Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động ở bệnh nhân nhồi máu não cấp bằng kỹ thuật Bobath - Pdf 14

Y học thực hành (798) - số 12/2011
100
này có thể do sự khác biệt về môi trờng làm việc, tập
quán. ở Việt Nam, phụ nữ sau khi làm về hầu nh phải
tham gia công việc nội trợ, chăm sóc gia đình do vậy
họ không có hoặc rất ít thời gian giành cho tập luyện
chơi thể dục thể thao, hơn nữa ở độ tuổi trung bình
28,9 tỷ lệ phụ nữ có gia đình thờng cao, liên quan đến
sinh nở cũng ảnh hởng đến tình trạng, mức độ đau vai
gáy khi làm việc. Cũng nh một nghiên cứu khác của
Thụy Điển chỉ ra rằng tỷ lệ đau vai gáy ở nữ giới cao
hơn nam giới 11,9 lần. [9]
KT LUN
Qua nghiên cứu 119 ngời sử dụng máy tính tại
công ty Viettel phố Giang Văn Minh Hà Nội chúng tôi
có một số kết luận bớc đầu sau: Có mối liên quan
giữa hội chứng đau vai gáy ở ngời sử dụng máy tính
với các yếu tố: Kiến thức, thực hành luyện tập phòng
tránh đau vai gáy, thời gian làm việc với máy tính và
giới tính nữ bị nhiều hơn nam. Từ đó có kiến nghị đề
xuất nghiên cứu các phơng pháp phòng tránh hội
chứng đau vai gáy ở cộng đồng ngời sử dụng máy
tính.
TI LIU THAM KHO
1. Trần Ngọc Ân (1999), Các phơng pháp đánh giá

9. Wahlstrom J(2005), Ergonomics, musculoskeletal
disorders and computer work, Occupational
Medicine;55:168176
10. Wổrted M, Hanvold TN and Veirsted KB, (2010),
Computer work and musculoskeletal disorders of the
neck and upper extremity: A systematic review, BMC
musculoskeletal disorders 11:9 Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động
của bệnh nhân nhồi máu não cấp bằng kỹ thuật Bobath

NGUYN TH NGC LAN, NGUYN TH KIM THY

T VN
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một trong
những bệnh nặng thờng gặp ở ngời cao tuổi, tỷ lệ
mắc bệnh 500-700/ 100000 dân. Tỷ lệ tử vong đứng
hàng thứ 3 trên thế giới sau bệnh ung th và bệnh tim
mạch [4]. Trong TBMMN tỷ lệ nhồi máu não
(NMN)chiếm 75-80%, xuất huyết não (XHN) chiếm 15-
20%. Khả năng tự phục hồi các chức năng do NMN
kém hơn nhiều so với XHN [7]
Ngày nay có nhiều phơng điều trị TBMMN, tỷ lệ
bệnh nhân(BN) sống sau tai biến ngày càng tăng. Vì
vậy, phục hồi chức năng (PHCN) vận động cho BN
TBMMN là rất cần thiết và là một trong những nội dung
quan trọng của ngành PHCN
Có nhiều phơng pháp PHCN, nhng phơng pháp
Bobath đợc ứng dụng nhiều nhất. Đã có nhiều nghiên


số 12/2011 101

Không tăng: 0 điểm
- Tăng nhẹ: 1-2 điểm
- Tăng: 3-4 diểm
- Co cứng: 5 điểm
+ Đánh giá mức độ liệt theo thang điểm Henry
- Liệt nhẹ: 1-2 điểm
- Liệt vừa: 3 điểm
- Liệt nặng: 4 điểm
- Liệt hoàn toàn: 5 điểm
+ Đánh giá khả năng đi theo FAC
- Phụ thuộc hoàn toàn: 0-1 điểm
- Phụ thuộc phần: 2 điểm
- Độc lập phần: 3 điểm
- Độc lập hoàn toàn: 4-5 điểm
+ Đánh giá mức độ giảm khả năng tàn tật theo
Rankin.
- Giảm khả năng nhẹ: Không thực hiện đợc mọi
hoạt động đã làm trớc đây, nhng vẫn tự chăm sóc
đợc bản thân.
- Giảm khả năng trung bình: Cần trợ giúp trong tự
chăm sóc mình, nhng vẫn đi lại đợc

