Kết quả điều trị bệnh nhân nhồi máu não cấp bằng thuốc tiêu sợi huyết tại bệnh viện trung ương thái nguyên - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
-------------------

PHẠM THỊ NGỌC

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN
NHỒI MÁU NÃO CẤP BẰNG THUỐC TIÊU SỢI HUYẾT
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
-------------------

PHẠM THỊ NGỌC

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN
NHỒI MÁU NÃO CẤP BẰNG THUỐC TIÊU SỢI HUYẾT
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 62.72.20.50

LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Ương Thái Nguyên, Trưởng bộ môn Nội trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình
học tập và thực hiện luận văn.
- Xin trân trọng cảm ơn các Thày, Cô trong Hội đồng chấm luận án, những
người có thể không hề biết tôi, song đã đánh giá công trình nghiên cứu
của tôi một cách công minh. Các ý kiến góp ý của các Thày, Cô sẽ là bài học cho
tôi trên con đường nghiên cứu khoa học và giảng dạy sau này.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn của tôi đến:
Các bệnh nhân điều trị tại Khoa Cấp cứu và khoa Thần kinh đã cho tôi có
điều kiện học tập và hoàn thành luận văn. Các bạn bè đồng nghiệp và người thân
trong gia đình đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
này.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2018
Phạm Thị Ngọc


CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BN

Bệnh nhân

CHT

Chụp cộng hưởng từ

CLVT
CTA

Chụp cắt lớp vi tính


NMN
rt-PA

Nhồi Máu Não
Tissue Plasminogen Activator
Tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch bằng Alteplase


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ............................................................................... 3
1.1. Khái niệm đột quỵ ....................................................................................... 3
1.2. Phân loại đột quỵ thiếu máu não .................................................................. 3
1.3. Cơ chế bệnh sinh nhồi máu não ................................................................... 5
1.4. Chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não tối cấp .................................................... 9
1.5. Các biện pháp điều trị Nhồi máu não cấp .................................................. 15
1.6. Điều trị nhồi máu não cấp bằng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch .. 19
1.7. Đánh giá kết quả sau điều trị ...................................................................... 25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................ 27
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.............................................................. 28
2.3. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 28
2.4. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 28
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 38
3.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm đối tượng NC ...................... 38
3.2. Kết quả điều trị và biến chứng của nhóm đối tượng nghiên cứu ………...44
3.3. Các yếu tố liên quan đến tiên lượng kết quả điều trị sau 3 tháng ...................
44
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ................................................................................ 46

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Nguyên nhân bệnh sinh gây đột quỵ thiếu máu não .......................... 4
Hình 1.2. Sơ đồ các vùng rối loạn tưới máu trong nhồi máu não ...................... 6
Hình 1.3. Các dấu hiệu hình ảnh nhồi máu não cấp trên cắt lớp vi tính ............ 11
Hình 1.4. Phân vùng cấp máu động mạch não giữa theo ASPECTS ................. 12
Hình 1.5. Hình ảnh cắt lớp vi tính tưới máu não ............................................... 13


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não đã và đang trở thành một vấn đề quan trọng của y học ở tất cả
các quốc gia trên thế giới. Đây là bệnh lý thường gặp ở người có tuổi, phổ biến
hơn ở những người có tiền sử các bệnh tiểu đường, tim mạch, huyết áp, tăng
cholesterol máu. Trên thế giới hiện nay đột quỵ là một trong những căn nguyên
gây tử vong hàng đầu, chỉ sau bệnh tim thiếu máu cục bộ và ung thư [49], [66].
Trong đó đột quỵ nhồi máu não (ĐQNMN) chiếm số lượng lớn trong toàn bộ các
thể đột quỵ [6], [39]. Hậu quả là để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội rất lớn
[49]. Theo thống kê chưa đầy đủ năm 2013, toàn thế giới có khoảng 10,3 triệu ca
đột quỵ mới mắc trong đó 67% là đột quỵ nhồi máu não, tử vong là 6,5 triệu (đột
quỵ nhồi máu não chiếm 51%) [47]. Tại Việt Nam, mức sống người dân ngày
càng tăng dần, xu hướng tuổi thọ tăng cao, nguy cơ đột quỵ não ngày càng cao.
Song song với công tác dự phòng, việc nâng cao hiệu quả trong chẩn đoán và
điều trị là yêu cầu trọng tâm với mục tiêu hạ thấp tỷ lệ tử vong, hạn chế tàn phế,
giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Nhiều nghiên cứu thử nghiệm trước đó chỉ ra rằng mức độ hồi phục lâm
sàng sẽ được cải thiện nếu nhu mô não vùng tổn thương còn có khả năng hồi
phục và phải được tái thông sớm nhất có thể [57]. Cứ mỗi 1 giờ trì hoãn điều trị,
nguy cơ hồi phục kém tăng lên khoảng 38% [42]. Do vậy cần lựa chọn phương
pháp tối ưu nhất cho bệnh nhân.



