Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
NGUYỄN THỊ HIÊN NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CÁC THÔNG SỐ HỢP LÝ
CỦA LIÊN HỢP MÁY PHAY ĐẤT THỰC HIỆN
CƠ GIỚI HOÁ SẢN XUẤT MÍA. ỨNG DỤNG CỤ THỂ CHO
TỈNH MIỀN NÚI CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Công nghệ chế tạo máy
Mã số: 625204011
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. PHẠM VĂN LANG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
MỤC LỤC
BẢNG ĐƠN VỊ CÁC ĐẠI LƢỢNG …………………………….…….3
DANH MỤC CÁC BẢNG …………………………… …….………. 4
DANH MỤC CÁC HÌNH ……………………………… …………….5
ĐẶT VẤN ĐỀ 6
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ LÀM ĐẤT CHO
VÙNG MÍA Ở VIỆT NAM 8
1.1. Tình hình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật đối với máy làm đất trồng mía
trên thế giới và Việt Nam 8
1.2. Một số công nghệ làm đất trồng mía tiêu biểu trên thế giới và Việt nam . 13
1.2.1. Một số công nghệ làm đất trồng mía tiêu biểu trên thế giới. 13
1.2.2. Một số công nghệ và máy làm đất trồng mía chủ yếu ở Việt Nam 16
3.2.2. Thiết bị thí nghiệm; 77
3.3. Kết quả thực nghiệm trong điều kiện sản xuất - Phân tích hiệu quả kinh tế
của khâu phay đất bằng máy; 82
3.3.1. Xây dựng mô hình thí nghiệm 82
3.3.2. Xây dựng quy trình canh tác mía áp dụng cho mô hình: 83
3.3.3. Đặc điểm ruộng trồng mía: 84
3.3.4. Năng suất liên hợp máy: 84
3.3.5. Hiệu quả kinh tế 85
KẾT LUẬN CHUNG - KIẾN NGHỊ 82
1. Kết luận: 87
2. Kiến nghị: 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
BẢNG ĐƠN VỊ CÁC ĐẠI LƢỢNG
Ký hiệu
Chú thích
Đơn vị
M
Khối lƣợng
kg
L
Chiều dài
m
T
Thời gian
s
m
3
P/Q
Chi phí năng lƣợng riêng trên đơn vị thể tích đất
kWs/m
3
P/B
Chi phí năng lƣợng riêng trên đơn vị bề rộng
kW/m
P/W
Chi phí năng lƣợng riêng trên đơn vị diện tích
kWh/ha
Tốc độ góc
1/s
J
Mô men quán tính của trống phay
kg.m
2
k
Lực cản riêng của đất
N/m
2
Khối lƣợng riêng của đất
kg/m
3
1
,
2
…
n
Các chuẩn số đồng dạng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, sản lƣợng mía ép và đƣờng vụ 2006-2007 và kế hoạch
2007-2008 9
Bảng 1.2: Bảng tổng hợp diện tích và sản lƣợng mía vụ 2009 – 2010 11
Bảng 1.3: Dự kiến diện tích sản xuất mía vụ 2010 – 2011 12
Bảng 1.4: Kết quả thí nghiệm về độ sâu làm đất ảnh hƣởng tới năng suất mía29
Bảng 2.1: Một số thông số chính của máy kéo Foton FT 324. 53
Bảng 2.2: Các đại lƣợng chính của phay 64
Bảng 3.1: Dãy máy phay cho máy kéo bốn bánh 73
Bảng 3.2: Quy trình canh tác mía áp dụng hệ thống máy canh tác 83
Bảng 3.3: Năng suất các liên hợp máy và chi phí nhiên liệu 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
DANH MỤC CÁC HÌNH
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mía là cây công nghiệp ngắn ngày có hiệu quả kinh tế cao. Ở nƣớc ta mía
là nguyên liệu của ngành công nghiệp sản xuất đƣờng và là nguyên liệu cho
một số ngành công nghiệp giấy, hoá dƣợc khác Để đáp ứng nhu cầu về
đƣờng, những năm gần đây cây mía đã đƣợc phát triển ở nhiều vùng trong cả
nƣớc, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Hiện nay trong sản xuất mía, cơ giới hoá các khâu chƣa đồng bộ, chỉ có một
số vùng trồng mía tập trung đƣợc cơ giới hoá canh tác tƣơng đối khá ở các khâu
làm đất, còn các khâu thu hoạch nhƣ cắt gốc, làm sạch lá, cắt ngọn, bó cây, gom
đống, chất lên xe hoàn toàn bằng lao động thủ công với các công cụ chủ yếu là
dao, cuốc bàn. Năng suất lao động rất thấp, cƣờng độ lao động cao, tổn thất còn
nhiều…
Trên thế giới cây mía đƣợc coi là cây năng lƣợng của thế kỷ tới. Ngoài
việc chế biến đƣờng, mía còn là nguyên liệu cho hơn nhiều sản phẩm khác của
các ngành nhƣ: dệt, giấy, mực, hóa dƣợc…
Nghề trồng mía đƣợc phát triển lâu đời ở nƣớc ta. Cây mía đƣợc trồng
khắp nơi trên đất nƣớc từ vùng đất phèn mặn cho tới vùng đất khô cằn trên đồi
dốc núi cao. Phải công nhận rằng cây mía là cây dễ trồng, không kén đất, chỉ
cần đủ ánh sáng và độ ẩm là ngọn mía có thể nảy mầm và mọc lên thành cây.
