phân tích và định lượng thành phần hóa học của tinh dầu thân rễ nghệ vàng ở thanh hóa - Pdf 24

Khoá luận tốt nghiệp

Lu n v n t t nghi pậ ă ố ệ
Đề tài: Phân tích và định lượng thành phần hóa
học của tinh dầu thân rễ nghệ vàng ở Thanh Hóa
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá

1
Khoá luận tốt nghiệp

Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hường
đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Hoá học - khoa Khoa học tự
nhiên - trường Đại học Hồng Đức đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.
Cảm ơn trung tâm giáo dục và phát triển sắc ký Việt Nam (EDC Việt Nam)
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài này.
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
2
Khoá luận tốt nghiệp

MỤC LỤC
Trang
Phần A: Mở đầu. 5
I. Lý do chọn đề tài
5
II. Mục đích nghiên cứu 6

5.1. Phương pháp thu hái và bảo quản mẫu 34
5.2. Định lượng tinh dầu 34
6. Phương pháp xác định thành phần hoá học của tinh dầu 35
6.1. Phân tích trên máy sắc ký PACKARD – 428 35
6.2. Phương pháp sắc ký khí khối phổ ký liên hợp 36
Chương II. Thực nghiệm 37
1. Lấy mẫu 37
1.1. Địa điểm và điều kiện lấy mẫu 37
1.2. Cách bảo quản và chưng cất 37
2. Chưng cất tinh dầu 38
3. Chiết và bảo quản tinh dầu 38
4. Nghiên cứu thành phần hoá học tinh dầu bằng phương pháp sắc ký
phân giải cao GC – MS 39
Chương III: Kết quả và thảo luận 40
I. Kết quả chưng cất tinh dầu thân rễ nghệ vàng 40
II. Thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ nghệ vàng 43
Phần C: Kết luận 57
Tài liệu tham khảo 58
Phụ lục
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
4
Khoá luận tốt nghiệp

Phần A: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Khí hậu Việt Nam thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây
thuốc. Cho tới nay có khoảng 12000 loài thực vật được phát hiện, trong đó các
loài được sử dụng làm thuốc chiếm khoảng 26-30%. Từ các chất có hoạt sinh
học có nguồn gốc thiên nhiên, người ta tìm cách biến đổi cấu trúc hóa học của

dầu thân rễ nghệ vàng ở Thanh Hóa" nhằm phân tích thành phần hóa học tinh
dầu thân rễ cây nghệ vàng và so sánh thành phần hóa học tinh dầu thân rễ cây
nghệ vàng ở các vùng miền, các mùa trong năm để góp phần vào việc nghiên
cứu và khai thác có hiệu quả cây nghệ vàng phục vụ cho ngành công nghiệp
dược phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân.
II. Mục đích nghiên cứu
1. Tìm hiểu cơ sở lí luận về tinh dầu.
2. Tìm hiểu các phương pháp xác định thành phần tinh dầu trong cây nghệ vàng.
3. Xác định thành phần tinh dầu thân rễ cây nghệ vàng trong địa bàn các huyện
Thọ Xuân, Triệu Sơn của tỉnh Thanh Hóa.
4. So sánh hàm lượng, thành phần tinh dầu trong thân rễ nghệ vàng ở các địa
phương và tìm ra nguyên nhân, giải pháp để tăng hàm lượng tinh dầu của thân rễ
cây nghệ vàng.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tinh dầu: khái niệm, tính chất vật lý, tính chất
hóa học và thành phần hóa học của tinh dầu.
2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tinh dầu thân rễ cây nghệ vàng: đặc điểm và sự
phân bố của cây nghệ vàng, thành phần hóa học của tinh dầu thân rễ cây nghệ
vàng ở các vùng khác nhau.
3. Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp xác định thành phần hóa học
của tinh dầu.
4. Xác định thành phần tinh dầu thân rễ cây nghệ vàng ở các huyện Thọ Xuân,
Triệu Sơn ở tỉnh Thanh Hóa. So sánh hàm lượng và thành phần tinh dầu trong
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
6
Khoá luận tốt nghiệp

thân rễ cây nghệ vàng ở các địa phương và tìm ra nguyên nhân giải pháp để tăng
hàm lượng tinh dầu của thân rễ cây nghệ vàng.


