Đồ Án Tốt Nghiệp
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu chế tạo Sol-Gel chứa các hạt nano TiO
2
và ứng dụng phủ màng trên gốm sứ Ceramic
Sinh Viờn Thực Hiện : Nguyễn Hùng Mạnh
Lớp : QTTB-K50
Giáo viên Hướng Dẫn : PGS.TS.Phạm Thu Nga
TS.Nguyễn Văn Xá
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
1
Đồ Án Tốt Nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Văn Xá. Thầy là người đã trực
tiếp hướng dẫn em làm và hoàn thành đồ án tốt nghiệp này. Thầy đó luụn bên
cạnh và hướng dẫn cho em để quá trình nghiên cứu làm đồ án của em được
thuận lợi và nhanh chóng.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Phạm Thu Nga, nghiên cứu viên
cao cấp của viện vật liệu, viện khoa học công nghệ Việt Nam, người đã truyền
đạt cho em những kiến thúc quý báu nhất và tận tình chỉ dẫn em trong công
tác nghiên cứu khoa học để em hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn Ths.Cao Xuân Thắng, Ths.Vũ Đức Chính
những người luôn ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em khi học
tập và nghiên cứu tại trung tâm sắc ký, trường Đại học Bách khoa Hà Nội
cũng như tại viện công nghệ vật liệu, viện khoa học công nghệ việt nam.
Cảm ơn gia đình và bạn bè đó luụn ủng hộ động viên em trong thời
gian làm tốt nghiệp để em sớm hoàn thành được bản đồ án như ngày hôm nay.
Hà Nội, Tháng 5 Năm 2010
Sinh Viên
Nguyễn Hùng Mạnh
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
2.2.1.Lý thuyết kỹ thuật nhúng phủ ( Dip-coating ) 28
2.2.2.Thiết bị 29
2.2. THIẾT BỊ PHUN PHỦ [11,12] 32
2.2.1. Lý thuyết kỹ thuật phun phủ ( Spray ) 32
2.2.2.Thiết bị 32
CHƯƠNG III 33
CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 33
3.1.SEM : KÍNH HIỂN VI ĐIỆN TỬ QUẫT 34
3.2. AFM : KÍNH HIỂN VI LỰC NGUYÊN TỬ 35
3.2.1. Nguyên lý của AFM: 35
3.2.2.Các chế độ ghi ảnh 36
3.2.2.1. Chế độ tiếp xúc (chế độ tĩnh) 36
3.2.2.2. Chế độ không tiếp xúc (chế độ động) 37
3.2.2.3. Tapping mode 37
3.2.3. Phân tích phổ AFM 37
3.2.4. Ưu điểm, nhược điểm và ứng dụng của AFM 37
3.2.4.1.Ưu điểm của AFM 38
3.2.4.2. Nhược điểm của AFM 38
3.2.4.3. Ứng dụng của AFM 38
3.3. XRD : NHIỄU XẠ TIA X 38
3.3.1.Phương trình Bragg 39
3.3.2.Ảnh hưởng của kích thước hạt nano tinh thể lên độ rộng của vạch nhiễu
xạ tia X 41
3.3.3. Xác định kích thước hạt 42
3.4.PHỔ TÁN XẠ MICRO-RAMAN 45
CHƯƠNG IV 47
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
4
Đồ Án Tốt Nghiệp
có kích
thước bề dày nano mét được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan
tâm nhằm tối ưu hóa vật liệu cũng như nghiên cứu phát triển ứng dụng. Màng
mỏng TiO
2
khi kích thước hạt đạt cỡ vài chục nano mét và tồn tại ở dạng đơn
pha anatase là một chất bán dẫn có tính oxi hóa khử mạnh, là vật liệu quang
xúc tác làm sạch môi trường, có tác dụng diệt khuẩn, khử mùi, làm các lớp
sơn phủ chống mốc, chống bụi, chống bẩn, chống sương trờn kớnh, làm các
thiết bị nhạy khí để chế tạo các sensor [5]. Do đó, việc nghiên cứu khống chế
quy trình công nghệ chế tạo vật liệu TiO
2
pha anatase dạng màng mỏng chế
tạo bằng kỹ thuật sol-gel kết hợp quay spin, nhỳng kộo [14], phương pháp bốc
bay bằng chùm tia laser hay phún xạ trong chân không được nhiều phòng thí
nghiệm quan tâm.