Nhƣng để cây mía mọc và phát triển tốt, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao
thì còn là vấn đề tổng hợp phức tạp của các ngành có liên quan tới cây mía, tất
nhiên trong đó cần thiết có sự đóng góp của ngành cơ giới hóa nông nghiệp 2.
Do đó tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn các thông số hợp lý của
liên hợp máy phay đất thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất mía.”
*Mục tiêu: Nghiên cứu cơ sở khoa học lựa chọn các yếu tố ảnh hƣởng đến khả
năng làm việc của liên hợp máy canh tác cho vùng trồng mía.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tích trồng lớn nhƣ Trung Quốc - 1,35 triệu ha, Ấn độ - 4,10 triệu ha, Thái Lan -
1,05 triệu ha, Ôxtrâylia - 0,41 triệu ha, Việt nam - 0,315 triệu ha.
Những nƣớc có năng suất mía cao là Ôxtrâylia - 83 tấn/ha, Inđônêxia - 82
tấn/ha, Philippin - 78,8 tấn /ha, Nhật Bản - 71,6 tấn /ha, Papua New Ginê - 69,3
tấn/ha. Trong khi đó có những nƣớc năng suất mía còn thấp nhƣ Butan - 30
tấn/ha, NêPan - 31 tấn/ha, Srilanka - 35,8 tấn/ha, Việt nam - 42,2 tấn/ha.
Việt Nam là nƣớc có diện tích trồng mía đứng vào loại trung bình trên thế
giới, tập trung ở các khu vực phía Bắc, phía Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Trong những năm qua, nhờ có giá trị kinh tế cao, cộng với mục tiêu sản
suất 1 triệu tấn đƣờng của Nhà nƣớc, diện tích và sản lƣợng mía đã tăng đáng
kể. Theo số liệu thống kê vụ mía năm 2006-2007, diện tích trồng mía cả nƣớc
đạt gần 310.067 ha, sản lƣợng mía đạt khoảng 17,0 triệu tấn. So với vụ 2004-
2005 diện tích tăng 45.000 ha (17%); năng suất mía tăng 3,9 tấn/ha (7,6%); sản
lƣợng mía tăng 3,5 triệu tấn (25,9%). Diện tích vùng nguyên liệu các nhà máy
đã ký hợp đồng đầu tƣ và tiêu bao là 219.752 ha.
Sản xuất mía đƣờng ở nƣớc ta có từ lâu đời nhƣng chỉ mới bắt đầu phát triển
vào cuối thập kỷ 80 và cho đến năm 1998 Việt Nam vẫn là nƣớc nhập khẩu đƣờng.