3

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm đột quỵ
Đột quỵ theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO) là sự suy giảm
các dấu hiệu thần kinh cục bộ hoặc toàn thể, xảy ra đột ngột và kéo dài trên 24
giờ (hoặc dẫn tới tử vong), được xác định do nguồn gốc mạch máu và không do
chấn thương [5].
Theo nguyên nhân, đột quỵ được chia ra thành hai loại: thiếu máu não và
chảy máu não không do chấn thương [1], [15], trong đó đột quỵ thiếu máu não
cục bộ hay nhồi máu não là tình trạng nhu mô não bị chết do hậu quả của gián
đoạn dòng máu đến một khu vực của não, do tắc nghẽn động mạch não hoặc ít
gặp hơn là do tắc một tĩnh mạch não.
1.2. Phân loại đột quỵ thiếu máu não
Được phân thành các loại như sau dựa theo nguyên nhân và giai đoạn.
1.2.1. Phân loại theo nguyên nhân
- Do huyết khối: chỉ tình trạng tắc nghẽn tại chỗ của động mạch dẫn tới
giảm lưu lượng cấp máu ở vùng nhu mô phía sau vị trí tắc. Nguyên nhân hay
gặp nhất là các bệnh lý tại thành động mạch như xơ vữa động mạch, lóc tách
thành động mạch hoặc loạn sản xơ cơ thành mạch. Nhồi máu do huyết khối biểu
hiện ở mạch lớn (động mạch cảnh trong, động mạch đốt sống hoặc ở đa giác
Willis với các nhánh gần) hoặc mạch nhỏ (các nhánh xiên tách ra từ động mạch
đốt sống, thân nền, động mạch não giữa và các nhánh của đa giác Willis) [5].
- Do tắc mạch: chỉ các mảnh tự do di chuyển từ nơi khác đến gây tắc động
mạch cấp máu cho vùng nhu mô não tương ứng. Mảnh tự do này có thể có nguồn
gốc từ tim, hay gặp huyết khối từ tim trái đi lên đặc biệt ở các bệnh nhân có tiền
sử bệnh van tim hoặc từ hệ thống động mạch phía dưới. Mảnh tự do có thể là

li
i
t
Hình 1.1. Nguyên nhân bệnh sinh gây đột quỵ thiếu máu não [5]
t
t
i l l
- Giảm tưới máu hệ thống: ên quan đến sự suy g ảm uần hoàn xảy ra ở
ri
i
.
t
i
rong não hoặc có hể ở các cơ quan khác dẫn đến sự g ảm ưu ượng máu chung
l
ti li
t i
ti
,t
i, t
và không ảnh hưởng đến các vùng êng b ệt nào Nguyên nhân hường do g ảm

ti
cung ượng m ên quan đến h ếu máu cơ m cấp ắc nghẽn mạch phổ ràn
d ch màng ngoài m hoặc mất máu [5].
i
: tr
i
t
i t