Theo công bố của tác giả W.F.Zhang và cộng sự nghiên cứu phổ tán xạ
Raman trờn cỏc hạt nano tinh thể TiO
2
chế tạo bằng kỹ thuật hóa thủy phân
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
6
Đồ Án Tốt Nghiệp
thì pha anatase được hình thành trong quá trình chế tạo khi nhiệt độ ủ không
vượt quá 690
0
C. Với nhiệt độ ủ lớn hơn 690
0
C thì pha TiO
2
2. Ứng dụng phủ màng trên gốm sứ Ceramic bằng cách
- Dùng phương pháp nhúng phủ (Dip-coating)
- Dùng phương pháp phun phủ (Spray)
Mục đích em hướng tới trong đồ án tốt nghiệp này là :
Hoàn thiện các kết quả nghiên cứu chế tạo màng nano TiO
2
theo hướng
công nghệ đơn giản, vật liệu rẻ tiền.
Đưa vào ứng dụng thực tiễn những sản phẩm đã đạt yêu cầu kỹ thuật.
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
7
Đồ Án Tốt Nghiệp
Bởi nước ta có nguồn nguyên liệu Titan dồi dào ở dọc bờ biển miền
trung giúp có thể chủ động về nguồn nguyên liệu từ đó tiến tới sản xuất vật
liệu nano TiO
2
phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu.
Đồ án tốt nghiệp này của em được thực hiện và hoàn thành tại phòng
120, 121, 313A viện vật liệu, viện khoa học công nghệ Việt Nam và trung
tâm sắc ký, trường đại học bách khoa Hà Nội
Các phép đo : Nhiễu xạ tia X, SEM, AFM, Raman đều được tiến hành
tại viện khoa học công nghệ việt Nam với việc sử dụng các loại máy móc hiện
đại và tiên tiến nhất hiện nay.
Nội dung của đồ án bao gồm các phần sau :
- Mở đầu
- Chương I : Tổng quan lý thuyết về vật liệu nano TiO
2
và ứng dụng
- Chương II : Chế tạo sol-gel chứa các hạt tinh thể nano TiO
2
Titan là một kim loại nhẹ, cứng, bề mặt bóng láng, chống ăn mòn tốt,
có thể chống ăn mòn với cả dung dịch axit, khí clo và các dung dịch muối
thông thường do kim loại này có thể tạo một lớp oxit bảo vệ bền phía ngoài
bề mặt trong môi truờng không khí.
Ở trạng thái tinh khiết titan có thể được kéo sợi dễ dàng (nhất là trong
môi trường không có oxy), dễ gia công. Nhiệt độ nóng chảy của titan tương
đối cao nờn nú có thể dùng làm kim loại chịu nhiệt. Titan cứng như thép
nhưng nhẹ hơn 40% và nó nặng hơn nhôm nhưng cứng gấp đôi.
Titan kim loại khi được đốt ở 610
o
C hoặc cao hơn trong không khí sẽ
tạo thành titan dioxit TiO
2
. Titan dioxit cho đến nay vẫn là hợp chất quan
trọng nhất của titan (khoảng 95% lượng titan được sử dụng ở dạng TiO
2
),
được ứng dụng rộng rãi trong các ngành kĩ thuật như công nghiệp sơn, giấy,
xỳc tỏc…
Titan dioxide (TiO
2
) có thể kết tinh ở ba dạng thự hình khác nhau là
anatase, rutile và brookit. Hai dạng thự hỡnh chính thường gặp và thường
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
9
Đồ Án Tốt Nghiệp
được sử dụng là anatase và rutile. Dạng brookit ít gặp trong tự nhiên và không
có giá trị thương mại.