Vào năm 1994, cả nƣớc sản xuất đƣợc khoảng 300.000 tấn đƣờng (gần 100.000 tấn
đƣờng công nghiệp còn lại là đƣờng thủ công) và phải nhập khẩu 124.000 tấn nữa
mới đủ tiêu dùng. Tháng 10/1994 Thủ tƣớng Chính phủ đã thông qua chƣơng trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
mía đƣờng và đề ra mục tiêu sản xuất đạt 1 triệu tấn đƣờng vào năm 2000 để cung
cấp đủ cho nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc. Từ khi thực hiện chƣơng trình 1 triệu tấn
đƣờng vào năm 2000, ngành công nghiệp mía đƣờng Việt nam đã có những bƣớc
tăng trƣởng rất nhanh. Năm 2000, ngành mía đƣờng đã đạt mục tiêu sản xuất 1 triệu
tấn đƣờng, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc. Tổng hợp về diện tích, sản
lƣợng mía ép và đƣờng vụ 2006÷2007 và kế hoạch 2007÷2008 đƣợc trình bày trong
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
Cả nƣớc
97.900
267.684
219.752
12.303.500
1.144.750
229.357
13.420.500
1.290.500
Miền Bắc
30.450
86.332
73.038
3.587.300
351.550
77.530
4.009.500
415.600
M.Trung
T.Nguyên
29.250
Phục Hoà là huyện có vùng nguyên liệu mía khoảng 1500 ha chiếm
50% diện tích trồng mía của tỉnh Cao Bằng và là địa bàn trọng điểm phát triển
vùng mía nguyên liệu của Công ty Cổ phần mía đƣờng Cao Bằng. Nhờ trồng
mía mà hàng trăm hộ nông dân ở đây đã thoát nghèo, có thu nhập ổn định, đời
sống vật chất và tinh thần ngày càng đƣợc nâng lên.
Những năm gần đây, diện tích trồng mía nguyên liệu ngày càng đƣợc mở
rộng, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã đƣợc ứng dụng để thâm
canh tăng năng suất và chất lƣợng mía. Tuy nhiên trong các khâu canh tác mía
chủ yếu vẫn đƣợc làm bằng phƣơng pháp thủ công.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
Bảng 1.2: Bảng tổng hợp diện tích và sản lượng mía vụ 2009 – 2010
TT
Vùng Nguyên
liệu (xã)
D.tích sản
xuất vụ 09 –
10 (ha)
S.Lƣợng mía
ép (tấn)
S.Lƣợng mía
giống (tấn)
Tổng S.Lƣợng
(tấn)
N.suất B.quân
(tấn/ha)
1
2
880
23,885
50.7
4
Cách Linh
145.96
6,821
774
7,595
52.0
5
Hòng Đại
42.21
2,064
219
2,283
54.1
6
Mỹ Hƣng
124.46
3,709
82
3,791
30.5
7
Lƣơng Thiện
56.19
2,385
52
2437
Chí Thảo
25.45
949
73
1,022
40.2
13
Hồng Định
13.44
724
31
755
56.2
14
Tự Do
29.89
1730
170
1,900
63.6
15
Ngọc Động
13.68
757
123
880
64.3
16
Cai Bộ
0
19,380
50.2
20
Đức Long
100.91
5,722
376
6,098
60.4
21
Thuỵ Hùng
8.6
298
12
310
36.0
22
Vân Trình
0
34
0
34
0
23
Lê Lai
0
0
0
0
0
2011
Chỉ tiêu
trồng
mới
D.tích
trồng mới
DTích
M.gốc 1
DTích
M.gốc
2+3
Tổng DTích
DK.
SL
(tấn) 8
9
10
11
12
13=10+11+12
14
I
H: Phục Hòa
2,237
656
623.06
542
4
Cách Linh
278
80
77.22
59.63
30.75
167.6
5
Hòng Đại
165
40
27.44
11.79
13.92
53.15
6
Mỹ Hƣng
266
60
50.98
43.33
13.15
107.46
7
Lƣơng Thiện
98
52.47 11
Hồng Quang
354
65
59.51
45.54
35.44
140.49
12
Chí Thảo
92
20
9.9
5.42
10.91
26.23
13
Hồng Định
54
10
5.8
1.92
3.9
11.62
4
6.23
1.61
3.33
11.17
18
Phi Hải
21
3
3.34
0.3
2.19
5.83
19
Hoàng Hải
25
2
6.14
1.25
0.1
7.49
II
H: Q. Uyên
1,193
209
208.57
118.37
23
Lê Lai
31
0
6.88
0
0
6.88
III
H: Thạch An
246
35
59.88
24.97
44.57
129.42 Tổng
3,676
900
891.51
685.34
397.58
1,974.43
Nguồn: Phòng nguyên liệu, Công ty Mía đường Cao Bằng
Đối với khâu làm đất, chủ yếu là dùng sức trâu bò kéo để cày, bừa làm
nhỏ đất, rạch hàng và vun xới mía. Những năm gần đây việc cơ giới hoá làm
công, làm bằng súc vật, làm bằng cơ giới. Tuy có một số quan điểm khác nhau
về làm đất, song đều thống nhất là phải đảm bảo độ sâu rãnh trồng từ 40cm trở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
lên, làm đất vừa phải đạt yêu cầu kỹ thuật nông học với chi phí cho sản xuất là
thấp nhất. Hiện tại, các máy móc và công cụ làm đất trồng mía vẫn thƣờng sử
dụng các loại máy làm đất có công dụng chung, độ sâu rãnh trồng mía mới chỉ
đạt 25-30cm tính từ đỉnh luống, thậm chí nhiều nơi còn thấp hơn nhiều.
