đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng vận động chi trên ở bệnh nhân tai biến nhồi máu vùng trên lều tiểu não - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não đã, đang và sẽ là vấn đề thời sự cấp thiết của y
học nói chung và ngành phục hồi chức năng nói riêng đối với mọi quốc gia,
dân tộc trên thế giới. TBMMN là một loại bệnh lý thường gặp do nhiều
nguyên nhân khác nhau có thể tử vong nhanh chóng, hoặc để lại nhiều di
chứng nặng nề dẫn đến tàn tật nhiều nhất. [5]
Theo phân loại tàn tật của tổ chức Y tế thế giới, TBMMN thuộc loại đa
tàn tật vì ngoài giảm khả năng vận động bệnh nhân còn có nhiều rối loạn khác
kèm theo như rối loạn về ngôn ngữ, rối loạn cảm giác, rối loạn tri giác, nhận
thức, tâm lý và rối loạn chức năng tuỳ thuộc mức độ và loại khiếm khuyết tìm
thấy trên bệnh nhân [30], [34].
Tại Hoa kỳ, hàng năm có khoảng 700.000 trường hợp mới mắc xảy ra,
là nguyên nhân đứng hàng thứ ba gây tử vong và cũng là tác nhân đầu tiên
gây tàn tật kéo dài [].
Theo Ralph. L. Sacro, trong số những người sống sót hơn sáu tháng sau
TBMMN có 48% bị liệt, 22% không đi được, 24 - 53% phụ thuộc hoàn toàn
hay một phần, 12 - 18% thất ngôn, 31% sa sút trí tuệ [45].
Tai biến mạch máu não để lại rất nhiều di chứng nặng nề đặc biệt là di
chứng về vận động làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như các
chức năng độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của hơn một nửa số bệnh nhân
TBMMN. Trong số này, có đến 69% bệnh nhân có giảm chức năng vận động
chi trên và bàn tay và gần 56% tiếp tục giảm chức năng trong 5 năm sau tai
biến mạch máu não []. Chính vì vậy, cải thiện chức năng vận động của chi
trên và bàn tay là mục tiêu hàng đầu trong phục hồi chức năng tai biến mạch
máu não.
Tai biến mạch máu não đang có chiều hướng gia tăng, số người bị
TBMMN được cứu sống ngày càng nhiều và số người bị di chứng và tàn tật
do TBMMN ngày càng tăng lên []. Do đó PHCN thục sự đang là nhu cầu cấp
1
thiết đối với bệnh nhân TBMMN, không những PHCN cần thiết ngay từ
những ngày đầu bị bệnh mà còn đòi hỏi sự PHCN một cách thường xuyên và

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TBMMN
1.1.1. Định nghĩa [6]
- Tai biến mạch máu não theo Tổ chức Y tế Thế giới là các thiếu sót
thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan toả. Các triệu
chứng tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ, loại trừ nguyên nhân do
sang chấn.
1.1.2. Dịch tễ học
* Tỷ lệ mắc bệnh
- Trên thế giới: Theo tổ chức Y tế thế giới năm 1979 mỗi năm cứ
100.000 dân thì có từ 127 đến 740 người mắc TBMMN. Ở Hoa Kỳ năm
1991 là 794/100.000 dân, theo Coletta (1994) mỗi năm có 500.000 người
mắc TBMMN. Theo tổ chức điều trị dự phòng TBMMN châu Âu (1993)
số người mắc TBMMN lần đầu tiên trong phạm vi từ 141 đến 219
100.000 dân [11], [20].
- Ở Việt Nam: Theo công trình nghiên cứu dịch tễ học TBMMN (1989-
1994) của Bộ môn thần kinh Trường Đại học Y Hà Nội tỷ lệ hiện mắc ở miền
Bắc và miền Trung là 115,92/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 28,25/100.000
dân. Ở miền Nam theo số liệu điều tra của Bộ môn Thần kinh Trường Đại học
Y dược thành phố Hồ Chí Minh (1994-1995), tỷ lệ hiện mắc là 415/100.000
dân, tỷ lệ mới mắc là 161/100.000 dân [11].
* Tỷ lệ tử vong
- Trên thế giới: Hiện nay, tử vong do tai biến mạch máu não
(TBMMN) đứng hàng thứ ba trên toàn thế giới. Ước tính có đến 9,5% số
người tử vong trên thế giới là do TBMMN. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, tai
biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tỷ lệ tử vong do
3
TBMMN ở các nước đang phát triển chiếm bằng hay trên 2/3 tổng số tử vong
do tai biến mạch máu não trên toàn thế giới [44]. Theo Tiểu ban tai biến mạch
máu não của Hiệp hội Thần kinh học các nước Đông Nam Á, tỷ lệ tử vong do
TBMMN là 8,8% trong đó 29,8% do chảy máu não [15].

