Y học thực hành (806) số 2/2012
22
oỏi húa vừng mc chu biờn cú nguy c cao nờn phi
laser ro chn.
- Ch s khỳc x giỏc mc v trc nhón cu cú tng
quan tuyn tớnh vi mc cn th. Khỳc x giỏc mc cng
cao, trc nhón cu cng di thỡ cn th cng nng.
- i vi cỏc mt cn th nng nờn lm thng qui:
soi ỏy mt chu biờn, siờu õm, in vừng mc phỏt
hin sm v iu tr kp thi cỏc bin chng.
- Nờn nh k t chc khỏm sng lc ti trng hc,
a phng phỏt hin v cp kớnh ỳng s cho ngi
cú tt khỳc x, trỏnh cỏc trng hp nhc th rt ỏng
tic xy ra.
TI LIU THAM KHO
1. HY H Ni - Dch t & thng kờ ng dng trong
nghiờn cu Khoa hc tr.25-37, tr.92-115, tr.121-125.
2. Hi Nhón Khoa M (2001-2002) Quang hc, Khỳc
x & kớnh tip xỳc- Ti liu dch.
3. Hi Nhón Khoa M (2001-2002) Dch kớnh, vừng
mc - Ti liu dch.
4. Bựi Minh Ngc (2004) Nhón khoa gin yu., Nh
xut bn Y hc, tr. 559
5. Nguyn Th Thanh (2006). Nghiờn cu c im
lõm sng ca thoỏi húa vừng mc chu biờn trờn mt cn
th v iu tr d phũng bng laser Diode. Lun vn thc
s, tr. 3-30.
ng dn t tp vn ng, khụng t np kộo dón.
+ Nhúm II (nhúm nghiờn cu: NC): gm 33 bnh nhõn
c tp vn ng sm v t np kộo dón vi mc ớch:
bt ng v bo v cu trỳc khp, ghộp da, to t th
tt nht cho khp, ộp hn ch so phỡ i.
Kt qu cho thy:
- Ti cỏc thi im 1, 2 v 3 thỏng sau iu tr, im
ỏnh giỏ chc nng khp khuu nhúm tp vn ng
sm v t np kộo dón (82,65; 92,52 v 95,37) luụn
cao hn so vi nhúm khụng t np kộo dón (49,97;
56,58 v 60,76), s khỏc bit cú ý ngha thng kờ vi p
< 0,001.
- T l kt qu rt tt v tt nhúm NC tng dn t
24,2% v 42,4% (sau 1 thỏng iu tr) lờn 87,9% v 9,1%
(sau 3 thỏng iu tr), s khỏc bit cú ý ngha thng kờ vi
p < 0,001. Cũn nhúm chng, sau 3 thỏng iu tr khụng
cú trng hp no t kt qu rt tt v tt.
T khoỏ: Phc hi chc nng, bng khp khuu, np
kộo dón.
EVALUATE EFFECTIVENESS OF FUNCTIONAL
REHABILIZATION OF THE ELBOW JOINT ON THE
PRACTICE EARLY AND USE DRAGING BANDS FORE
BURNS PATIENTS IN THE LEVEL OF DEEPTH AT
THE ELBOW REGION
SUMMARY
Study subjects included 69 patients with deep burns
of III, IV in theelbow jionts, ages 5 to 60 years were
divided into two groups:
+ Group I (control group) included 36 patients with
self-guidedtraining exercise, not put splints stretch.
nga co rỳt khp [9]. Goller H., Ender M. (1976) ó
Y häc thùc hµnh (806) – sè 2/2012
23
sử dụng nẹp bằng chất dẻo chịu nhiệt (thermoplastic),
có thể điều chỉnh dần được để điều trị cho bệnh nhân bị
co rút tư thế gấp sau chấn thương vùng khớp khuỷu.
Tại Việt Nam, còn nhiều bệnh nhân có vết bỏng sâu
vùng khớp sau khi khỏi thường để lại sẹo dính, sẹo co
kéo gây ảnh hưởng nặng nề đến chức năng của các
khớp nói chung và khớp khuỷu nói riêng. Vì vậy, chúng
tôi tiến hành đề tài với mục tiêu: Đánh giá hiệu quả phục
hồi chức năng vận động khớp khuỷu bằng phương pháp
tập vận động sớm và đặt nẹp kéo dãn có điều chỉnh ở
vết thương bỏng sâu vùng khuỷu.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 69 bệnh nhân có bỏng sâu độ III, IV ở
vùng khớp khuỷu, được điều trị tại Viện Bỏng Quốc gia
(VBQG), tuổi từ 5 – 60 tuổi.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm I (nhóm chứng): gồm 36 BN được hướng
dẫn tự tập vận động, không đặt nẹp kéo dãn.
+ Nhóm II (nhóm nghiên cứu: NC): gồm 33 BN được
tập vận động sớm và đặt nẹp kéo dãn với mục đích : bất
động và bảo vệ cấu trúc khớp, ghép da ,tạo tư thế tốt
<0,001
3 tháng (3)
16,81 5,09 28,79 2,17
<0,001
p
1-2
< 0,001 < 0,001
p
1-3
< 0,001 < 0,001
p
2-3
< 0,001 > 0,05
Theo thời gian điểm đánh giá mức độ đau của các
bệnh nhân ở cả hai nhóm đều tăng dần,điểm đau của
nhóm NC cao hơn so với nhóm chứng.