So sánh hàm lượng thành phần tinh dầu trong thân rễ cây nghệ vàng ở các
huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn ở tỉnh Thanh Hóa và tìm ra nguyên nhân giải
pháp để tăng hàm lượng tinh dầu của thân rễ cây nghệ vàng.
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
8
Khoá luận tốt nghiệp

Phần B: NỘI DUNG
Chương I. TỔNG QUAN
1. Sơ lược về thực vật, thành phần hoá học và ứng dụng của tinh dầu họ
Gừng (Zingiberaceae)
Họ Gừng (danh pháp khoa học: Zingiberaceae), là một họ của thảo mộc
sống lâu năm với các thân rễ bò ngang hay tạo củ thuộc loài thực vật một lá
mầm. Họ Gừng theo các định nghĩa khác nhau bao gồm 46 - 52 chi và khoảng
trên 1.000 loài. Theo dữ liệu của vườn quốc gia Kew mà APG III trích dẫn, họ
này chỉ chứa 49 chi. Họ này phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yêú
ở Nam và Đông Nam châu Á. Chi điển hình là Zingiber. Ở Việt Nam hiện biết
khoảng 24 chi với hơn 115 loài khác nhau, trong đó nhiều loài có giá trị. Nhiều
loài là các loại cây cảnh, cây gia vị, hay cây thuốc quan trọng. Hiện nay có
nhiều loài được nhập từ nước ngoài về để phục vụ ngành hoa kiểng. Các thành
viên quan trọng nhất của họ này bao gồm gừng, nghệ, riềng, đậu khấu và sa
nhân.
Các loài trong họ này là thực vật tự dưỡng hay biểu sinh. Thân rễ lớn,
thường phân nhánh, chứa nhiều chất dự trữ. Lá có các bẹ dài ôm lấy nhau làm
thành thân giả, cuống ngắn và phiến lớn, giữa cuống và bẹ lá có phần phụ gọi là
lưỡi bẹ (ligule). Thân lá thường có mùi thơm. Ở nhiều loài thân khí sinh chỉ xuất
hiện khi cây ra hoa, mọc lên từ thân rễ, xuyên qua thân giả ra ngoài mang ở
phần cuối 1 cụm hoa (chi Alpinia), nhưng có loài cụm hoa nằm ngay trên thân rễ

nghệ và chi Zingiber - gừng.
1.3.Sơ lược về các cây thuộc họ Gừng ở nước ta
1.3.1.Cây gừng vàng
- Mô tả:
Gừng vàng còn có tên là khương, tên khoa học là Zingiber oficinale Rosc, tên
nước ngoài: Zingiber (Anh), Gingembre, Amome des Indes (Pháp). Gừng được
xếp vào nhóm cây thường niên, thân thảo. Thông thường, cây cao 0,6 -1 m, thân
ngầm phình to chứa dưỡng chất gọi là củ, xung quanh có các rễ tơ; củ và rễ chỉ
phát triển tập trung ở lớp đất mặt (sâu 0 -15 cm).
Lá màu xanh đậm dài 15 -20 cm, rộng 2 cm, chỉ có bẹ mà không có cuống, mọc
thẳng và so le, mặt nhẵn bóng, độ che phủ của tán lá thấp.
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
10
Khoá luận tốt nghiệp


Cây gừng ít khi ra hoa, trục hoa mọc ra từ gốc, dài 15 -20 cm; hoa màu vàng
xanh dài tới 5 cm, rộng 2 -3 cm, có 3 cánh hoa dài khoảng 2 cm, mép cánh hoa
và nhị hoa có màu tím.
- Nơi sống và thu hái:
Chi Zingiber ở châu Á có khoảng 45 loài, Việt Nam có 11 loài. Gừng là loại
cây gia vị cổ điển được trồng ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới, từ Đông Á đến Đông Nam Á và Nam Á. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là
những nước trồng Gừng nhiều nhất thế giới. Ở Việt Nam, cây được trồng ở khắp
các địa phương, từ vùng núi cao đến đồng bằng và ngoài các hải đảo. Cây ưa
ẩm, ưa sáng. Cây trồng thường có hoa năm thứ 2. Chưa thấy cây có quả và hạt.
Gừng trồng sau 1 năm nếu không thu hoạch sẽ có hiện tượng tàn lụi (phần trên
mặt đất) qua đông. Thời gian sinh trưởng mạnh của cây trùng với mùa hè-thu
nóng và ẩm. Gừng tái sinh dễ dàng bằng những đoạn thân rễ có nhú mầm, có thể