Để có mẫu máy phay đất hợp lý để trồng mía, đáp ứng yêu cầu nông học,
giảm chi phí làm đất, tăng hiệu quả sản xuất mía cần tiến hành nghiên cứu các
thông số hợp lý.
Hiện nay trên thế giới đang sử dụng phƣơng pháp làm đất trồng mía chủ
yếu là phƣơng pháp làm đất nhiều lƣợt và làm đất sâu ít lƣợt.
1. Phƣơng pháp làm đất nhiều lƣợt đƣợc thực hiện bằng thủ công hoặc
bằng máy. Phƣơng pháp này có thể sử dụng nhiều loại công cụ, máy móc làm
đất công dụng chung, phù hợp với diện tích thửa ruộng bé. Nhƣợc điểm cơ bản
nhất của phƣơng pháp này là phải tiến hành làm đất nhiều lần, độ sâu làm đất
thƣờng không đạt yêu cầu, chi phí làm dất cao.
2. Phƣơng pháp làm đất sâu ít lƣợt đƣợc tiến hành theo hai cách sau:
- Làm đất đạt độ sâu 40-50cm bằng cày trụ hoặc cày đĩa sử dụng máy
kéo công suất lớn 100-150 mã lực và bừa cho đến khi đảm bảo yêu cầu, sau đó
rạch hàng.
- Làm bằng cày không lật xới sâu từ 1 đến 2 lƣợt cho đến khi đạt độ nhỏ,
độ sâu làm đất đạt từ 40-50cm sau đó tiến hành bừa, dùng máy rạch hàng hoặc
máy rạch hàng phối hợp với trồng.
Phƣơng pháp này có ƣu điểm là độ sâu làm đất đạt yêu cầu, đồng thời
giảm chi phí nhiên liệu và chi phí lao động trực tiếp, có khả năng liên hợp các
quá trình trong công nghệ làm đất, bón phân và trồng. So với phƣơng pháp làm
SC-6D (6đĩa), máy xới sâu FAS-1 liên hợp với máy kéo KOMATSU, máy kéo
K-700 để làm đất sâu, dùng các loại bừa đĩa nặng 3400kg, 7000kg. Các vùng
diện tích bé dùng cày phá A-10000, bừa 2050kg…
Ở Úc tiến hành cơ giới hoá đồng bộ sản xuất mía, làm đất trồng mía
đƣợc áp dụng phƣơng pháp làm đất sâu, độ sâu đạt đƣợc từ 45-50cm. Áp dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16
chủ yếu phƣơng pháp làm đât sâu ít lƣợt bằng cày không lật, cày chảo, bừa đĩa,
phay để làm nhỏ đất và dùng liên hợp máy rạch hàng kết hợp với trồng. Dùng
máy DEEPPIGGER với máy kéo 150-200 mã lực để làm đất sâu.
Cơ giới hoá trồng mía ở Nhật Bản đạt đƣợc mức độ cao ở khâu làm đất
đến khâu thu hoạch. Máy làm đất chủ yếu là xới sâu kết hợp với phay liên hợp
với máy kéo 4 bánh có công suất lớn, độ sâu làm đất đạt từ 30-35cm. Sau khi
làm đất xong tiến hành san phẳng dùng máy rạch hàng phối hợp với trồng.
Trung Quốc kết hợp cả công cụ thủ công và máy móc trong khâu làm
đất. Các vùng có diện tích bé chủ yếu làm bằng phƣơng pháp thủ công và nhiều
lƣợt, vùng có diện tích lớn đã ứng dụng quy trình làm đất nống sâu với độ sâu
từ 30-35cm. Dùng cày 3ZSL-2B liên hợp máy kéo xích 75-80 mã lực để nống
sâu toàn bộ diện tích trƣớc khi làm nhỏ đất bằng bừa, độ xới sâu đạt tới 40cm.