Bảng 2. Gấp khớp khuỷu sau điều trị (tối đa 17 điểm)
Hoạt động gấp khớp khuỷu (X SD)
Thời gian
Nhóm I (n= 36) Nhóm II (n= 33)
P
1 tháng (1)
11,19 2,42 14,94 1,90
>0,05
2 tháng (2)
11,83 2,14 16,15 1,41
<0,05
3 tháng (3)
12,22 2,24 16,64 0,92
p
1-2
>0,05 >0,05
p
1-3
<0,05 <0,05
p
2-3
>0,05 >0,05
Theo thời gian điểm đánh giá tầm vận động của hoạt
động duỗi của khớp khuỷu sau điều trị ở hai nhóm đều
tăng (p<0,05). Tầm vận động của duỗi khớp khuỷu sau
điều trị ở nhóm NC luôn cao hơn so với nhóm chứng
Bảng 4. Sấp khớp khuỷu sau điều trị (tối đa 6 điểm)
Hoạt động sấp khớp khuỷu (X SD)
Thời gian
Nhóm I (n= 36) Nhóm II (n= 33)p
1 tháng (1)
4,44 0,90 5,76 0,56
<0,001
2 tháng (2)
4,56 0,90 5,91 0,38
<0,001
3,61 1,02 5,64 0,65
<0,01
2 tháng (2)
3,78 0,98 5,91 0,38
<0,001
3 tháng (3)
3,72 1,05 5,94 0,24
<0,001
p
1-2
>0,05 >0,05
p
1-3
<0,05 <0,05
p
2-3
>0,05 >0,05
Tầm vận động của hoạt động ngửa khớp khuỷu sau
điều trị ở hai nhóm đều tăng ,chỉ số này ở nhóm NC cao
hơn so với nhóm chứng (p<0,05).
Bảng 6. Tầm vận động của khớp khuỷu sau điều trị
(tối đa 37 điểm)
Hoạt động của khớp khuỷu (X SD)
Thời gian
Nhóm I (n= 36) Nhóm II (n= 33)
24
Sức mạnh cơ vùng khớp khuỷu
(X SD)
Thời gian
Nhóm I (n= 36) Nhóm II (n= 33)P
1 tháng (1)
6,06 1,60 11,27 2,87
<0,001
2 tháng (2)
7,06 1,45 12,76 2,09
<0,001
3 tháng (3)
7,25 1,46 13,06 1,96
<0,001
p
1-2
<0,01 <0,01
p
1-3
<0,01 <0,01
1-3
<0,001 <0,001
p
2-3
<0,001 <0,001
Sự hồi phục chức năng sinh hoạt hàng ngày sau
điều trị ở hai nhóm đều tăng(p < 0,001).Sự hồi phục
chức năng sinh hoạt hàng ngày sau điều trị ở nhóm NC
cao hơn so với nhóm chứng ( p<0,01).
Bảng 9 Chức năng khớp khuỷu (tối đa 100 điểm)
Sự hồi phục chức năng khớp khuỷu
(X SD) Thời gian
Nhóm I(n= 36) Nhóm II(n= 33)
p
1 tháng (1)
49,07 8,73 82,65 10,99
<0,01
2 tháng (2)
56,58 6,87 92,52 7,51
<0,01
3 tháng (3)
60,76 8,72 95,37 5,40
<0,01
p
2 tháng
Kém 35 97,2 1 3
Rất tốt 0 0 29 87,9
Tốt 0 0 3 9,1
Trung bình
7 19,4 1 3
3 tháng
Kém 29 80,6 0 0
Tỷ lệ kết quả rất tốt và tốt ở nhóm NC tăng dần theo
thời gian điều trị. Ở nhóm chứng, không có trường hợp
nào đạt kết quả rất tốt và tốt.
BÀN LUẬN
1. Tình trạng đau sau điều trị
Các nghiên cứu cho rằng đau là dấu hiệu quan
trọng, làm hạn chế tầm vận động của khớp khuỷu cũng
như ảnh hưởng nhiều đến sự tập luyện và thực hiện các
chức năng sinh hoạt hàng ngày [3], [4].
Sau 3 tháng điều trị, nhóm NC gần như không đau,
chỉ còn một số đau nhẹ, thường xuyên vận động khớp
khuỷu và không cần dùng thuốc. Trong khi đó, ở nhóm
chứng đa số còn đau vừa phải, thỉnh thoảng vận động
khớp khuỷu và đôi khi cần sử dụng thuốc giảm đau.
Kết quả này phù hợp với nhận định của Phạm Văn
Minh và nhiều tác giả khác là vận động sớm kết hợp với
kéo dãn có tác dụng làm giảm đau, giảm phù nề [2].