Trong quá trình tạo TiO
2
6
cấu
trúc theo kiểu bát diện, trong đó mỗi nguyên tử Titan nằm ở tâm của khối tám
mặt bao quanh bởi sáu nguyên tử Oxi (hình 1.1), các đa diện phối trí này sắp
xếp khác nhau trong không gian. Trong anatase, mỗi khối tám mặt có bốn
cạnh chung còn trong rutile chỉ có hai cạnh chung nghĩa là mạng cơ bản của
anatase cấu tạo từ bốn phân tử TiO
2
còn rutile cấu tạo từ hai phân tử TiO
2
.
Trong tinh thể Anatase, các đa diện phối trí tám mặt bị biến dạng mạnh hơn so
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
10
Đồ Án Tốt Nghiệp
với Rutile, khoảng cách Ti-Ti ngắn hơn và khoảng cách Ti-O dài hơn (hình
1.2), điều này ảnh hưởng đến cấu trúc điện tử của hai dạng tinh thể, kéo theo
sự khác nhau về các tính chất vật lý và hóa học. Chớnh vì mật độ nộn cỏc ion
cao hơn của tinh thể rutile đã làm tăng lực hút tương tác giữa chúng, làm giảm
hoạt tính xúc tác quang.
Hình 1.2. Cấu trúc tinh thể của anatase(a) và rutile (b)
Mặt khác TiO
2
cũng là chất bán dẫn, khi có kích thích quang, độ rộng
vùng cấm của nó, E
g
= 3,2 eV đối với pha tinh thể atanase, do vậy nó hấp thụ
mạnh các bức xạ trong vùng tử ngoại. Bảng 1 trình bầy một số tính chất của
TiO
2
phẩm, đồ gốm sứ…Tạp chất có ảnh hưởng lớn rất lớn tới màu sắc đioxit titan
TiO
2
. Các tạp chất gây ra sự mất màu trắng của bột TiO
2
ngay cả khi lượng
tạp chất rất nhỏ.
TiO
2
có hoạt tính quang học cao trong vùng ánh sáng nhìn thấy và ánh
sáng tử ngoại ở nhiệt độ phòng. Hạt có đường kính từ 200–300 nm phân tán
mạnh mẽ trong vùng ánh sáng trông thấy bước sóng từ 400–600 nm, nhưng
ngược lại, tinh thể có đường kính 20–50 nm tán xạ mạnh trong vùng ánh sáng
tử ngoại (200 – 400 nm). Có sự xúc tác do ánh sáng (quang xúc tác) của TiO
2
là do phản ứng như được minh họa trờn hỡnh 1.3. Khi hạt TiO
2
được chiếu
sáng bằng các ánh sáng tử ngoại (UV) có bước sóng > 390 nm (như trên hình
1.3), thì sẽ chuyển một điện tử từ mức cơ bản ở vùng dẫn, lên mức kích thích
thuộc vùng hóa trị, để lại một lỗ trống tích điện dương ở vùng hóa trị. Ngay
lập tức, cả hai loại hạt điện tử và lỗ trống này sẽ di chuyển ra bờ biên của hạt,
tại đó cú cỏc hiện tượng như sau xẩy ra: H
2
O bị lỗ trống tích điện dương phân
hủy thành OH-,
còn
điện tử, khi ra đến biên hạt thì phân hủy Oxy (O
H
2
S, phần lớn các axit vô cơ, hữu cơ và với H
2
SO
4
đặc, HF.
Để thu được TiO
2
chất lượng cao, ta phải chế tạo được TiO
2
kết tinh ở pha
tinh thể anatase, có kích thước hạt đồng đều và có hàm lượng tạp chất là nhỏ
nhất.
1.2. VẬT LIỆU NANO ĐIOXIT TITAN (TiO
2
)
Một trong các ứng dụng dân dụng quan trọng của công nghệ Nano
chính là khả năng áp dụng chúng vào các bề mặt thuỷ tinh hoặc kính tự làm
sạch, kính trơn nước (Self-Cleaning, Water-Repelling Glass). Và họ viết rằng,
chẳng có gì là công nghệ nano hơn là cỏc kớnh tự làm sạch! Ở đây, cỏc nột đặc trưng
chính từ các triển vọng của công nghệ nano được thể hiện và đặc trưng rất quan trọng
là kích thước của chúng < 100 nm, chiều dầy của lớp tự làm sạch rất mỏng (20-50 nm),
các tính chất của lớp nano TiO
2
thay đổi theo bản chất kích thước.