Sử dụng các máy rạch hàng bị động 1KK-2, 1KL-3. Một số vùng đã sử dụng
máy liên hợp rạch hàng trồng mía một lần, máy hoàn thành rạch hàng, máy cắt
ngọn mía, đặt ngọn, rắc phân…
1.2.2 Một số công nghệ và máy làm đất trồng mía chủ yếu ở Việt Nam
Theo các nhà nông học thì làm đất trồng mía là biện pháp có tác dụng
nhiều mặt và có ý nghĩa lớn đối với cây mía. Làm đất tốt hay xấu, đúng hay sai
không chỉ có tác dụng đến một vụ thu hoạch, mà còn có tác dụng đến cả chu kỳ
kinh tế, đến nhiều vụ thu hoạch cả mía tơ và mía gốc. Ở nƣớc ta, tuy còn một
số quan điểm khác nhau về làm đất trồng mía, song đều thống nhất là độ sâu
hợp với xới sâu, cày lật lớp đất từ 18-22cm đồng thời xới sâu 20-22cm nâng độ
sâu phá vỡ đất lên 38-44cm. Loại cày này liên hợp với máy kéo có lực kéo lớn
nhƣ MTZ-892.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
1.2.2.1.Thực trạng cơ giới hoá canh tác mía ở nƣớc ta
Mía là cây trồng cạn, mọi công việc canh tác đều đƣợc tiến hành trong
điều kiện khô ráo thuận tiện, do vậy các loại công cụ máy móc hiện hành đều
có thể ứng dụng đƣợc vào việc cơ giới hoá canh tác mía.
Nhìn chung có thể nói ngành cơ giới chƣa đáp ứng đầy đủ yêu cầu cần
thiết cho cây mía phát triển.
- Khâu chuẩn bị đất trồng: Sử dụng các loại cày, bừa, phay thông thƣờng,
độ sâu làm đất không quá 20cm. Nhƣ vậy không đủ điều kiện cho bộ rễ mía
phát triển và cũng không có khả năng giữ cho cây mía khỏi bị ngả, đổ khi có
gió mạnh.
- Khâu trồng mía: Xẻ rãnh với độ sâu 15-20cm, bón phân, thả hom, lấp,
với độ sâu 20cm là không đảm bảo yêu cầu cho cây mía phát triển, một số nơi
còn rạch hàng bằng trâu kéo chỉ có thể đạt độ sâu 10-15cm.
- Khâu chăm sóc: Máy kéo tham gia chăm sóc mía còn quá ít và thiếu các
công cụ chuyên dùng. Phần lớn công việc cày xới diệt cỏ, cày vun, cày rạch
bón phân đều đƣợc tiến hành bằng sức kéo trâu, bò.
- Việc phòng trừ sâu bệnh: Đƣợc tiến hành bằng bình thuốc đeo vai.
- Khâu thu hoạch: Thu hoạch mía là một công việc nặng nhọc, dóc lá, chặt
gốc chặt ngọn, bó, gom đống, bốc lên xe hoàn toàn thủ công, tuỳ theo năng suất
mía công lao động có thể 120-150 công/ha. Trong thu hoạch chặt mía không sát
gốc đã làm cho hao hụt sản lƣợng 5-7% và mía mầm của vụ lƣu gốc kém phát
triển, nhiều mầm mọc trên mặt đất trở thành cây vô hiệu.
Ngoài những công cụ thông dụng kể trên, đến nay đã xuất hiện một số
+ Khung vạn năng có khả năng lắp các công cụ chăm sóc giữa hàng mía;
lƣỡi xới diệt cỏ, xới móc rễ mía, xới sâu giữa hàng, 4 lƣỡi cày thuận nghịch
giúp cho việc cày xẻ rănh bón phân và cày vun gốc mía.
Những công cụ này xuất hiện rải rác ở một số vùng mía tập trung nhƣ
Lam Sơn, Nghệ An, Tây Ninh… số lƣợng còn ít chƣa đƣợc rộng rãi ở các vùng
mía khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
Vùng mía Lam Sơn - Thanh Hoá có tới 80% diện tích trồng mía đƣợc cơ
giới làm đất 100%. Nhờ giống tốt, phân đủ và sử dụng công cụ làm đất đáp ứng
yêu cầu nông học cây mía, do vậy đã có cả trăm ha mía có năng suất 90 tấn/ha
trở lên trong tổng số hơn 19.000 ha mía.
