BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TÔ THỊ THÁI
ĐỖ TIẾN ĐÔNG
DƯƠNG VĂN THÀNH
TẠ TUẤN TÚ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THOÁI HOÁ CUỘC SỐNG CỔ
BẰNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VẬT LÝ
KẾT HỢP VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II – Khoá 22
Hà Nội – 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TÔ THỊ THÁI
ĐỖ TIẾN ĐÔNG
DƯƠNG VĂN THÀNH
TẠ TUẤN TÚ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THOÁI HOÁ CUỘC SỐNG CỔ
BẰNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VẬT LÝ
KẾT HỢP VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU
Chuyên ngành : Phục hồi chức năng
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II – Khoá 22
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS . ĐỖ THỊ HOÀ
Hà Nội – 2009
2
CHỮ VIẾT TẮT
PHCN: phục hồi chức năng
THCSC: Thoái hoá cột sống cổ
+ Paraphin
+ Hồng ngoại
+ Điện phân
+ Kéo dãn cột sống
4
+ Vận động trị liệu – xoa bóp trị liệu
+ Hoạt động trị liệu
+ Sử dụng các dụng cụ chỉnh hình
CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 . Đối tượng nhiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
2.1.2. Những bệnh nhân không đưa vào nghiên cứu
2.2 . Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.2.2. Công thức mẫu cho nghiên cứu
2.3 . Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
2.4 . Ký thuật phục hồi chức năng trong nghiên cứu này bao gồm:
2.4.1. Hồng ngoại
2.4.2. Điện phân
2.4.3. Kéo dãn cột sống cổ
2.4.4. Vận động trị liệu cột sống cổ
2.5 . Phương pháp đánh giá kết quả
2.5.1. Đánh giá mức độ giảm đau
2.5.2. Đánh giá tiến bộ về tầm hoạt động khớp bằng thước đo góc theo
phương pháp Zero
2.5.3. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng chung dựa vào sự cải thiện các
triệu chứng lâm sàng và tâm lý của bệnh nhân sau điều trị
2.6 . Xử lý số liệu
2.7 . Khía cạnh đạo đức của đề tài
CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.3.2. Ảnh hưởng của tuổi bệnh nhân
4.3.3. Ảnh hưởng của vị trí tổn thương
4.3.4. Ảnh hưởng của hội chứng lâm sàng
4.4 . Đánh giá tỉ lệ tái phát bệnh giữa 2 nhóm
CHƯƠNG V : KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
6
phụ lục 1 : Mẫu bệnh án dùng trong nghiên cứu
phụ lục 2 : Bảng câu hỏi NPQ
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cột sống cổ là đoạn cột sống mềm dẻo nhất , có tầm vận động linh hoạt hơn
cột sống thắt lưng và luôn phải chịu một trọng lực thường xuyên , tuy nhẹ nhưn g
nó phải chịu co cơ thường xuyên và liên tục của các cơ vùng gáu vì vây sẽ tạo nên
một áp lực đặc biệt trên các đĩa đệm ( 15 ). Cùng với quá trình lão hoá , tình trạng
chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp và đĩa đệm sẽ dẫn đến thoái hoá cột sống
cổ ( hay còn gọi là hư cột sống ) , đây là một bệnh lý hay gặp ở lứa tuổi lao động ,
từ 30 tuổi trở lên ( 26 ) , tăng ở lứa tuổi trên 50 ( 15 ).
Ngày nay do nền kinh tế đang phát triển , áp lực công việc , nhu cầu chuyên
môn hoá ngàng càng cao đầu và cổ luôn phải chịu một tư thế kéo dài không sinh
lý như : ngồi làm việc phải cúi cổ lâu , động tác đơn điệu lặp đi lặp lại của đầu , đòi
hỏi sự chịu đựng và thích nghi của đầu nên tỷ lệ này ngày càng tăng . Theo
Nguyễn Văn Chương , chủ nhệm bộ môn thần kinh , học viên Quân y 103 , hàng
năm có khoảng 8- 10% số bệnh nhân đến điều trị tại khoa thần kinh bị thoái hoá
cột sống cổ ( 24 ) . Theo Trần Ngọc Ân , thoái hoá cột sống cổ chiếm tới 14 %
trong số bệnh nhân có thoái hoá đứng thứ 2 sau thoái hoá cột sống thắt lưng (1) .
Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Nghiêm số bệnh nhân đau cột sống do tắc
nghẽn có thoái hoá chiếm 16.83 % (17).