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
13
Đồ Án Tốt Nghiệp
Các màng tự làm sạch và có tính kháng khuẩn được chế tạo dựa trên cơ
Các nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả nghiên cứu các tính chất ưu
việt khác của vật liệu gốm sứ, sau khi được phủ lớp màng mỏng TiO
2
. Kỹ
thuật phủ màng mỏng bằng toàn bộ các hạt nano (all-nanoparticle thin film
coating) như TiO
2
, SiO
2
đã và đang được các cơ sở nghiên cứu lớn trên thế
giới, ví dụ như viện Massachusetts Insitute of Technology (MIT), Mỹ và các
nước khác quan tâm [1-3].
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
14
Đồ Án Tốt Nghiệp
Hình 1.4. Cơ chế giọt nước tự chẩy trên một bề mặt lá cây thông thường (a)
và giọt nước chẩy theo hiệu ứng tự làm sạch chất bẩn theo kiểu lá sen (b).
Sự hiện diện của các hạt nano TiO
2
dẫn đến các tính chất tự làm sạch,
làm cho chúng cực kỳ hấp dẫn đối với các ứng dụng như trong các tế bào
quang điện, phủ trên gốm sứ, gạch men, vật liệu xây dựng, kính ô tô và kính
cửa sổ cho các nhà cao tầng. Việc tập hợp được các hạt nano thành các màng
mỏng đồng đều với sự kiểm soát chính xác các tính chất hoá – lý, là các thách
thức to lớn về kỹ thuật. Các kỹ thuật đã được nghiên cứu và phát triển trong
các năm gần đây nhằm chế tạo ra màng mỏng từ các hạt nano bền chắc hơn,
từ các màng này có thể dẫn đến các ứng dụng mới trong các lĩnh vực khác
nhau. Trong những năm gần đây, những nghiên cứu ứng dụng xử lí nước và
không khí có sử dụng các tác nhân phân huỷ các chất hữu cơ, dựa vào hoạt
tính oxy hoá khử mạnh của chất quang xúc tác đã được tiến hành rất nhiều, do
2
tại chỗ, làm cho vi khuẩn không sống được (vì thiếu O
2
). Các chất có tính
oxy hoá mạnh sẽ làm phân huỷ các chất hữu cơ và cũng có tác dụng diệt các
mầm bệnh và vi khuẩn.
Hình 1.6. Minh hoạ màng TiO
2
khi chiếu sáng UV
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
16
Đồ Án Tốt Nghiệp
Khi kết hợp cơ chế quang xúc tác của các hạt TiO
2
và hiệu ứng màng tự
làm sạch, ta dễ dàng có thể nhận thấy là tác dụng làm sạch sẽ được nhân đôi.
Điều này có thể hiểu được và được minh hoạ trờn hỡnh 1.6.
Đối với các hạt nhỏ, khi chiếu sáng với ánh sáng tử ngoại UV thì sự tán xạ
ánh sáng sẽ chiếm ưu thế đối với các hạt kích thước bằng cỡ 1/10 chiều dài
của ánh sáng được tán xạ. Như vậy, với bề mặt màng phủ các hạt nano TiO
2
có kích thước đồng đều, các chất bẩn sẽ bị tách ra khỏi bề mặt vật liệu đã phủ
một lớp TiO
2
xốp theo hiệu ứng lá sen, như minh hoạ trờn hỡnh 1.4. Sau đó,
nhờ là vật liệu màng xốp tạo nên được từ các hạt cầu TiO
2
, chúng sẽ có hiệu
ứng quang xúc tác của vật liệu nano TiO
2
(spray) trên bề mặt gốm sứ. Các màng mỏng sau khi được chế tạo và xử lý
nhiệt (tại các nhiệt độ < 450
o
C), sẽ được đo phổ phản trong vùng tử ngoại và
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
17
Đồ Án Tốt Nghiệp
nhìn thấy (UV-VIS), xác định độ dầy màng và tính kỵ nước. Hoạt tính quang
xúc tác kháng khuẩn của các màng TiO
2
chế tạo từ các sol với các hạt TiO
2
sẽ
được so sánh khi màng này được chiếu đèn tử ngoại UV với phổ phát xạ có
bước sóng cực đại cỡ 360 nm và đốn phỏt ánh sáng tự nhiên ban ngày. Chúng
tôi đã nghiên cứu và thấy rằng khi các màng này khi được nung ở nhiệt độ
450
o
C – 480
o
C thỡ chỳng thể hiện hoạt tính quang xúc tác cao hơn, có sự ưa
nước cảm ứng do ánh sáng, và biểu lộ một sự chuyển đổi trạng thái từ ưa
nước đến kỵ nước chậm.
