BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
KHÚC VĂN TRUNG
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ XẸP THÂN ĐỐT SỐNG TRÊN
BỆNH NHÂN LOÃNG XƯƠNG BẰNG PHƯƠNG
PHÁP BƠM CIMENT SINH HỌC QUA DA TẠI
BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ
THÁI NGUYÊN – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
KHÚC VĂN TRUNG
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ XẸP THÂN ĐỐT SỐNG TRÊN
BỆNH NHÂN LOÃNG XƯƠNG BẰNG PHƯƠNG
PHÁP BƠM CIMENT SINH HỌC QUA DA TẠI
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội
trú bệnh viện này, tôi xin trân trọng cảm ơn:
Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo trường Đại học Y Dược – Đại học Thái
Nguyên
Bộ môn Ngoại - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
Khoa Ngoại Thần kinh bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Vũ Hoàng, thầy
hướng dẫn đã dành thời gian, công sức, trực tiếp hướng dẫn và góp ý cho tôi
trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này. Thầy là người
nghiêm khắc nhưng độ lượng, đã chỉ dạy cho tôi về tinh thần làm việc nghiêm
túc, trung thực và tận tụy.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Tiến sỹ trong Hội đồng đánh
giá đề cương và hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã dành nhiều thời gian
quý báu để kiểm tra, góp ý, giúp tôi sửa chữa những thiếu sót trong luận văn.
Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã luôn động viên giúp
đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong suốt những năm học vừa qua.
Cám ơn tất cả những người bạn thân thiết đã luôn bên tôi!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2018.
Khúc Văn Trung
3
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BMI
Giá trị lớn nhất
Min
Gia trị nhỏ nhất
MĐX
Mật độ xương
PMMA
Polymethylmethacrylate
RMDQ
Roland-Morris Disability Questionnaire (bộ câu hỏi về mức
SD SL
độ hạn chế hoạt động của Roland-Morris)
Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)
THĐSQD
Số Lượng
X
2.4. Các chỉ số nghiên cứu .............................................................................. 38
2.5. Phương pháp thống kê và xử lí kết quả.................................................... 42
2.6. Đạo đức nghiên cứu ................................................................................. 38
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 43
3.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các đối tượng nghiên cứu............ 43
3.1.1. Các thông số chung của đối tượng nghiên cứu ..................................... 43
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng trước tạo hình thân đốt sống qua da ...................... 45
3.2. Kết quả phương pháp tạo hình thân đốt sống qua da............................... 50
3.2.1. Kết quả trong quá trình tiến hành thủ thuật .......................................... 50
3.2.2. Kết quả theo dõi sau can thiệp .............................................................. 54
Chương 4: BÀN LUẬN................................................................................. 58
4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng xẹp đốt sống do loãng xương của đối
tượng nghiên cứu............................................................................................. 58
4.2. Đánh giá kết quả kỹ thuật tạo hình thân đốt sống qua da ........................ 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
1. Đặc điểm về lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân xẹp đốt sống do
loãng xương hay xẹp đốt sống trên nền bệnh cảnh loãng xương.................... 72
2. Kết quả điều trị của phương pháp THĐSQD với xẹp đốt sống do loãng
xương............................................................................................................... 72
KIẾN NGHỊ....................................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1. MẪU BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2. BỘ CÂU HỎI ROLAND-MORRIS
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tuổi trung bình của bệnh nhân .........................................................43
Bảng 3.2 Chỉ số BMI trung bình của bệnh nhân..............................................45
DANH MỤC BIỂU ĐÔ