1.1.3. Đặc điểm chính về giải phẫu và chức năng vùng trên lều [14]
Vùng trên lều được giới hạn từ lều tiểu não trở lên gồm gian não và hai bán
cầu đại não.
Gian não gồm:
- Đồi thị.
- Tuyến tùng.
- Vùng dưới đồi.
- Tuyến yên.
- Não thất III.
Bán cầu đại não gồm:
- Thể vân: có nhân đuôi và nhân bèo
- Vỏ não: Bao quanh và phủ lên các bán cầu não, có ba mặt: trên, dưới
và giữa. Mỗi bán cầu chia làm bốn thuỳ lớn: thuỳ trán, thuỳ đỉnh, thuỳ chẩm
và thuỳ thái dương.
- Các mép liên bán cầu: Là tổ chức thần kinh nối hai vùng đối xứng của
vỏ não, làm chức năng phối hợp hai bán cầu.
- Chất trắng đoan não: gồm trung tâm bán-bầu dục và bao trong
- Các não thất bên: Là các buồng (hang) của bán cầu não, thông với não
thất III qua lỗ liên não thất (lỗ Monro). Mỗi não thất bên gồm có: sừng trước
(sừng trán), sừng dưới (sừng thái dương) và sừng sau (sừng chẩm).
Định khu chức năng vỏ não [18]
- Vỏ não vận động: nằm ở hồi trước trung tâm, có 3 vùng:
+ Vùng vận động nguyên phát cho ra dải vỏ gai và vỏ nhân (bó tháp)
điều khiển các vận động có ý thức.
5
+ Vùng vận động bổ sung và tiền vận động có nhiệm vụ phối hợp các
cử động.
- Vỏ não cảm giác: nằm ở hồi sau trung tâm.
- Vỏ não thính giác: nằm ở hồi thái dương ngang, có nhiệm vụ tiếp nhận
xung động từ cơ quan thụ cảm thính giác, cho ta cảm giác về âm thanh, tiếng

mạch Charcot hay “động mạch chảy máu não” là một nhánh sâu của động
mạch não giữa tưới máu cho bao trong, thể vân và phía trước của đồi thị.
Động mạch này hay bị vỡ do tăng huyết áp hay xơ cứng mạch gây chảy máu
dữ dội.
- Giữa khu vực trung tâm và ngoại vi: hình thành một đường viền, vùng
vành đai ranh giới dưới chất trắng, không có các mạch nối quan trọng giữa hai
khu vực nông và sâu (chất trắng dưới vỏ), được gọi là vùng tới hạn (Zone
Critique) rất dễ xảy ra các tổn thương nhồi máu não lan tỏa.
* Khu vực tưới máu của động mạch não giữa:
- Các nhánh vỏ não tưới cho toàn bộ mặt ngoài một bán cầu (chiếm
9/10 diện tích vỏ não) trừ ra:
. Cực trán và cực chẩm
. Một dải chạy dọc bờ trên não bán cầu
. Phần dưới của thùy thái dương
- Các nhánh sâu hoặc nhánh xuyên tưới cho:
. Bèo sẫm (putamen), nửa ngoài của thể nhạt (pallidum).
. Thân của nhân đuôi.
. Trụ sau của bao trong.
* Khu tưới máu của động mạch não trước:
- Các nhánh vỏ não tưới cho:
. 4/5 mặt trong của não
7
. Cực trán
. Bờ trên của bán cầu não
. 7/8 phần trước của thể chai
- Các nhánh sâu tưới cho:
. Nửa dưới của trụ trước bao trong
. Phần dưới của đầu nhân đuôi
* Khu vực tưới máu của động mạch não sau:
- Các nhánh của vỏ não tưới cho:

- Tắc nhánh nông sau:
. Bên bán cầu ưu thế:
+ Bán manh bên cùng tên.
+ Thất ngôn vận động Wernicke.
+ Mất nhận thức sơ đồ cơ thể, không phân biệt được bên phải bên trái.
. Bên bán cầu không ưu thế:
+ Mất nhận biết tên đồ vật
+ Mất nhận biết một nửa sơ đồ cơ thể
+ Mất nhận biết không gian bên trái.
- Tắc nhánh sâu: (thiếu máu bao trong, nhân đậu, nhân đuôi)
+ Liệt hoàn toàn dồng đều nửa người nặng bên đối diện
+ Đôi khi bán manh bên cùng tên
+ Rối loạn cảm giác nửa người
+ Thất ngôn vận động Broca (bán cầu ưu thế).
- Tắc toàn bộ động mạch não giữa:
+ Liệt nửa người nặng đối bên.
+ Mất cảm giác nửa người đối bên.
+ Bán manh bên cùng tên.
+ Thất ngôn hoàn toàn (bán cầu ưu thế).
+ Rối loạn ý thức.
9
* Biểu hiện lâm sàng của tắc động mạch não trước:
+ Liệt nửa người bên đối diện, chân nặng hơn tay-mặt.
+ Rối loạn cảm giác ưu thế bàn chân và cẳng tay.
+ Rối loạn cơ tròn.
+ Hội chứng không nói bất động, có thể thất ngôn Broca nếu tổn
thương động mạch Heubner của động mạch não trước bên trái.
+ Nếu nhồi máu hai bên thì bệnh nhân có biểu hiện: Liệt hai chân, câm
bất động và rối loạn trí nhớ.
* Biểu hiện lâm sàng của tắc động mạch não sau:

nucleasa phá vỡ các thành phần tế bào. Các rối loạn sinh hóa ở vùng nửa tối
có thể hồi phục được khi tuần hoàn được tái lập về mức bình thường trong
vòng hai đến ba giờ. Đây là vùng điều trị trong nhồi máu não.
1.1.6. Chẩn đoán nhồi máu não [3]
* Lâm sàng:
- Tính chất xuất hiện đột ngột của các triệu chứng thần kinh: từ vài
phút, vài giờ, tối đa có thể vài ngày.
- Các triệu chứng thần kinh ổ: tùy theo động mạch bị tổn thương.
- Các triệu chứng khác về thần kinh:
+ Rối loạn ý thức: thường không có hoặc thoảng qua
+ Cơn động kinh: gặp trong 5% các trường hợp.
- Hỏi bệnh: tiền sử, tiền sử, các yếu tố nguy cơ.
- Khám toàn thân, đặc biệt là tim mạch
* Cận lâm sàng:
- Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não: là thăm dò cận lâm sàng quan
trọng nhất giúp phân biệt một cách chính xác nhồi máu não và chảy máu não.
Ổ nhồi máu não thể hiện chủ yếu bằng hình ảnh một vùng giảm tỉ trọng ở nhu
mô não trong khu vực cấp máu của động mạch bị tắc. Hình ảnh giảm tỷ trọng
rõ nhất sau 48 đến 72 giờ, đến khoảng ngày thứ 8 sau đó hình ảnh giảm dần
trong những tuần sau và ổn định di chứng là một ổ dịch hoặc sẹo. Chụp
11
CLVT có thể bình thường trong những giờ đấu cũng không cho phép loại trừ
một nhồi máu não mới hình thành.
- Chụp cộng hưởng từ (MRI): Hình ảnh tăng tín hiệu trong thì T2.
1.2. GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG – SINH LÝ VẬN ĐỘNG CHI PHỐI TRÊN
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1.2.1. Giải phẫu chức năng chi trên [19], [25]
Chi trên gồm vùng vai, cánh tay, cổ tay, bàn tay và tận hết ở các ngón
tay. Trong quá trình lao động và tự do tư thế đứng thẳng của thân người, từ
chi trước của loài vật tạo thánh chi trên của loài người. Hai bàn tay được giải