Trên cơ sở các thí nghiệm khảo sát, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu,
mua hoá chất, tự chế tạo thiết bị thử nghiệm, chế tạo chất lỏng “sol” chứa các
hạt nano TiO
2
dùng để tạo màng và đã tiến hành phủ màng lên gốm sứ
Ceramic. Các kết quả thu được trờn cỏc tấm gốm cỡ nhỏ, cho thấy chất lượng
bề mặt gốm là tốt và khả quan.
2
là bởi đây
là một loại oxit sạch, đơn giản trong phương pháp tổng hợp và không độc hại.
Do vậy cho đến nay TiO
2
đã trở thành những vật liệu cơ bản đối với cuốc
sống con người.TiO
2
nổi bật nhờ những ứng dụng như: làm vật liệu xúc tác
quang (bề mặt tự làm sạch, làm sạch không khí, phân hủy các hợp chất hữu
cơ, khử trùng, điều trị ung thư…) làm vật liệu siêu ưa nước (bề mặt tự làm
sạch, chống sương mự…).
Hình 1.7. Những hướng ứng dụng chính TiO
2
1.3.1. Vật liệu tự làm sạch
Các nhà khoa học đã nghiên cứu về TiO
2
từ khoảng 2-3 thập kỷ trước.
Một khía cạnh hết sức độc đáo và đầy triển vọng là chế tạo các vật liệu tự làm
sạch ứng dụng cả hai tính chất xúc tác quang hóa và siêu thấm ướt. Ý tưởng
này bắt nguồn khi những vật liệu cũ như gạch lát nền, cửa kính các tòa nhà
cao ốc, sơn tường thường bị bẩn chỉ sau một thời gian ngắn sử dụng. Có
những nơi dễ dàng lau chùi như gạch lát, sơn tường trong nhà của chúng ta
nhưng có những nơi việc làm vệ sinh là rất khó khăn như của kớnh cỏc tòa
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
19
Chống sương
mù trong kính
ô tô
Xử lý nước,
3- Khi nước rơi trên mặt kính tạo ra hiệu ứng thấm nước. Nước trải đều ra bề
mặt, tạo ra hiệu ứng thấm nước. Nước trải đều ra bề mặt thay vì thành giọt,
cuốn theo chất bẩn đi xuống.
1.3.2. Xử lý nước bị ô nhiễm
Ô nhiễm nước ngày nay đã trở thành vấn đề nghiêm trọng toàn cầu chứ
không chỉ riêng của bất kỳ quốc gia nào. Các hội thảo khoa học đã được tổ
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50
20
Đồ Án Tốt Nghiệp
chức tại Nhật, Canada, Hoa kỳ với hy vọng sẽ nhanh chóng tìm ra hướng đi
nhờ vật liệu TiO
2
.
Tại Nhật thậm chí người ta đã thử nghiệm các loại bồn tắm có thể làm
sạch nước trong 24h nhờ một lớp TiO
2
trỏng trên thành bồn. Tuy nhiên vấn đề
có vẻ rất khó khả thi khi áp dụng cho một thể tích nước lớn do vấn đề kinh tế
và thời gian cần thiết đủ để làm sạch.
Một phương pháp có lẽ khả thi là bọc lớp TiO
2
bên ngoài một nhân là
chất mang từ tính, phân tán hạt TiO
2
trong nước dưới dạng huyền phù, như
vậy bề mặt tiếp xúc sẽ lớn hơn và chúng ta sẽ thu hồi lại bằng từ trường.