Biểu đồ 3.1. Phân bố nhóm tuổi của bệnh nhân...............................................39
Biều đồ 3.2. Tỷ lệ bệnh nhân theo giới ...........................................................40
Biểu đồ 3.3. Phân bố bệnh nhân theo khu vực địa lý.......................................40
Biểu đồ 3.4. Số lượng và vị trí các đốt sống bị xẹp .........................................45
Biểu đồ 3.5. Điểm đau VAS trung bình của bệnh nhân trước và sau
điều trị 01 ngày, 01 tuần, 01 tháng và 03 tháng ...............................................51
Biểu đồ 3.6. Điểm trung bình bộ câu hỏi Roland Morris của bệnh
nhân trước và sau điều trị 01 ngày, 01 tuần, 01 tháng và 03 tháng .................52
viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Hình minh họa cột sống nhìn phía trước, bên và sau ........................7
Hình 1.2. Hình dạng đốt sống điển hình ...........................................................8
Hình 1.3. Hình minh họa đường vào trước bên ................................................9
Hình 1.4. Hình minh họa đường sườn – cột sống ...........................................10
Hình 1.5. Hình minh họa đường đi qua cuống sống .......................................11
Hình 1.6. Hình minh họa hệ thống động mạch và tĩnh mạch đốt sống ..........12
Hình 1.7. Hình ảnh xẹp đốt sống trên X quang thường quy. ...........................14
Hình 1.8. Mức độ xẹp đốt sống theo Genant và cs .........................................15
Hình 1.9. Tổn thương xẹp đốt sống L2 và L3 do loãng xương .......................16
Hình 1.10. Các biến chứng khi bơm cement....................................................21
Hình 2.1. Bộ dụng cụ tạo hình đốt sống...........................................................29
Hình 2.2. Thành phần bột và thành phần dịch .................................................30
Hình 2.3. Định vị đốt sống cần tạo hình, vị trí gây tê và rạch da ....................32
Hình 2.4. Đường chọc qua cuống sống ...........................................................33
Hình 2.5. Thang điểm VAS .............................................................................36
đốt sống qua da). Điều trị nội khoa bao gồm nằm bất động tại chỗ, dùng thuốc
giảm đau, đeo nẹp.... Tuy nhiên nằm bất động lâu ngày se khiến bệnh nhân có
nguy cơ bị viêm phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu dẫn tới nhồi máu phổi, teo cơ
2
và mất xương nhiều hơn, do đó làm tăng nguy cơ gãy xương về sau theo các
tác giả Bisochoff và Inoue [31], [58], bên cạnh đó, nhiều trường hợp tác dụng
giảm đau của các phương pháp điều trị nội khoa và vật lý trị liệu không cao,
bệnh nhân có thể tiến triển chuyển sang đau lưng mạn tính. Trong khi đó, tạo
hình đốt sống qua da với hiệu quả giảm đau nhanh và ít biến chứng đang là
phương pháp đang được lựa chọn để điều trị cho bệnh nhân xẹp đốt sống do
loãng xương. Đây là phương pháp can thiệp tối thiểu sử dụng đường vào qua
da, gây tê tại chô và có thể áp dụng được cho các bệnh nhân lớn tuổi [53],
[60].
Khoa ngoại thần kinh bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã tiến hành
bơm cement cho một số bệnh nhân bị xẹp đốt sống do loãng xương nhằm mục
đích nâng cao kỹ thuật chẩn đoán, điều trị, chất lượng cuộc sống cho bệnh
nhân và đã thu được một số kết quả tốt. Do đó, nhóm nghiên cứu thực hiện
đề tài: “Kết quả điều trị xẹp thân đốt sống trên bệnh nhân loãng xương
bằng phương pháp bơm ciment sinh học qua da tại bệnh viện Trung ương
Thái Nguyên ” nhằm 2 mục tiêu:
1.
Mô ta đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở những bệnh nhân xẹp đốt
sống trên loãng xương tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng
6/2017 đến tháng 5/2018
2.
xẹp đốt sống do loãng xương, 10 trường hợp do u máu đốt sống, 3 trường hợp
di căn đốt sống, với kết quả tốt là 66.7% [23].
Năm 2006, Phạm Mạnh Cường và cs đã tiến hành nghiên cứu áp dụng
và bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp tạo hình đốt sống qua da
trong điều trị một số tổn thương đốt sống vùng lưng và thắt lưng [7], [8].
4
Năm 2008, Nguyễn Văn Thạch và cs khoa Phẫu thuật cột sống Bệnh
viện Việt Đức đã thực hiện thành công kỹ thuật THĐSQD bằng bơm cement
sinh học cho những bệnh nhân bị xẹp đốt sống do loãng xương và chấn
thương cột sống [13], [22].