Chuyển động của xương vai đưa góc dưới vào trong và ra ngoài: Là
động tác làm góc dưới xương vai đi vào trong và ra ngoài. Động tác xoay
ngoài tạo bởi phần trên và dưới cơ thang, bó dưới và giữa cơ răng trước, cơ
tròn to khi cánh tay được cố định.
- Cử động khớp vai: các động tác của khớp vai quanh ba trục thẳng góc
gồm: Dạng và khép quanh trục trước sau.
+ Dạng cánh tay được thực hiện bởi cơ delta, cơ trên gai. Cơ delta có
nguyên ủy là nửa ngoài xương đòn, mỏm cùng vai và gai vai đến bám tận và
lồi củ delta xương cánh tay. Chức năng của cơ này là dạng cánh tay, vung vẩy
chi trên, xoay trong và xoay ngoài cánh tay, phần trước hoạt động đồng thời
với phần giữa gây động tác gấp và hơi dạng, phần giữa và phẫn sau cùng hoạt
động tạo ra động tác duỗi và dạng đồng thời. Dây thần kinh mũ chi phối hoạt
động của cơ này. Cơ trên gai có nguyên ủy hố trên gai đến bám tận vào mấu
động to xương cánh tay. Dây thần kinh vai chi phối hoạt động cho cơ này.
Ngoài các cơ trên, động tác dạng vai còn được hỗ trợ bởi các cơ trợ vận là cơ
nhị đầu (đầu dài) khi cánh tay xoay ngoài hoàn toàn. Tầm hoạt động: 0°-180°.
+ Thực hiện động tác khép cánh tay là cơ ngực to. cơ lưng rộng. Cơ ngực
to (cơ ngực lớn) có nguyên ủy là xương đòn, xương ức, phần sụn của 5-6
xương sườn trên, bao cơ thẳng bụng đến bán tận vào mào mấu động to. Cơ
này khép- xoay trong và đưa cánh tay ra trước khi thân được cố định, nếu chi
13
trên cố định thì góp phần kéo thân lên trên. Dây thần kinh ngực trước (dây
ngực to) chi phối hoạt động của cơ này. Cơ lưng rộng từ mỏm gai đốt sống
ngực dưới và các đốt sống thắt lưng, các đốt sống cùng trên, phần sau mào
chậu, bốn xương sườn dưới đến bám tận vào mấu động nhỏ xương cánh tay.
Cơ này duỗi, khép, xoay trong cánh tay và góp phần nghiêng cột sống sang
bên. Các cơ dưới gai, tròn to, tròn bé, quạ cánh tay, tam đầu cánh tay cũng
góp phần vào động tác khép vai. Tuy nhiên sự căng cơ duỗi vai, sự chạm cánh
tay với thân mình làm ảnh hưởng đến động tác này.
Đưa ra trước (gấp) và đưa ra sau (duỗi ) quanh trục ngang.