Trong những năm cuối thế kỷ 20 Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ
sau thu hoạch đã xây dựng quy trình làm đất trồng mía theo hƣớng thâm canh
bảo vệ đất. Nòng cốt của quy trình công nghệ này là phay băm lá mía khô, cày
sâu không lật và máy băm ngọn mía.
Quy trình làm đất này đã đƣợc kiểm nghiệm tại Hà Trung - Thanh Hoá và
Sơn Dƣơng - Tuyên Quang. Kết quả rất tốt so với đối chứng (cùng điều kiện
giống, trồng, chăm sóc) năng suất mía tăng hơn 20% và phát triển chăn nuôi.
Máy kéo lớn đƣợc ứng dụng trong canh tác mía tập trung ở các khu vực
nông trƣờng, nơi trƣớc đây đã đƣợc nhà nƣớc đầu tƣ, tạo cho ngƣời dân có ý
thức cơ giới hoá với ruộng nƣơng đƣợc quy hoạch rộng, dài. Để có máy kéo
lớn làm đất trồng mía rất cần có sự hỗ trợ của kinh tế tập thể hoặc Nhà nƣớc.
Ví dụ: Công ty cổ phần mía đƣờng Lam Sơn cho công nhân vay 2/3 tiền mua
máy kéo MTZ-892. Ngƣời công nhân có trách nhiệm trả dần theo quy định cả
gốc và lãi bằng sản phẩm làm ra hàng năm, ở nông trƣờng Hà Trung cũng áp
dụng cách làm này. Nhờ vậy mà trong địa bàn canh tác mía của Công ty và
nông trƣờng có máy kéo lớn hoạt động.
), đây cũng là
thuận lợi cho việc phát triển cơ giới hoá phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp.
Địa hình Cao Bằng bị chia cắt bởi nhiều dãy núi đá cao, xen kẽ là sông
suối, thung lũng hẹp, độ dốc lớn. Theo tài liệu của Sở Nông nghiệp & PTNT,
tỉnh Cao Bằng với địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cao nhất là
đỉnh Phia - Oắc 1.931m, thị xã Cao Bằng chỉ cao cách mặt biển là 250m. Địa
hình vùng thấp (thung lũng, bồn trùng) chiếm khoảng 16% diện tích toàn Tỉnh.
Các Huyện đều hình thành thung lũng, cánh đồng. Đáng chú ý hơn cả là các
thung lũng, cánh đồng của huyện Hòa An, Hà Quảng, Trùng Khánh, Quảng
Uyên. Đây là vùng có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Kết
hợp với diện tích vùng đồi núi thấp vây quanh, vùng đất này có nhiều khả năng
trở thành những vùng nguyên liệu nông sản, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc
đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp chế biến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22
Đặc điểm địa hình là cơ sở cho việc lựa chọn cỡ, kiểu động lực di động
liên hợp với các loại máy canh tác phù hợp, đảm bảo làm việc ổn định, chống
xói lở.
Khí hậu Cao Bằng mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới, gió mùa và lục địa
núi cao, mang tính đặc trƣng riêng so với các Tỉnh miền núi vùng Đông Bắc,
trong đó một số tiểu vùng là khí hậu á nhiệt đới, có hai mùa rõ nét nhất trong
năm. Mùa hè nhiệt độ trung bình từ 27,2
0
C 28,2
0
C, nóng nhất từ cuối tháng 5
đến tháng 7, lạnh nhất từ tháng 12 năm trƣớc sang tháng 1 năm sau.
180
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Hình 1.2. Số giờ nắng của các tháng trong năm
Lƣợng mƣa trung bình các tháng trong năm từ 1200 1572 mm (tính từ
năm 2003 2008, đo tại trạm thị xã); tháng tập trung mƣa nhiều là từ tháng 5
đến giữa tháng 9 hàng năm, lƣợng mƣa có tháng lên đến 430 510 mm (nhƣ
tháng 6 năm 2002 và 2005). Số ngày mƣa khoảng 120 ngày/năm và phân bổ
không đều giữa các vùng. Huyện Trùng Khánh lƣợng mƣa từ 1500 1900
mm/năm; trong khi đó huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc lƣợng mƣa chỉ từ 1000 1300
mm/năm.
Số giờ nắng, h
Tháng