-
64

11(16,16)

2(3,03)

13(19,70)

65
-
74

20(30,30)

8(12,12)

28(42,42)

>74

9(13,64)

5(7,58)

14(21,21)

Tổng cộng

48(72,73)

n, %
Sau T
n, %
Liệt nhẹ+
vừa
9
(27,27)
21
(63,64)
8(24,24) 11(33,33)

Liệt
nặng+
hoàn toàn

24
(72,73)
12
(36,36)
25(75,75) 22 (66,67)

Trớc điều trị mức độ liệt của 2 nhóm cha khác
biệt có ý nghĩa (p>0,05)
Sau điều trị số BN liệt nhẹ của nhóm 1 tăng hơn so
với nhóm 2, ngợc lại số BN liệt năng nhóm 1 ít hơn so
với nhóm khác 2 biệt có ý nghĩa (p<0,05)
Bảng 3. Đánh giá thay đổi trơng lực cơ theo thang
điểm Ashowrh trớc và sau 3 tháng điều trị
Trơng lực


n, %

n, %

n, %

Bình
thờng+
tăng nhẹ
26
(78,79)
22
(66,67)
25(75,76) 14(42,42)
Tăng nặng
+ co cứng
7(21,21)
11
(33,33)
8 (24,24) 19 (58,58)
Trớc điều trị tỷ lệ BN có trợng lực cơ bình thờng
hoặc tăng nhẹ, cũng nh
BN có trơng lực cơ tăng nặng và co cứng cơ giữa
2 nhóm không khác biệt có ý nghĩa (p>0,05)
Sau 3 tháng điều trị số BN có trơng lực cơ bình
thờng và tăng nhẹ của nhóm 1 cao hơn và ngợc lại
tỷ lệ BN có trơng lực cơ tăng nặng và co cứng ở nhóm
1 giảm hơn so với nhóm 2, sự khác biệt có ý nghĩa
(p<0,05)
Bảng 4. Đánh giá thay đổi khả năng đi lại theo

một phần +
hoàn toàn
27(81,82) 11 (33,33) 25(75,76)
19
(57,58)
Trớc điều trị, khả năng đi lại độc lập, phụ thuộc
một phần và phụ thuộc hoàn toàn của 2 nhóm tơng tự
nh nhau (p>0,05)
Sau 3 tháng điều trị khả năng đi lại độc lập của
nhóm 1 tăng rõ rệt, và khả năng đi lại phụ thuộc 1
phần và phụ thuộc hoàn toàn giảm so với nhóm 2,
khác biệt cha có ý nghĩa (p> 0,05)
Bảng 5. Đánh giá mức độ giảm khả năng tàn tật
theo thang điểm của Rankin trớc và sau 3 tháng điều
trị
Mức độ
Nhóm

(
n= 33
)

Nhóm

2

(
n = 33
)



16 48,48)

17 (51,52)

Trớc điều trị tỷ lệ giảm khả năng vận động và tàn
tật nhẹ, trung bình và nặng ở 2 nhóm tơng đơng
nhau (p>0,05)
Sau 3 tháng điều trị tỷ lệ BN nhẹ và trung bình của
nhóm 1 tăng lên ngợc lại tỷ lệ BN bị giảm khả năng
vận động và tàn tật mức độ nặng của nhóm này giảm
xuống so với nhóm 2, nhng sự khác biệt cha có ý
nghĩa (p>0,05)
Bảng 6. Thay đổi mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày theo thang điêmt Barthel giữa 2 nhóm trớc
và sau 3 thang điều trị
Mức độ
Nhóm (n= 33)