Các cơ duỗi các ngón và duỗi ngón cái là các cơ trợ vận cho động tác duỗi
bàn tay. Sự căng của dây chằng cổ tay quay là yếu tố giới hạn cử động.
- Khép bàn tay có sự tham gia đồng thời của các cơ gấp cổ tay trụ, cơ
duỗi cổ tay trụ, các cơ gấp và các cơ duỗi, các gân đi tới các ngón tay thứ tư
và thứ năm có thể tham gia một phần nhỏ vào động tác khép bàn tay.
- Dạng bàn tay thực hiện bởi cơ chủ vận là các cơ duỗi cổ tay quay dài,
cơ duỗi cổ tay quay ngắn. Cơ trợ vận là các cơ gấp cổ tay quay, cơ dạng dài
và cơ duỗi ngắn ngón cái.
1.2.1.4. Các động tác của bàn đốt ngón tay
- Các khớp đốt ngón tay gồm:
+ Các khớp cổ tay-đốt bàn tay: liên kết giữa các xương hàng dưới với
nền các xương đốt bàn tay, kém di động ngoại trừ khớp cổ tay- đốt bàn thứ
nhất. Các động tác của khớp là gấp-duỗi, cử động ngón cái.
+ Các khớp đốt bàn tay- đốt ngón tay được tạo bởi chỏm các xương
đốt bàn tay và nền đốt gần các ngón. Động tác bao gồm gấp-duỗi-khép-dạng
ngón giữa, gấp-duỗi ngón cái.
+ Các khớp gian đốt ngón tay tham gia động tác gấp duỗi.
- Các cử động:
+ Gấp ngón tay được thực hiện bởi các cơ gấp. Cơ gấp nông các ngón
có nguyên ủy từ mỏm trên lồi cầu trong xương cánh tay, xương trụ và xương
15
quay đến bám tận vào các ngón từ thứ hai đến thứ năm. Cơ này gấp đốt giữa
ngón tay, gấp tất cả các khớp mà nó đi qua, gấp các ngón tay kèm theo khép
vào ngón giữa. Dây thần kinh giữa chi phối hoạt động cho cơ này, cơ gấp sâu
các ngón từ hai phần ba trên mặt trước xương trụ, màng gian cốt đến bám tận
vào nền xương đốt xa các ngón từ thứ hai đến thứ năm, chức năng của cơ là
gấp tất cả các khớp bàn tay, khép các ngón tay. Thần kinh giữa và trụ chi phối
hoạt động của cơ. Cơ gấp dài ngón cái có nguyên ủy là mặt trước xương quay
đến bám tận tại đốt xa ngón cái. Cơ này gấp tất cả các khớp mà nó đi qua đặc
biệt là gấp đốt ngón cái.

chi phối các cơ còn lại.
+ Các động tác của ngón út được thực hiện bởi nhóm cơ gan tay ngắn,
dạng ngón út, gấp ngắn ngón út, đối chiếu ngón út, chức năng các cơ giống
như tên gọi. Dây thần kinh trụ chi phối các cơ này.
1.2.2.Sinh lý vận động chi phối chi trên [2], [12], [26]
Mọi sự co cơ không chỉ do vỏ não chi phối mà còn chịu sự kiểm sóa
của các trung tâm thấp hơn (tủy sống, thân não, nhân nền, tiểu não), tuy nhiên
một số động tác tinh tế của bàn tay thì vỏ não có con đường trực tiếp đi đến
các tế bào thần kinh vận động ở sừng trước tủy sống mà không qua các trung
tâm khác.
* Vỏ não vận động:
ùng vận động của vỏ não nằm trước rãnh trung tâm, được phân làm
ba vùng nhỏ: vùng vận động nguyên phát, vùng vận động phụ và vùng tiền
vận động
- Vùng vận động nguyên phát: nằm ngay trước rãnh trung tâm, chi phối
vận động cho nửa người đối bên, sơ đồ chi phối từng phần cơ thể được sắp
xếp theo hình người lộn ngược: tay-mặt ở dưới và ở mặt ngoài bán cầu, chân
ở trên và mặt trong. Trên sơ đồ này cũng cho thấy phần nào của cơ thể càng
17
có nhiều cử động phức tạp và tinh tế thì vùng đại diện của nó trên vỏ não càng
lớn (bàn tay, mặt)
- Vùng vận động phụ: nằm ở phía trước trong vùng vận động nguyên
phát, vùng này cũng làm được chức năng giống vùng vận động nguyên phát,
đây là cơ chế bù trừ khi vùng vận động nguyên phát bị phá hủy.
- Vùng tiền vận động: nằm trước vùng vận động nguyên phát, có chức
năng vận động tự ý đối với các kích thích cảm giác (thị giác, thính giác, cảm
giá bản thể). Tổn thương vùng này có thể gây ra mất thực dụng nửa người.
* Hội chứng bán cầu não ưu thế và không ưu thế:
- Hội chứng bán cầu não ưu thế: có ba vùng liên quan chặt chẽ nhất với
hoạt động trí tuệ phát triển rộng hơn hẳn ở một bên bán cầu so với bên còn lại