1.3. Cơ chế bệnh sinh nhồi máu não
1.3.1. Sự cấp máu não bình thường
Não là cơ quan chuyển hóa mạnh nhất của cơ thể sử dụng đến ¼ tổng số
năng lượng cung cấp cho cơ thể hàng ngày. Các tế bào não được nuôi dưỡng chủ
yếu bằng oxy và glucose, trong đó glucose được coi như là chất duy nhất cho
chuyển hóa năng lượng. Tại tế bào não, glucose sẽ được oxy hóa thành dioxid
carbon (CO2) và nước. Quá trình chuyển hóa glucose sẽ sinh ra adenosine
diphosphate (ADP) rồi tạo thành adenosine triphosphate (ATP). Não cần sử dụng
500ml oxy và 75-100mg glucose mỗi phút [35].
Khi cơ thể nghỉ ngơi, não sử dụng 20% cung lượng tim. Lưu lượng máu não
bình thường cung cấp 50ml/100g /phút. Sự tiêu thụ oxy của não được đo bằng tỷ
lệ chuyển hóa oxy của não, có giá trị bình thường khoảng 3.5ml/100g/phút.
1.3.2. Các ảnh hưởng của thiếu máu lên khu vực não
Tình trạng tắc nghẽn đột ngột mạch máu nội sọ sẽ dẫn tới giảm lưu lượng
dòng máu đến khu vực nhu mô não tương ứng mà nó nuôi dưỡng. Mức độ giảm
lưu lượng dòng chảy này liên quan đến dòng máu do tuần hoàn bàng hệ cung cấp
và phụ thuộc vào giải phẫu mạch máu từng cá thể, vị trí tắc cũng như huyết áp
tâm thu. Nếu lưu lượng dòng chảy giảm xuống bằng 0, quá trình chết tế bào sẽ
xảy ra trong vòng 4 đến 10 phút. Nếu lưu lượng giảm xuống dưới 16-18
ml/100g/phút, nhu mô não sẽ chết trong vòng 1 giờ. Theo đó, khi giá trị này
giảm dưới 20 ml/100g/phút, tỉ lệ chuyển hóa oxy não bắt đầu giảm, tình trạng
thiếu máu mà không có nhồi máu sẽ xảy ra, các tế bào não còn duy trì được sự
sống trong vài giờ và còn khả năng hồi phục nếu tình trạng giảm lưu lượng dòng
máu được giải quyết. Đó là cơ sở để hình thành khái niệm vùng nguy cơ [35].
1.3.3. Vùng nguy cơ
Đa số các trường hợp thiếu máu não cục bộ do tắc nghẽn động mạch có
nguyên nhân là huyết khối. Sự giảm đột ngột lưu lượng dòng máu nếu giảm
nặng và kéo dài sẽ chuyển từ thiếu máu sang nhồi máu não. Khi đó, chỉ có một
phần

Hình 1.2. Sơ đồ các vùng rối loạn tưới máu trong nhồi máu não [60]


Tuy nhiên các tế bào thần kinh không thể sống mãi. Thực nghiệm trên khỉ
cho thấy các tế bào ở một vùng nhận 20ml/100g/phút sẽ sống được trong vài giờ
nhưng tế bào nhận 12ml/100g/phút chỉ có thể sống được tối đa 2 giờ [26]. Điều
này chứng tỏ khả năng sống của các tế bào não vùng nguy cơ phụ thuộc vào
dòng tưới máu và thời gian. Do đó khi thời gian qua đi, nếu không được điều trị,
vùng lõi nhồi máu sẽ lớn dần và cuối cùng chiếm toàn bộ vùng nguy cơ. Ngược
lại ở những bệnh nhân được tái thông mạch, vùng nhồi máu cuối cùng nhỏ hơn,
chỉ khu trú trong kích thước của lõi nhồi máu ban đầu. Điều này gợi ý rằng tái
tưới máu kịp thời đã ngăn cản sự lan rộng của lõi nhồi máu. Vì vậy, trên thực
hành lâm sàng đã đưa ra khái niệm “thời gian là não” để chỉ tính chất cấp bách
trong điều trị tái thông mạch máu não [26].
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sống sót của mô não
Sự sống còn của một vùng não có nguy cơ phụ thuộc vào một số yếu tố: sự
đầy đủ của hệ tuần hoàn phụ, tình trạng tuần hoàn hệ thống, các yếu tố huyết
thanh, sự thay đổi bên trong tổn thương mạch máu bị tắc nghẽn và sức cản bên
trong lưới vi mạch máu.
Sự đầy đủ của tuần hoàn bàng hệ
Khi dòng máu não giảm do hậu quả của tắc nghẽn đoạn gần của mạch máu
thì có thể được bù trừ đủ và ngay lập tức bởi dòng tuần hoàn bàng hệ. Các đặc
điểm về thời gian và không gian đặc trưng sự cân bằng giữa tổn thương tắc
nghẽn gần với tuần hoàn bàng hệ còn bù. Thời gian là một biến số quan trọng
trong sự phát triển của tuần hoàn bàng hệ. Các biến cố mạch máu đột ngột như
huyết khối tắc nghẽn có thể cần thiết phải có các tuần hoàn bàng hệ thông qua
các ống đã có sẵn. Trái lại đối với tắc nghẽn dòng động mạch mạn tính hoặc tiến
triển từ từ có thể cho phép sự phát triển mở rộng của các ống phụ một cách từ
từ. Tương tự vi trí tắc nghẽn và dòng tuần hoàn bàng hệ tiềm tàng có thể thay đổi
ở các nhánh mạch máu khác nhau tùy vị trí giải phẫu hoặc chỗ chia nhánh dọc

