoài huyện.
Điều đó càng lợi thế cho việc hội nhập khu công nghiệp Dung Quất, Khu kinh
tế mở Chu Lai mà nổi bật là giao lu và trao đổi nhanh chóng, thuận lợi về khoa
học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, thông tin kinh tế và trao đổi, mua bán sản
phẩm, hàng hoá v.v...
25

Trích đoạn Giải pháp về huy động vốn Tỉ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu bằng hoặc thấp hơn so với năm tr Không có vi phạm pháp luật Mở rộng các hình thức cấp tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status