Chúng tôi cho rằng nẹp kéo dãn có điều chỉnh vừa có
tác dụng kéo dãn, vừa có tác dụng nâng đỡ vùng khớp
khuỷu bị tổn thương, nên đã góp phần giảm viêm, giảm
phù nề, chống căng cơ, tăng cường lưu thông tuần hoàn
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng khi bất động
chi thể kéo dài có thể dẫn đến các biến chứng khác
nhau như teo cơ, cứng khớp, co cứng cơ, loãng xương,
loét. Do vậy, một trong những yêu cầu của phục hồi
chức năng khớp là phải cải thiện được sức cơ [5], [6].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy theo thời
gian, điểm đánh giá sức cơ vùng khớp khuỷu, sức nắm
bàn tay sau điều trị ở hai nhóm đều tăng lên có ý nghĩa
thống kê với p<0,01. Với điểm tối đa là 21 điểm thấy tại
các thời điểm 1, 2 và 3 tháng, điểm đánh giá sức cơ sau
điều trị ở nhóm NC (15,94; 17,94 và 18,52) luôn cao hơn
so với nhóm chứng (8,50; 10,06 và 10,69), sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p<0,001.
Y häc thùc hµnh (806) – sè 2/2012
25
Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của Phạm
Văn Minh khi phục hồi chức năng khớp khuỷu ở bệnh
nhân chấn thương. Tác giả thấy rằng sau khi tập vận
động và đặt nẹp kéo dãn sức mạnh cơ của bệnh nhân
được cải thiện với kết quả rất tốt là 83,3% [2]. Theo tác
giả việc áp dụng các bài tập chủ động, chủ động có sức
cản đã góp phần đáng kể cải thiện sức mạnh của cơ.
Hà Hoàng Kiệm cho rằng điều trị bằng vận động là
phương pháp điều trị quan trọng trong vật lý trị liệu và
phục hồi chức năng [1]. Vận động trị liệu cần thiết được
áp dụng trong mọi giai đoạn bệnh.
đều tăng lên có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Với thang
điểm 100, thì ở các thời điểm 1, 2 và 3 tháng, điểm đánh
giá chức năng khớp khuỷu sau điều trị ở nhóm NC
(82,65; 92,52 và 95,37) luôn cao hơn so với nhóm
chứng (49,97; 56,58 và 60,76), sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p<0,001.
Phân loại theo kết quả điều trị thấy tỷ lệ kết quả rất
tốt và tốt ở nhóm NC tăng dần từ 66,6% sau 1 tháng
điều trị lên 97% sau 3 tháng điều trị, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p<0,001. Ở nhóm chứng, sau 3
tháng điều trị vẫn không có trường hợp nào đạt kết quả
rất tốt và tốt.
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu
của Phạm Văn Minh nhóm sử dụng nẹp có kết quả rất
tốt (83,3%) cao hơn so với nhóm không sử dụng nẹp
(46,7%) [2]. Tác giả cũng thấy rằng sau 1, 2 và 3 tháng
điều trị điểm trung bình khớp khuỷu của nhóm có sử
dụng nẹp kéo dãn cao hơn so với nhóm không sử dụng
nẹp kéo dãn.
Tỷ lệ kết quả rất tốt sau 3 tháng điều trị của chúng tôi
(87,9%) cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Bùi
Xuân Thắng khi phục hồi chức năng khớp khuỷu cho 27
bệnh nhân bị hạn chế tầm vận động khớp khuỷu sau
chấn thương bằng các phương pháp đắp Paraffine, xoa
bóp, tập luyện thấy 74% đạt kết quả khá và tốt [5].
Chúng tôi cho rằng tập vận động sớm và đặt nẹp kéo
dãn khớp khuỷu là phương pháp có hiệu quả trong quá
trình điều trị phục hồi chức năng khớp khuỷu sau tổn
thương bỏng sâu.
KẾT LUẬN
NXB y học. Hà Nội, trang 118-122.
5. Bùi Xuân Thắng (1996), Kết quả bước đầu về
phục hồi chức năng tầm vận động khớp khuỷu trong và
sau bất động do chấn thương”, Kỷ yếu công trình nghiên
cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt nam. Nhà
xuất bản Y học, Hà Nội 11/1996, tr. 31- 35.
6. Lê Thế Trung (1992), “Sự liền vết thương”, Bài
giảng bệnh học ngoại khoa sau đại học, Tập I, HVQY, tr.
98-106.
7. Lê Thế Trung (1995), “Công tác điều dưỡng bệnh
nhân bỏng nặng”, Thông tin Bỏng, Số 4, Hà Nội, tr. 1- 3.
8. George R., Hepburn P. T. (1987), “Case studies:
Contracture and stiff Joint management with Dyna
splint”, J. Orthop. sports Physther.pp. 498- 504.
9. Mc Master W. C., Tivnon M. C., Waugh T. R.
(1975), “Cas Brace for the upper extremity”, Clin.
Orthop, 109, pp. 126- 130.
10. Szekeres M., Chinchalkar S. J., King G. J.
(2008), “Optimizing elbow rehabilitation after instability”
Hand Clin., 24(1), pp. 27- 38.