hoặc dọc theo bề mặt não. Hầu hết sức cản dòng máu xảy ra dọc theo các mạch
máu có kích thước rất nhỏ: các động mạch nhỏ, các mao mạch và các tĩnh mạch
nhỏ. Sức cản đối với dòng máu ở những mạch máu nhỏ bị ảnh hưởng do các
bệnh


trước đó như tăng huyết áp, đái tháo đường, thường gây ra dầy thành các động
mạch và các ống động mạch [23]. Tất cả việc tăng độ nhớt của máu và huyết
khối lan tỏa bên trong lòng các mao mạch và các vi mạch máu sẽ làm giảm dòng
máu chảy qua hệ vi tuần hoàn. Các hậu quả của thiếu máu có thể tạo ra những
thay đổi về sinh hóa dẫn đến làm hoạt hóa tiểu cầu, đông vón của các hồng cầu,
và gây bít tắc hệ thống vi tuần hoàn. Một điều cần chú ý là dòng máu tỷ lệ
nghịch với sức cản của giường mạch máu, chủ yếu là hệ thống vi tuần hoàn
1.4. Chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não tối cấp
1.4.1. Lâm sàng
Cơn đột quỵ thiếu máu não thường khởi phát với 5 dấu hiệu có tính chất
khởi phát đột ngột: đột ngột yếu (mặt, chi), đột ngột nói khó, đột ngột suy giảm
thị lực, đột ngột đau đầu hoặc hoa mắt chóng mặt. Trong đó các triệu chứng liệt
mặt, liệt tay và nói khó hay gặp nhất, chiếm tỉ lệ trên 88% các trường hợp đột
quỵ [28] . Vì vậy cần xác định chính xác thời gian khởi phát đột quỵ, càng chính
xác càng tốt do liên quan đến điều trị tái thông/tái tưới máu sau này. Các triệu
chứng thiếu hụt các chức năng thần kinh thường tương thích với sự phân bố của
một khu vực tưới máu theo phân vùng cấp máu các động mạch chính. Mức độ đột
quỵ được lượng giá theo thang điểm NIHSS [71]:
- 0 điểm: không có các triệu chứng đột quỵ
- 1-4 điểm: đột quỵ nhẹ
- 5-15 điểm: đột quỵ mức độ trung bình
- 16-20 điểm: đột quỵ mức độ trung bình đến nặng
- 21-42 điểm: đột quỵ mức độ nặng
1.4.2. Một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh đột quỵ thiếu máu não tối

có ít tuần hoàn bàng hệ hơn và biểu hiện hoại tử sẽ xuất hiện sớm.
Dấu hiệu huyết khối trong lòng mạch
Sự xuất hiện của huyết khối cấp trong lòng mạch máu nội sọ có thể dẫn
đến hình ảnh tăng đậm độ trên CLVT trước tiêm khi so sánh với đoạn mạch
tương ứng bên đối diện. Dấu hiệu này thường gặp nhất vị trí động mạch não
giữa đoạn