Nhóm

2 (n = 33)

Trớc ĐT

n, %
Sau

T
n, %

không khác biệt có ý nghĩa (p>0,05). Sau 3 tháng điều
Y học thực hành (798) - số 12/2011
102
trị tỷ lệ độc lập trong sinh hoạt của nhóm tăng có ý
nghĩa so với nhóm 22 (p<0,05)
BN LUN
Nghiên cứu 66 BN bị NMN thấy tuổi thờng gặp
nhất nhóm tuổi từ 65-74 tuổi chiếm tỷ lệ 42,42%. Tỷ lệ
nam gặp nhiều hơn nữ 48/18 (2,66). Kết quả nghiên
cứu phù hợp với các tác giả trong và ngoài nớc, Trần
Văn Chơng (2002), tỷ lệ bệnh nhân TBMMN gặp
nhiều ở nhóm tuổi từ 60-69 là 36,5%. Tỷ lệ nam trên nữ
là 1,7/1 [2]. Tỷ lệ nam/ nữ của chúng tôi cao hơn do
đặc điểm của bệnh viên quân đội.
Đánh giá mức độ liệt trớc điều trị theo thang điểm
Henry giữa 2 nhóm tơng tự nh nhau (p>0,05). Sau 3
tháng điều trị số BN liệt nặng và liệt hoàn toàn giảm
của nhóm 1 giảm (từ 72,73%-42,42%) còn số BN liệt
nhẹ và liệt vừa của nhóm này tăng lên (27,27%-
57,58%) so với nhóm 2 khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)
(Bảng 2). Kết quả của chúng tôi nhìn chung phù hợp
với kết quả của các tác giả Newman theo dõi 39 BN
liệt nửa ngời do TBMMN thấy 80% chức năng hồi
phục trong 6 tuần đầu và tiếp tục đợc phục hồi trong

Nguyễn Tấn Dũng cho thấy nhóm tăng trơng lực cơ
nhẹ có 53,9% BN đi độc lập, 46,1% BN đi phụ thuộc,
nhóm trơng lực cơ tăng vừa có 62,5% BN đi độc lập
và 37,5% BN đi phụ thuộc [3].
Trớc điều trị tỷ lệ giảm khả năng vận động và tàn
tật nhẹ, trung bình và nặng theo phân loại của Rankin
ở 2 nhóm tơng đơng nhau (p>0,05).Sau 3 tháng điều
trị tỷ lệ BN nhẹ và trung bình của nhóm 1 tăng lên (từ
42,42% tăng lên 72,73%) ngợc lại tỷ lệ BN bị giảm
khả năng vận động và tàn tật mức độ nặng của nhóm
này giảm xuống đáng kể (57,58% giảm xuống
27,27%), so sánh giữa nhóm với nhóm 2 khác biệt
cha có ý nghĩa (p>0,05) (bảng 5).
Theo tác giả Trần Văn Chơng, tỷ lệ giảm khả
năng, tàn tật nhẹ và trung bình trớc tập là 25,9% tăng
lên 79,4% sau tập. Tỷ lệ BN giảm khả năng tàn tật
nặng trớc và sau tập tơng ứng 74,4% và 20,6% [4].
Nguyễn Văn Triệu nghiên cứu 337 BN TBMMN liệt nửa
ngời cho rằng khi ra viện tỷ lệ BN giảm khả năng tàn
tật nặng và vừa là 95,3%, chỉ có 4,7% là giảm nhẹ.
Nhng sau 3 tháng tỷ lệ BN tơng ứng ở các mức độ
giảm khả năng, tàn tật là 48,4% và 51,6% [8]
Trớc điều trị tỷ lệ độc lập và phụ thuộc trong sinh
hoạt dựa theo thang điểm Barthel giữa 2 nhóm không
khác biệt có ý nghĩa (p>0,05). Sau 3 tháng điều trị tỷ lệ
độc lập trong sinh hoạt của nhóm tăng có ý nghĩa so
với nhóm 22 (p<0,05)
Nghiên cứu của Phạm Ngọc Anh thấy rằng, sau 3
tháng phục hồi chứ năng thì cáchoạt động tự chăm sóc
đều đợc cải thiện, mức cải thiện cao nhất là hoạt

phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt nửa
ngời do tai biến mạch máu não, Luận án Tiến sỹ Y học,
Trờng Đại Học Y Hà Nội.
3. Nguyễn Tấn Dũng (2004), Nghiên cứu một số yếu
tố ảnh hởng tới chức năng đi của ngời bệnh sau nhồi
máu não và ứng dụng phơng pháp BoBalth, Luận văn
chuyên khoa cấp II, Trờng Đại Học Y Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Đăng (1996), Góp phần nghiên cứu
dịch tễ học tai biến mạch máu não 1991-1995, Bộ Y tế,
Hà Nội
Y học thực hành (798)
-

số 12/2011 103

5. Hoàng Kim Đào (2002), Đánh giá phục hồi chức
năng trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân nhồi máu
não trên lều, Luận văn Thạc sỹ, Trờng Đại Học Y Hà
Nội.
6. Trần Quốc Đạt (2001), Đánh giá kết quả can thiệp
phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân chảy máu
vùng bao trong, Luận văn Thạc sỹ Y học, Trờng Đại Học
Y Hà Nội.
7. Lục Văn Hữu, Trần Đình Hạnh (1995), Nhận xét

cảm với cá nhân từ 2,96 đến 3,08; và với Cơ sở vật
chất từ 2,82 đến 2,88. Nghiên cứu cho thấy các cán bộ
y tế cha hài lòng với công việc nói chung. Các nhà
quản lý bệnh viện đa khoa huyện Sóc Sơn phải nỗ lực
nhiều hơn nữa nhằm đáp ứng các nhu cầu của nhân
viên để họ có thể yên tâm công tác, góp phần cải thiện
chất lợng chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Từ khóa: Sự hài lòng, yếu tố, tiểu mục
SUMMARY
Job satisfaction is a dependent variable and
belongs to the study facet of organizational behaviour.
The study of job satisfaction which has been
conducted from February to July 2011 used the
standardized instrument. The study objectives are to
measure the staff level of job satisfaction and to
identify the associated variables with that satisfaction.
The total number of factors and items measuring job
satisfaction was 6 and 39 respectively. The mean
score of general job satisfaction was 2.87. The mean
score of satisfaction with the factor of Leadership and
working environment ranged from 2.68 to 3.03; with
Salary and allowance ranged from 2.15 to 2.82; with
Training, promotion and punishment ranged from 2,96
to 3.24; with Work ranged from 3.02 to 3.17; with
Individual sympathetic ranged from 2.96 to 3.08; and
with Tangibles ranged from 2.82 to 2.88. Multiple linear
regression analysis showed statistically significant
association between the type of work and age group
with the mean score of job satisfaction (p<0.05). The
findings showed that the health workers were not

giờng bệnh với 16 khoa phòng, 1 tổ dịch vụ chăm sóc
khách hàng, 196 cán bộ trong biên chế và 59 cán bộ
hợp đồng, trong đó lực lợng bác sĩ là 46 ngời, dợc
sỹ đại học là 03 ngời. Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn
cũng đang gặp phải những vấn đề về thiếu hụt về số
lợng cũng nh chất lợng nguồn nhân lực [1]. Để có
cơ sở cho việc cải thiện số lợng (giữ chân cán bộ cũ
và tuyển thêm cán bộ mới) và chất lợng nguồn nhân
lực, nghiên cứu đánh giá sự hài lòng và các yếu tố liên
quan đến sự hài lòng đối với công việc của các cán bộ
y tế bệnh viện là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh
bệnh viện đang thực hiện đề án Nâng cao chất lợng
khám chữa bệnh, ứng xử của nhân viên y tế đáp ứng
sự hài lòng của ngời bệnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status