Tiếp sau đó, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp can
thiệp trên và cho các kết quả rất khả quan như Phạm Mạnh Cường (2009),
Nguyễn Văn Thạch (2009), Đào Mạnh Hùng (2010), Đào Văn Nhân (2012) ,
Nguyễn Văn Sơn (2013), Nguyễn Vũ (2014) và nhiều công trình nghiên cứu
khác [8], [9],[12], [17], [20], [21], [24], [25].
1.2 . Tổng quan bệnh loãng xương
1.2.1. Định nghĩa loãng xương
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, loãng xương được định nghĩa là một bệnh
rối loạn chuyển hóa của xương trong đó mật độ khoáng của xương sụt giảm,
cấu trúc vi thể của xương suy yếu, dẫn tới làm tăng nguy cơ gãy xương [41].
Loãng xương xảy ra khi tốc độ hủy xương diễn ra nhanh hơn tốc độ tái
tạo xương, gây giảm mật độ xương hay mất xương (bone loss). Giảm mật độ
xương thường xảy ra khi cơ thể già đi. Tuy nhiên loãng xương có thể gặp ở
những người mà mật độ xương của họ không đạt được đỉnh (peak bone
density) trong giai đoạn thanh thiếu niên.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1994, loãng
xương được xác định dựa trên chỉ số T-score. T-score thể hiện sự khác biệt
Theo Maghbooli và cs năm 2017, kinh tế phải chi trả cho điều trị gãy
vỡ xương do loãng xương được ước tính se tăng gấp đôi vào năm 2025 so với
hiện tại và se trở thành gánh nặng và là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan
trọng [70].
1.3. Xẹp đốt sống do loãng xương và trên bệnh nhân có bệnh loãng xương
1.3.1. Khái niệm xẹp đốt sống
Xẹp đốt sống được định nghĩa khi có sự thay đổi hình dạng của thân
đốt sống (vertebral deformity). Tuy nhiên các thân đốt sống tạo nên cột sống
có hình dạng biến đổi theo từng đoạn và giữa các cá thể khác nhau cũng
6
không giống nhau. Trước đây người ta phân loại xẹp đốt sống dựa vào sự thay
đổi hình dạng thân đốt sống trên phim Xquang, bao gồm đốt sống xẹp hình
chêm (wedge deformity), xẹp hình xương cá (biconcavity deformity) và xẹp
phẳng (compression/crush deformity). Cách phân loại này không mang tính
khách quan. Do đó người ta đưa ra phương pháp định lượng và bán định
lượng để đo đạc chiều cao của thân đốt sống của Genant và cs [50]. Theo
phương pháp này xẹp đốt sống chia thành 4 độ từ 0 đến 3:
- Độ 0: không thấy giảm chiều cao thân đốt sống.
- Độ 1: chiều cao tường trước, tường sau và đoạn giữa thân đốt sống
giảm 20-25% so với đốt sống liền kề.
- Độ 2: chiều cao thân đốt sống giảm 25-40%.
- Độ 3: chiều cao thân đốt sống giảm >40%.
1.3.2. Dịch tễ học về xẹp đốt sống
Xẹp đốt sống được biết đến như một biểu hiện sớm của loãng xương,
có thể xảy ra sau một chấn thương nhẹ thí dụ như cúi, vặn mình, nâng đồ vật
theo báo cáo của Vũ Quang Bích năm 2006 [2], [18]. Đã có nhiều nghiên cứu
đưa ra các tỷ lệ xẹp đốt sống do loãng xương khác nhau dựa vào các tiêu
Đoạn ngực
Đoạn thắt lưng
Đoạn cùng
Đoạn cụt
Hình 1.1. Hình minh họa cột sống nhìn phía trước, bên và sau [72]
8
Cấu tạo chung của một đốt sống bao gồm các thành phần: thân đốt
sống, cung sau đốt sống và các mỏm sống. Thân đốt sống nằm ở phía trước, là
thành phần chính chịu lực tác động, hình trụ có 2 mặt, mặt trên và dưới, hơi
lõm ở giữa và có vỏ xương đặc bao quanh. Nối giữa các thân đốt sống với
nhau là các đĩa đệm với thành phần chủ yếu là chất sụn và xơ. Cung đốt sống
nằm ở phía sau, gồm 2 mảnh sống, nối với thân đốt sống qua 2 cuống sống
hai bên. Hai bờ trên và bờ dưới mỗi cuống sống có các khuyết sống trên và
khuyết sống dưới. Khi 2 đốt sống kế cận khớp nhau thì các khuyết đó tạo
thành lô gian đốt sống để dây thần kinh sống đi qua [4], [16].