M1 nhưng có thể gặp ở bất kỳ mạch máu nào, bao gồm cả động mạch cảnh
trong, não sau, não trước và thân nền. Dấu hiệu này có độ đặc hiệu cao (90100%) nhưng độ nhạy thì thấp hơn (50-70%) [6], [7]. Các trường hợp không có
dấu hiệu tăng đậm cũng không loại trừ được huyết khối nội mạch hoặc dấu hiệu
này xuất hiện ở cả hai bên động mạch não giữa thì không có giá trị chẩn đoán.
Chẩn đoán xác định sẽ được khẳng định trên CLVT mạch máu não. Dấu hiệu
này mất đi sau khi
huyết khối được loại bỏ.

a

b

c

Hình 1.3. Các dấu hiệu hình ảnh nhồi máu não cấp trên cắt lớp vi tính [7]
(a) Dấu hiệu xóa hạch nền (b) Dấu hiệu tăng đậm (c) Tắc mạch trên CLVT đa dãy [7]

Mặc dù các dấu hiệu kể trên đặc hiệu và thường được mô tả trong những
trường hợp nhồi máu do tắc động mạch não giữa, sự mất ranh giới chất xám-chất
trắng luôn là dấu hiệu sớm thường gặp và có thể được sử dụng trong đánh giá
các vùng tổn thương do tắc các động mạch não khác.
Nhằm chuẩn hóa việc lượng giá các tổn thương nhồi máu của động mạch

và độ đặc hiệu tương ứng đạt 90-97% khi đánh giá tính trạng hẹp tắc động mạch
não [82].
c. Chụp cắt lớp vi tính tưới máu não
Chụp cắt lớp vi tính tưới máu não mô tả tình trạng tưới máu bằng cách
tiêm thuốc cản quang vào mạch máu và thiết lập biểu đồ các thông số thu thập
được với mục đích xác định vùng nguy cơ trong nhồi máu. Các thông số này sau
đó sẽ được tính toán bằng các thuật toán và thể hiện dưới dạng thông số mã hóa
màu sắc trên ảnh thu được. Nền tảng để đánh giá sự tưới máu não là thể tích
trung tâm của huyết động học não bộ, được gọi là lưu lượng máu não (CBF).
Lưu lượng máu não có liên quan với thể tích máu não (CBV) và thời gian dẫn
truyền trung bình (MTT) qua mạng lưới mao mạch não.
Chụp CLVT tưới máu được t hực hi ện ngay sau chụpCLVT thường quy hoặc
sau CVLT t hường quy/ CLVT mạch não. Đối với kỹt huật này , ngườ i ta tiêm nhanh
thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch vớ i tốc độ 5m l/s . Các lớp cắt sau đó được
thực hiện qua độ dày 8-12mm của vùng hạch nền. Dữ li ệu hình ảnh về tưới máu
thu được bằng cách tá i tạo đường cong biểu di ễn t hời gi an của động mạch và tĩnh
mạch. Dựa trên vi ệc phân tí ch các hì nh ảnh cong xoắn sẽ cho các kết quả vềt hời
gian dẫn truyền tr ung bì nh, t hể tích máu não và l ưu l ượng máu não.

a

b

c

Hình 1.5. Hình ảnh cắt lớp vi tính tưới máu não [32]
(a) Thể tích máu não-CBV (b) Lưu lượng máu não-CBF (c) Thời gian dẫn
truyền trung bình-MTT