Với những hậu quả của biến đổi sinh lý - bệnh lý của cột sống cổ tuỳ theo
mức độ đều ảnh hưởng nhất định đến não bộ và gây nên nhiều hội chứng khác
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 . SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH ĐAU DO THOÁI HOÁ CỘT SỐNG CỔ :
Đau do THCSC là triệu chứng chủ yếu , thường xuyên và nổi bật nhất . Vị
trí đau tuỳ thuộc vào mức độ , vị trí tổn thương , như đau ở cột sống cổ , đau ở
vùng chẩm , đau ở vùng trước tim , ở khớp vai hoặc khó xác định vị trí đau .
Đau đã được phát hiện từ rất lâu trước khi phát hiện ra tia Roentgen . Năm
1893 , Von Bechterew phân biệt các tổn thương THCSC với bệnh cột sống
Marie Strumpel bằng các biểu hiện như đau , yếu cơ , dị cảm và các rối loạn tư
thế cột sống .
Năm 1872 Dulblay mô tả đau quanh khớp vai lần đầu tiên do THCSC nhưng
tổ chức quanh khớp lại viêm vô khuẩn > Dến Sahlgrem (1944) , Inman và
Saunders (1947 ) đã chứng minh được sự lan rộng của đau kèm theo sự kích
thích của màng xương và các dây chằng do nguyên nhân đầu tiên là hư xương
sụn CSC . Đau đầu vùng chẩm theo Deffy và Jacobs (1958) là do thiếu máu ở
động mạch đốt sống gây nên thiếu máu ở các nhánh của nó , trong đó có nhánh
cung cấp máu cho vùng màng não hố sọ sau . Màng não bị thiếu máu gây kích
thích recepter cảu dây X và nhánh V 1.
Gunther và Sampson mô tả đầu tiên hội chứng đau ở vùng tim do bênh cột
sống , sau đó đưwcj nhiều tác giả Josey , Morison , Gordon chứng minh mối
10
liên quan giữa rối loạn tim và THCSC . Nguyên nhân là do thay đổi của hạch
giao cảm cổ ảnh hưởng tới sự phan bố thần kinh tim .
Từ năm 1961 , người ta mô tả rõ các trường hợp canxi hoá day chằng dọc
sau gây nên chèn ép tủy mạn tính tiến triển từ phía trước trong khoảng hai hay
nhiều đoạn cột sống .
Năm 1980 , bênh lý rễ - tuỷ của cột sống cổ xác định là do lắng đọng các
tinh thể calcium pyrophosphate ở dây chằng vàng.
Ngày nay , khái niệm THCSC đã được biết đến rộng rái , THCSC có thể gặp
ở mọi chủng tộc , dân tộc , điều kiện địa lý , khí hậu , kinh tế Đây là bệnh rất
phổ biến , là tổn thương hay gặp nhất của cột sống cổ và đứng hàng thứ hai sau
không đêu nhau , phần trước nhỏ có mỏm răng , phần sau rộng có tuỷ
sống .
• Đốt sống cổ II (đốt trục ) :
- Có thân đốt như các đốt C III đến C VII nhưng còn thêm mỏm nha .
- mỏm nha dính liền vào thân đốt làm trục tựa để đốt C I quay quanh mỏm
nhan nên biên độ xoay cổ rất rộng vì thế đốt C II còn gọi là đốt trục .
13
• Đốt sống cổ dưới ( C III – C VII ) :
Có chung những đặc tính :
- Thân đốt có bề mặt hình bầu dục , chiều cao nhỏ hơn chiều rộng.
- Mỏm ngang ở 2 bên và có lỗ ở giữa , lỗ ở mỏm ngang cho động mạch đốt
sống đi qua .
- Lỗ sốn lớn rộng và có hình tam giác , tạo bởi 2 mảnh cung đốt sống rộng
và dẹt .
- Mỏm gai C VII dài và lớn nhất , giống như mỏm gai của đốt sống ngực .
Lỗ của mỏm ngang C VII nhỏ hơn các dốt sống cổ khác và không cho
động mạch đốt sống đi qua .
- Mặt trên thân đốt sống có thêm hai mỏm móc ( hay mảu bán nguyệt ) ôm
lấy góc dưới của thân đốt sống phía trên hình thành khớp mỏm móc đốt
sống .
- Các khớp này được phủ bằng sụn và cũng có một bao khớp chứa dịch ,
có tác dụng giữ cho đĩa đệm không bị lệch sang hai bên khi khớp này bị
thoái hoá gai xương của mỏm móc nhô vào lỗ gian đốt sống sẽ chèn ép
vào rễ thần kinh ở đó .
14
1.2.2. Đĩa đệm cột sống cổ :
- Đĩa dệm là bộ phận chính cùng với các dây chằng đảm bảo sự liên kết
chặt chẽ giữa các thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động . Ở phía trước
đĩa đệm dầy hơn phía sau nên cột sống cổ có chiều cong sinh lý ưỡn ra trước.
gồm 2 phần ống xương và ống dây chằng :
- ống xương : được tạo thành từ các thân đốt sống, các cuống và cung sau
đốt sống .