Kích thước của thân đốt sống tăng dần từ đoạn cổ cho tới đoạn thắt
lưng – dẫn đến sự thay đổi thể tích của các thân đốt sống. Sự biến đổi thể tích
giữa các thân đốt sống có ảnh hưởng đến lượng cement được bơm vào trong
thân đốt sống. Để tránh biến chứng rò cement sau khi tạo hình đốt sống qua
da thì việc đánh giá thể tích thân đốt sống trước và sau khi xẹp tương đối quan
trọng. Biến chứng này xảy ra khi cement tràn qua các đường gãy vỡ hoặc do
bơm quá đầy cement vào trong thân đốt sống [72].
Mỏm khớp trên
cổ (trừ đốt sống cổ 1 do không có thân đốt sống) thường có đường vào là
đường trước bên, ưu tiên bên phải để tránh gây tổn thương thực quản. Ngoài
ra cần phải dùng tay ép bó mạch cảnh sang một bên trong khi tiến hành đưa
kim vào thân đốt sống. Đường vào này có nguy cơ gây tổn thương động mạch
đốt sống nằm trong lô mỏm ngang hai bên. Đốt sống C2 do vướng xương hàm
dưới nên khó tiếp cận, có thể sử dụng đường vào qua khoang miệng. Tuy
nhiên cách tiếp cận này có thể gây nhiễm khuẩn cho vùng hầu họng.
Hình 1.3. Hình minh họa đương vào trước bên [72]
Đốt sống ngực
Cột sống ngực bao gồm 12 đốt sống, mỗi bên thân đốt sống ngực có 2
hố khớp là hố sườn trên và hố sườn dưới để khớp với đầu xương sườn ngang
mức và đầu xương sườn ngay dưới. Thân đốt sống ngực và cuống sống có
kích thước tăng dần từ trên xuống dưới. Cuống sống D12 có hướng đi thẳng
từ trước ra sau, càng lên cao các cuống sống ngực càng có xu hướng chếch ra
ngoài [5].
Có thể đưa Trocar vào thân đốt sống (từ D3-D12) bằng cách đi qua
cuống sống hoặc đường sau bên – đi qua chô tiếp xúc giữa xương sườn và
mỏm ngang. Đường qua cuống sống là đường thông dụng và an toàn nhất.
Nếu cuống sống quá nhỏ hoặc không nhìn ro thì có thể sử dụng đường sau
bên thay thế. Khi áp dụng đường chọc sau bên, điểm chọc của Trocar phải
luôn luôn nằm phía trong đường gấp của màng phổi, tránh gây tràn khí màng
phổi. Các đốt sống D1 và D2 có đặc điểm trung gian giữa đốt sống cổ và đốt
sống ngực nên có thể sử dụng đường vào trước bên.
Hình 1.4. Hình minh họa đương sươn – cột sống [72]
Đốt sống thắt lưng
Cột sống thắt lưng gồm 5 đốt sống, tăng nhẹ kích thước từ trên xuống
1.5. Triệu chứng lâm sàng của xẹp đốt sống do loãng xương
Phần lớn xẹp đốt sống do loãng xương không có biểu hiện trên lâm
sàng. Biểu hiện thường gặp nhất là đau lưng. Tuy nhiên không phải cơn đau
lưng nào cũng khiến bệnh nhân tìm đến các cơ sở y tế.