biểu đồ cường độ tín hiệu theo thời gian. Bằng việc sử dụng kỹ thuật phân tích
các hình ảnh cong xoắn của đường biểu diễn tương tự CLVT tưới máu, người ta
xác định được các thay đổi về lưu lượng máu cũng như thể tích tưới máu não. Cụ
thể hơn, vùng bất tương xứng giữa CHT tưới máu và CHT khuếch tán chứng tỏ
tồn tại sự giảm tưới máu ở mô và được xem là tương ứng với vùng não “nguy
cơ”
[67].
Nhìn chung, CHT có các nhiều ưu điểm trong chẩn đoán đột quỵ thiếu
máu não nhất là trong giai đoạn tối cấp, tuy nhiên nhược điểm của nó không áp
dụng được cho các bệnh nhân có chống chỉ định với CHT, chất lượng hình ảnh
bị ảnh hưởng bởi cử động của bệnh nhân và thời gian chụp tương đối dài.
1.5. Các biện pháp điều trị Nhồi máu não cấp
Bệnh nhân nghi ngờ thiếu máu não cục bộ cấp khi vào cấp cứu tại các
Khoa Cấp cứu cần nhanh chóng được đánh giá và điều trị ngay nhằm tăng cơ hội
cứu sống các vùng não bị tổn thương thiếu máu và giảm nguy cơ bị các biến
chứng nặng. Các biện pháp điều trị bao gồm:
1.5.1. Điều trị nội khoa chung
Cần thiết phải duy trì tốt đường thở và đủ oxy để đảm bảo thành công cho
điều trị. Những bệnh nhân bị suy giảm ý thức hoặc tổn thương vùng thân não sẽ
tăng nguy cơ mất bù về đường hô hấp. Chỉ đặt ống nội khí quản nếu bệnh nhân
không có khả năng bảo vệ đường thở hoặc duy trì đủ trao đổi khí. Nồng độ bão
hòa oxy mao mạch (Sp02) được khuyến cáo ở bệnh nhân đột quỵ não cấp là
>94%. Do lưu lượng máu từ tuần hoàn bàng hệ nuôi dưỡng vùng thiếu máu phụ
thuộc vào huyết áp nên yêu cầu đặt ra phải kiểm soát tốt huyết áp của bệnh nhân
theo khuyến cáo của hiệp hội đột quỵ não Mỹ năm 2013 [31]. Cần điều trị hạ
huyết áp nếu bệnh nhân có huyết áp tâm thu trên 220mmHg hoặc huyết áp tâm
trương trên
120mmHg.


cơ bản qua đường động mạch là lấy huyết khối bằng các dụng cụ cơ học, có thể
dùng


thuốc tiêu sợi huyết lấy huyết khối bằng các dụng cụ cơ học, có thể dùng thuốc
tiêu sợi huyết đường động mạch kết hợp để hỗ trợ điều trị trong một số trường
hợp.
1.5.3.1. Lấy huyết khối cơ học
Đây là kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong khoảng 10 năm gần đây và
đang có những bước tiến vượt bậc với hiệu quả tích cực, đặc biệt trong các
trường hợp tắc mạch máu lớn của não. Về mặt lý thuyết, làm tan cục huyết khối
bằng kỹ thuật cơ học ít gây ra các nguy cơ chảy máu hơn trong và sau tái tưới
máu so với dùng thuốc tiêu sợi huyết . Do đó các biện pháp này được sử dụng để
thay thế cho thuốc tiêu sợi huyết hoặc kết hợp. Các dụng cụ được nghiên cứu và
sử dụng phổ biến hiện nay là Penumbra (Penumbra Inc, Alameda), Merci
(Concentric Medical Inc, Mountain View, CA) và hiện nay là stent Solitaire FR
(ev3, Irvine, CA). Đối với bệnh nhân nhồi máu não cấp hệ tuần hoàn phía trước
do tắc động mạch lớn đoạn nội sọ, những bệnh nhân này có chống chỉ định với
Alteplase đường tĩnh mạch thì điều trị đường động mạch cũng không kém phần
hiệu quả, an toàn [52].
Hiện tại stent solitaire đã được chỉ định điều trị tại một số bệnh viện lớn
như bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Quân đội 108, bệnh viện Chợ Rẫy với kết
quả khả quan [9].
1.5.3.2. Dùng thuốc tiêu sợi huyết đường động mạch
Trước khi có sự ra đời của các dụng cụ lấy huyết khối cơ học thì biện pháp
này được sử dụng trong điều trị các bệnh nhân nhồi máu não bằng cách tiêm trực
tiếp thuốc qua vi ống thông tại vị trí huyết khối. Tuy nhiên một số nghiên cứu
chỉ ra rằng kết quả giữa điều trị kết hợp thuốc tiêu sợi huyết đường động mạch
và tĩnh mạch đơn thuần không khả quan khi không có sự khác biệt về mức độ tái
thông mạch máu và phục hồi lâm sàng sau đó [48]. Ngày nay với sự ra đời của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status