não theo những sợi trục đi xuống sừng trước tủy, gồm năm bó sợi: bó nhân đỏ, bó
mái-tủy, bó tiền đình tủy, bó trám-tủy và bó lưới-tủy. Tất cả những đường ngoại
tháp bảo đảm những cử động không tùy ý, điều hòa trương lực cơ, chi phối những
phản xạ thăng bằng, phản xạ tư thế và chỉnh thế.
1.2.3. Trương lực cơ, ảnh hưởng của trương lực cơ đến vận động chi trên [21]
Trương lực cơ được chi phối bởi phản xạ trương lực cơ nguyên phát và
thứ phát ở tuỷ sống. Khi kích thích các đầu mút cảm giác thứ phát trong các
cơ gấp sẽ gây đồng vận gấp thông qua tế bào thần kinh vận động gamma
và alpha. Cũng tương tự khi kích thích các đầu mút cảm giác thứ phát
trong các cơ duỗi sẽ gây được đồng vận duỗi. Khi có tổn thương não, hoạt
động của các tế bào thần kinh ở tuỷ sống ở trạng thái thoát ức chế, dần
dần xuất hiện mẫu co cứng và các phản xạ đồng vận ở các chi. Mẫu co
cứng thường xuất hiện vào giai đoạn hồi phục, thể hiện bằng hiện tượng
tăng trương lực các cơ gập ở tay và các cơ duỗi ở chân. Có thể mô tả mẫu
co cứng thường gặp ở tay như sau:
Kiểu co cứng: co cứng gấp
Xương bả vai bị kéo ra sau, đai vai bị đẩy xuống dưới.
Khớp vai khép xoay vào trong.
19
Khớp khuỷu gấp, cẳng tay quay sấp.
Khớp cổ tay gấp về phía lòng bàn tay và hơi nghiêng về phía xương trụ
Ngón tay cái và các ngón tay khác gấp, khép.
1.3. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
1.3.1. Định nghĩa phục hồi chức năng [6].
PHCN bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã hội học, giáo dục và kỹ
thuật phục hồi làm giảm tối đa tác động của giảm chức năng và tàn tật. Bảo
đảm cho người tàn tật hội nhập và tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng,
tham gia vào hoạt động trong gia đình, xã hội. Có cuộc sống bình thường tối
đa so với hoàn cảnh của họ.
1.3.2. Mục đích của phục hồi chức năng chi trên đối với bệnh nhân nhồi