- ống dây chằng : gồm thành trước là mặt sau thân đốt sống, thành bên là
những mỏm khớp gian đốt sống , thành sau là dây chằng vàng
- Đường kính trước sau của ống sống cổ CIV – CVII lớn hơn hoặc bằng
14mm . dưới 11mm được coi là hẹp ống sống cổ
- Đường kính trước sau của ống sống CI cổ CII rất rộng
1.2.7. Tủy sống cổ :
16
Nằm trong ống sống dược bao bọc bởi màng cứng, màng nhện và màng nuôi .
- đường kính trung bình của tủy sống cổ là 1cm . ở đoạn CV , DI đoạn này
phình to . các rễ từ CV đến DI tạo nên đám rối thần kinh cánh tay chi phối
cho toàn bộ chi trên .
- tủy sống cổ có 8 khoang tủy , tách ra 8 đôi rễ thần kinh tủy sống cổ . rễ
trước chi phối vận động , rễ sau chi phói cảm giác .
- 1 rễ thần kinh cổ được hợp bởi rễ trước và rễ sau nằm trong lỗ gian đốt
sống , chạy ngang sang bên nên mức của tủy sống và rễ ngang nhau.
1.2.8. Động mạch cung cấp máu cho tủy :
17
18
* Mạch máu nuôi dưỡng tủy cổ :
Gồm 3 hệ thống:
- Động mạch tủy sống : gồm động mạch tủy trước và 2 động mạch tủy sau
cung cấp máu cho 2/3 tủy trước và vùng sau của tủy .
- Động mạch rễ bắt nguồn từ động mạch đốt sống, gồm động mạch rễ trước
và động mạch rễ sau.
- Mạng lưới mạch vành : hệ động mạch nuôi tủy chuyên biệt được thành
bởi mạng lưới mạch vành , đi vào phần ngoại vi chất trắng chủa tủy ,
cung cấp máu cho chất xám tủy sống cho cột trước và cột bên .
- Động tác duỗi đạt tới mức chẩm ở tư thế nằm ngang .
- Động tác nghiêng đạt tới mức tai chạm đầu trên xương canh tay.
- Động tác xoay đạt tới mức cằm ở trên vai.
- Số đo tầm hoạt động cột sống cổ người bình thường ở Việt Nam :
+ Cử động gập – duỗi : tầm hoạt động 35°
+ Cử động nghiêng trái – nghiêng phải tầm hoạt động là 45°
+ Cử động xoay : tầm hoạt động là 45°
1.4. THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ
1.4.1. Định nghĩa :
THCSC là bệnh cột sống mãn tính , đau và biến dạng , không có biểu hiện
viêm . Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa
đệm ( ở cột sống cổ ) , phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn và
màng hoạt dịch [1]
Bệnh thường gặp ở những người trên 30 tuổi và tăng dần theo lứa tuổi [1] ,
[26] .
20
1.4.2. Nguyên nhân [15] ,[24] :
- Nguyên nhân chính của THCSC là quá trình lão hóa và tình trạng chịu áp
lực quá tải lâu dài của sụn khớp , kết hợp sự có mạt của 1 số yếu tố khác thúc đẩy
làm quá trình thoái hóa này nhanh và năng lên .
* Thoái hóa sinh học :
Quá trình THSH tiến triển theo tuổi được yếu tố vi chấn thương và các yêu
tố khác thúc đẩy them ( thoái hóa bệnh lý ) > Theo thời gian các tế bào sụn sẽ già
đi , khả năng tổng hợp các chất để tạo nên Mucopoly saccarid và sợi Collagen bị
giảm sút và rối loạn . Sụn sẽ mất dần tính đàn hồi và chịu lực giảm . Mặt khác tế
bào sụn của người trưởng thành lại không có khả năng sinh sản và tái tạo , tư thế
đứng thẳng sẽ làm cho quá trình thoái hóa tăng dần theo tuổi tác và diễn ra lien tục
trong suốt cuộc đời .
*Thoái hóa bệnh lý:
Do nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài thúc đẩy quá trình thoái hóa tăng lên
- Tiến trình thoái hóa có thể khởi phát từ bất kỳ khớp nào trong các khớp của
đơn vị chức năng cột sống . Thương tổn nguyên phát do áp lực tác động lên khớp
và đĩa đệm quá mức gây nên biến đổi hyaline sụn khớp , mất sụn khớp , hư biến
bao hoạt dịch và xương dẫn đến mất khả năng đàn hồi của khớp chống lại va
chạm , gây thoát vị đĩa đệm , gây đau trong hoạt động CSC . Do đơn vị chức năng
cột sống có cấu trúc và hoạt động thống nhất , biến đổi tại một khớp kéo theo sự
thay đổi điểm chịu lực và áp lực tác động lên cácc khớp còn lại cũng như các thành
phần lien quan .