Theo Haczynski (2001), cơ chế đau lưng trong xẹp đốt sống bao gồm
cơ chế trực tiếp (cấu trúc xương trong thân đốt sống bị phá hủy, lực đe ép từ
các cơ quan khác) và cơ chế gián tiếp (giải phóng các chất trung gian hóa học,
các cytokine sau gãy) [52].
Cơn đau thường khởi phát sau một số động tác như cúi, xoay người,
mang vác đồ vật. Cơn đau kéo dài khoảng vài tuần sau khi xẹp đốt sống,
thường có mức độ nặng nề và không thể chịu đựng được. Đau tăng lên khi ho
hoặc làm nghiệm pháp gắng sức, giảm khi nghỉ ngơi. Cơn đau có thể lan sang
hai bên và ra phía trước, hiếm khi thấy đau lan xuống hai chân. Theo tác giả
Suzuki và cs (2008), cơn đau có thể giảm dần sau 3 tháng và kéo dài trong
vòng 1 năm tiếp theo [90]. Khi bị đau kéo dài có thể gây suy nhược cơ thể.
Bên cạnh cơn đau do bản thân đốt sống xẹp, đau lưng còn do cột sống
bị biến dạng. Thay đổi hình dáng của cột sống (gù vẹo) se dẫn tới làm thay
đổi lực tác động lên cơ, dây chằng xung quanh – được coi là nguyên nhân gây
ra đau lưng kéo dài, đau lưng mạn tính.
Xẹp đốt sống còn được biểu hiện bởi sự giảm chiều cao của cơ thể hoặc
biến dạng cột sống. Giảm chiều cao thường diễn ra từ từ nên ít được chú ý.
Một nghiên cứu tại Mỹ của Hillier (2012), ở 3124 phụ nữ trên 65 tuổi cho
thấy nếu chiều cao cột sống giảm >5cm thì nguy cơ gãy xương ở vị trí khác
và tỷ lệ tử vong se khoảng 50%. Biến dạng gù của cột sống là hậu quả do xẹp
nhiều đốt sống, thường là xẹp hình chêm. Những bệnh nhân bị gù thường thấy
rằng mình béo lên, bụng to ra nhưng cân nặng không đổi. Gù nặng thường
gây đau cổ do các cơ ở cổ phải căng ra hơn để giúp nhìn thẳng. Gù nặng còn
chèn ép các xương sườn gây hạn chế hô hấp.
Những trường hợp xẹp rất nặng, chiều cao thân đốt sống giảm >70%,
bờ trên và bờ dưới thân đốt nằm sát nhau thì việc tiến hành bơm cement vào
thân đốt sống se gặp nhiều khó khăn, đây cũng là hạn chế của phương pháp
tạo hình đốt sống qua da. Khi đó những trường hợp xẹp nặng có thể được tiến
hành bằng phương pháp tạo hình qua da có bóng (kyphoplasty).
Độ 0
Đốt sống không xẹp
Độ 1
Xẹp nhẹ, chiều cao
giảm 20 – 25%
Độ 2
Xẹp vừa, chiều cao
giảm 25 – 40%
Hình 1.8. Mức độ xẹp đốt sống theo Genant và cs [50]
X quang cột sống thường quy có nhược điểm là khó xác định được độ
tuổi của xẹp đốt sống. Khi đó cần phải dựa vào cộng hưởng từ hoặc sử dụng
nghiệm pháp động để đánh giá giai đoạn xẹp đốt sống.
1.6.2. Hình ảnh cộng hưởng từ cột sống.
Chụp CHT là một phương pháp thăm khám rất hữu ích trong việc đánh
giá các giai đoạn xẹp đốt sống do loãng xương (giai đoạn cấp tính, bán cấp và
mạn tính). Việc đánh giá này dựa vào sự thay đổi về tín hiệu của tủy xương
trên các chuỗi xung.
Sự xuất hiện và mức độ phù tủy xương có thể giúp đánh giá sự cấp tính
cũng như độ nặng nhẹ của tổn thương xẹp đốt sống. Tổn thương xẹp đốt sống
giai đoạn cấp hay bán cấp là giai đoạn có phù tủy xương, giảm tín hiệu trên