9. Phòng ngừa các thương tật thứ phát qua đánh giá các vấn đề bệnh lý
y học liên quan còn tồn tại.
10. Xác định và giúp đỡ bệnh nhân tự mình thực hiện tất cả các công
việc, hoạt động liên quan đến họ bao gồm trở lại làm việc.
- Theo Brandstater ME (1987) []
1. Thực hiện PHCN liên tục trong cả giai đoạn cấp và lâu dài, đánh giá
các vấn đề y học trong quá trình phục hồi chức năng, đưa ra các chỉ dẫn, phối
hợp với các thành viên trong nhóm PHCN.
2. Sử dụng những người có hiểu biết, kinh nghiệm, nhiệt tình với người
bệnh TBMMN.
3. Điều trị những mục tiêu trực tiếp.
4. Thực hiện điều trị sớm.
5. Nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục bệnh nhân.
6. Nhấn mạnh trọng tâm huấn luyện các kỹ năng.
7. Nhấn mạnh đến vấn đề thích nghi của người bệnh.
8. Có kế hoạch ra viện sớm.
21
9. Hợp tác chặt chẽ với các thành viên trong gia đình của người bệnh
trong chương trình điều trị.
10. Chú ý đến các rối loạn về tâm lý.
11. Chuẩn bị cho các mục tiêu chính là cuộc sống của người bệnh tại
nhà và cộng đồng.
12. Giới thiệu bệnh nhân TBMMN còn sống sót tới các cơ quan nhân
lực của xã hội để tạo điều kiện bố trí việc làm cho họ.
1.3.4. Các phương pháp phục hồi chức năng bệnh nhân TBMMN
Cũng như các bệnh lý khác, PHCN cho các bệnh nhân TBMMN cần có
những phương pháp, chương trình đặc trưng. Kottke đã đưa ra mục tiêu cho
PHCN như sau “phục hồi đến mức tối đa về thể chất, các chức năng tâm lý,
xã hội, nghề nghiệp và giúp cho họ trở thành một thành viên có ích trong
cộng đồng” []. Bobath đã định nghĩa PHCN là dạy cho bệnh nhân cách thức

Brunnstro
m
Kỹ thuật
Bobath
m
Các phương pháp cơ bản
Vận
động
trị
liệu
Hoạt
động
trị
liệu
Kích
thích
điện
Vị
thế
Dụng
cụ
chình
trực
Sau giai đoạn cấpGiai đoạn cấp
Chăm sóc
nuôi dưỡng
Vị thế
Vận động
trị liệu
Trong giai đoạn cấp: chủ yếu là các bài tập theo tầm vận động khớp để

- Kỹ thuật tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ (PNFT):
Sử dụng việc kích thích và hướng dẫn bằng lời nói để tạo ra được mẫu
cử động mong muốn và tăng cường sự phát triển vận động.
- Kỹ thuật Perfetti:
Sự phối hợp những thông tin cảm giác và thị giác tạo cho bệnh nhân có
ý thức từ bên trong về một vận động cần chỉnh sửa, do đó cho phép kiểm soát
co cứng một cách chủ động.
- Kỹ thuật Rood-kích thích cảm giác da phản hồi:
Sử dụng những kích thích cảm giác như chà, xát, gõ, đập vào cơ,
chườm lạnh, ép lên các mặt khớp hoặc kéo giãn cơ với những tốc độ khác
nhau làm ức chế trương lực cơ. Phương pháp này tạo thuận cho vận động trên
những bệnh nhân giảm trương lực cơ hơn là những bệnh nhân co cứng.
1.3.4. Tình hình nghiên cứu chức năng vận động chi trên của bệnh nhân
tai biến mạch máu não.
Bệnh nhân TBMMN thường bị nhiều thiếu sót thần kinh, làm rối loạn
tới các chức năng. Trong đó có chức năng vận động chi trên, từ đó ảnh hưởng
đến các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, phải phụ thuộc một phần hoặc hoàn
toàn vào người khác.
Theo Nguyễn Văn Triệu và Nguyễn Xuân Nghiên (2005) thấy tỷ lệ
khiếm khuyết chức năng chi trên và chi dưới khi vào viện lần lượt là 95 và
94%, sau TBMMN một năm tỷ lệ này lần lượt là 66,5% và 54,5%.[24]
Theo nghiên cứu của Dương Xuân Đạm, Cao Minh Châu, Nguyễn Văn
Triệu (2008) tỷ lệ khiếm khuyết chức năng vận động chi trên là 66,1% và chi
25

Trích đoạn Nội dung và cách thức đánh giá kết quả ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status