1.3.3. Xử lý không khí ô nhiễm
Chúng ta cần một bầu không khí trong lành hơn là bầu không khí mà
chúng ta vẫn đang sống ở các thành phố lớn, một bầu không khí không có mùi
thuốc lá, khói xe, bụi. Bụi có thể ngăn chặn nhưng khói xe và khói thuốc lỏ
thì chỉ với một
đèn chiếu tử ngoại và chừng 30’ là căn phòng đã hoàn toàn vô trùng.
1.3.5. Tiêu diệt các tế bào ung thư
Ung thư ngày nay vẫn là căn bệnh gây tử vong nhiều nhất. Việc điều trị
bằng các phương pháp nhiễu xạ, truyền hóa chất, phẫu thuật thường tốn kém
mà kết quả thu được không cao. Hiện nay TiO
2
đang được xem xét như là một
hướng đi khả thi cho việc điều trị ung thư. Người ta đang thử ngiệm trên
chuột bằng cách cấy các tế bào để tạo nên các khối ung thư trên chuột, sau đó
tiêm một dung dịch chứa TiO
2
vào khối u. Sau 2-3 ngày người ta cắt bỏ lớp da
trên và chiếu sáng vào khối u, thời gian 3’ là đủ để tiêu diệt các tế bào ung
thư. Với các khối u sâu trong cơ thể thì một đèn nội soi sẽ được sử dụng để
cung cấp ánh sáng.
1.3.6. Ứng dụng tính chất siêu thấm ướt
Khi đi trong mưa thỡ cỏc giọt nước đọng lại trên cửa kính là nguyên
nhân gây nên hiện tượng khúc xạ ánh sáng làm cho chúng ta rất khó quan sát
mọi vật. Trong một thời gian dài người ta cứ đi theo hướng chế tạo ra các vật
liệu không ưa nước để giọt nước dễ dàng gạt bỏ. Thực tế thì bề mặt này lại tạo
ra các hạt nước nhỏ và chớnh chỳng là nguyên nhân làm cho mọi vật nhạt
nhòa đi khi quan sát.
Với sự khám phá ra tính chất siêu thấm nước của TiO
2
chúng ta đã
khám phá ra một hướng đi mới ngược lại hoàn toàn với cách làm trên. Với
tính chất ưa nước của mình, lớp TiO
2
bề mặt sẽ kộo cỏc giọt nước trên bề mặt
23
Đồ Án Tốt Nghiệp
CHƯƠNG II
CHẾ TẠO SOL CHỨA CÁC HẠT NANO TiO
2
VÀ CÁC LOẠI THIẾT BỊ TẠO MÀNG
2.1.CHẾ TẠO SOL CHỨA CÁC HẠT NANO TiO
2
BẰNG ALKOXYDE
TITAN [1,11,12]
2.1.1. Lý thuyết chung
Phương pháp sol-gel do R.Roy đề xuất năm 1956 sử dụng trong tổng
hợp vật liệu, chế tạo màng mỏng có rất nhiều ưu điểm và ngày càng được sử
dụng rộng rãi :
• Phương pháp sol-gel cho phép trộn các chất ở quy mô nguyên tử
nên sản phẩm sinh ra có độ tinh khiết hóa học cao, chế tạo ở điều
kiện nhiệt độ thường, hạt sinh ra nhỏ, có phân bố kích thước hạt
hẹp.
• Có thể điều khiển được quá trình sol-gel để thu được sản phẩm có
hình dạng mong muốn như dạng hạt, màng mỏng, dạng que
• Đi theo con đường sol-gel nghĩa là chúng ta đang điều chế hạt nano
bằng phương pháp tập hợp hóa học, thiết bị đơn giản, tiết kiệm được
rất nhiều năng lượng, mang tính kinh tế hơn so với các phương pháp
khác.
• Bằng phương pháp sol-gel không những tổng hợp được ụxớt siờu
mịn có tính đồng nhất và độ tinh khiết cao mà còn có thể tổng hợp
được các tinh thể có kích thước cỡ nanomet, các pha thuỷ tinh, thuỷ
tinh-gốm, mà bằng phương pháp nóng chảy thường không thể tổng
hợp được.
Nguyễn Hùng Mạnh QTTB-K50