- Hẹp khoang gian đốt sống , phì đại mẩu bán nguyệt , mất đường cong sinh
lý , hình thành các gai xương , đặc biệt là các gai xương mọc ngang làm hẹp lỗ
gian đốt sống , lỗ động mạch … gây kích thích mạnh lên các thụ cảm thể đau ở bề
mặt bao khớp . các dây chằng ở cổ dày lên và kém đàn hồi , chèn ép vào rễ thần
kinh cổ , tủy cổ , động mạch đốt sống .Hẹp ống sống cổ là mức độ nặng của
22
THCSC . Trường hợp chèn ép tủy cổ nặng nếu không được phát hiện và điều trị
sớm sẽ có thể dẫn tới tàn tật . Thoát vị đĩa đệm CSC cũng là hậu quả của quá trình
THCSC nhưng không phải tất cả các trường hợp có THCSC đều có thoát vị đĩa
đệm , thoát vị đĩa đệm có thể gặp ở tất cả các vị trí , mức độ , giai đoạn của bênh
[15],[22].
- Các thói quen xấu gây tư thế bù trừ của CSC , tư thế cố định của cột sống
do nghề nghiệp khi ngồi làm việc , thói quen sinh hoạt lao động … làm cột sống cổ
phải hoạt động ở vị thế quá tầm thường xuyên và kéo dài là nguyên nhân gây gia
tăng áp lực và tải trọng trên các khớp và thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa .
* Tiến triển về lâm sàng :
Bệnh tiến triển thành từng đợt năng dầnleen xen kẽ khoảng thời gian hoàn
toàn bình thường .
- Giai đoạn đầu chỉ biểu hiện đau mỏi , hạn chế vận CSC , cảm giác nặng
đầu vùng sau gáy hoặc chẩm.
- Giai đoạn sau tùy theo vị trí tổn thương có thể xuất hiện 1 hay đầy đủ 5
triệu chứng lâm sàng .
sàng khác nhau : Đau thường xuất phát từ tổ chức dây chằng , gân , màng
xương và tổ chức cạnh khớp . Có thể có biểu hiện : Đau đĩa đệm cổ ( đau
vùng gáy liên tục hoặc từng cơn , co cứng gáy , hạn chế vận động CSC
…) , hội chứng cơ bậc thang ( co cứng các cơ ở cổ , đau như kim châm
dọc mặt trong cánh tay lan đến ngón 4,5 ) , viêm quanh khớp vai – cánh
tay , hội chứng vai – bàn tay hoặc các hội chứng nội tạng khác …
- Hội chứng tủy : Đây là biêu hiện lâm sàng nặng nhất của THCSC , do
các gai xương xuất phát từ thân đốt sống hay mỏm móc chèn ép tủy mạn
tính thường gặp ở người cao tuổi và diễn biến kéo dài . Khởi phát từ từ ,
nặng dần , liệt và teo cơ rõ dần , rối loạn cảm giác , rối loạn cơ vòng …
• Cận lâm sàng :
Chụp X- quang quy ước là xét nghiệm đầu tiên khi tiêu chuẩn lâm sàng
có biểu hiện của THCSC , X- quang ở tư thế thẳng nghiêng , chếch ¾
phải trái .
24
- Phim thẳng : thấy rõ từ C III đến đốt sống ngực đầu tiên , bờ bên đốt C V
và C VI có hình chồng lên của sụn giáp trạng , các sụn này đôi khi có vôi
hóa , Ở C III có hình xương móng chồng lên .
- Phim nghiêng : thấy rõ từ C I đến CVI , C VII hoặc D I . Việc thấy CVII hoặc
D I sẽ phụ thuộc cào sự chồng lên của vai nhiều hay ít . Các mỏm gai có
kích thước khác nhau , mỏm gai C II và C VII là dài hơn cả .
- Phim chếch : Sẽ thấy được rõ hình các lỗ lien hợp , các lỗ này bình
thường có hình bầu dục [11].
Trên X-quang quy ước có các hình ảnh thường gặp sau [22] :
- Thay đổi đường cong sinh lý đơn thuần .
- Mọc Gai xương , mỏ xương .
- Phì đại mẩu bán nguyệt .
- Thoái hóa thân đốt .
- Hẹp lỗ lien đốt .
- Vôi hóa dây chằng .