dụng ấm bụng, trừ hàn.
+ Can khương: Thân rễ phơi sấy khô của cây gừng vàng, khai thác vào
mùa đông. Can khương vị cay, tính ôn, có tác dụng ôn trung (ấm cơ thể) trừ hàn,
hồi dương, thông mạch, dịu ho, cầm tả, cầm mửa, cầm máu; được xếp vào nhóm
thuốc trừ hàn.
+ Bào khương: Can khương thái phiến, đem sao cho phồng rộp rồi phun
nước cho nguội.
+ Thán khương: Còn gọi là hắc khương hoặc gừng cháy. Đây là can
khương thái phiến dày, sao cho cháy đen bên ngoài nhưng bên trong còn màu
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
12
Khoá luận tốt nghiệp

hồng sẫm (gọi là đốt tồn tính). Có tác dụng cầm máu trong các bài thuốc trị băng
huyết, thổ huyết, tiêu ra máu, tiểu ra máu, lỵ ra máu
1.3.2. Cây gừng gió - Mô tả:
Gừng gió còn có tên khác: riềng gió, ngải xanh, ngải mặt trời, riềng dại;
khuhet phtu, brateal, vong atic (Campuchia); ginembrefou (Pháp), phong
khương, khinh keng (Tày), gừng dại, gừng giềng. Tên khoa học: Zingber
zerumber (L) sm, thuộc họ gừng: Zingiberaceae. Cây cao từ 1 - 1,3m, thân rễ
dạng củ phân nhiều nhánh, lúc củ non có màu vàng thơm. Củ càng già càng to,
chắc; trong ruột có màu vàng, có mùi thơm ngọt, dễ chịu. Lá mọc xếp lớp,
không cuống, thuôn dài đầu nhọn, phía trên màu xanh lục, hơi nhạt ở phía dưới;
bẹ nhẵn, trừ phía trên có lông ; cụm hoa dài 30 - 60 cm, phủ đầy vẩy, mép có
mang lông hoa hình trứng mọc thẳng từ thân rễ thường có màu lục, khi già màu
hồng đỏ đài và tràng màu trắng cánh môi màu vàng nhạt. Quả nang hình bầu

Quang ) Có trồng nhiều ở Thái Bình, Nam Hà. Thu hái vào mùa đông (tháng
11-2). Khi thân lá bắt đầu khô héo, đào lấy củ, rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ con,
thái vát thành phiến mỏng 2-3 mm, rồi phơi nắng hoặc sấy nhẹ đến thật khô.
Tuyệt đối không được sấy than, củ sẽ bị đen, kém thơm.
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
14
Khoá luận tốt nghiệp

- Thành phần hoá học:
Trong địa liền có tinh dầu thơm, trong đó thành phần chủ yếu là borneol,
metyl p.coumaric, acid etyl este, cinnamic acid etyl, cineol, cinnamic aldehyd
- Bộ phận dùng:
Thân rễ (thường vẫn gọi là củ) của cây địa liền (Rhizoma Kaempferiae) thái
mỏng, phơi hay sấy khô. Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam (1983), và dược
điển Trung Quốc (1963), (1997).
-Tính vị và tác dụng:
Theo Đông y, địa liền vị cay, tính ấm, vào 2 kinh Tỳ, Vị. Có tác dụng ấm dạ
dày, giúp tiêu hoá, trừ lạnh, trừ thấp, trừ mùi ô uế. Dùng chữa các chứng bệnh
đau bụng, tức ngực do lạnh, đau răng. Dùng ngoài da ngâm rượu xoa bóp, chữa
tê thấp đau nhức.
1.3.4. Cây riềng

- Mô tả:
Cây riềng có tên khoa học là: Alpinia officinarum Hance - họ Gừng
(Zingiberaceae). Còn có tên khác là tiểu lương khương, cao lương khương (TQ),
Galanga (Pháp), Galanga, Chinese ginger (Anh), Lesser Galanga rhizome (Anh).
Riềng là một loại thảo, sống lâu năm mọc thẳng, cao 0,8-1,5m, thân rễ phát triển
ngang, chia thành nhiều khúc không đều, hơi hình trụ, đường kính 1,2-2 m, mầu
đỏ nâu, có phủ nhiều vảy. Lá không cuống, có bẹ, phiến lá hình mác dài 20-

16
H
12
O
6.
- Tính vị và tác dụng: Theo Đông y, riềng vị cay, tính ấm vào các kinh Tỳ,
Vị. Có tác dụng ôn trung (ấm phần giữa bụng giúp tiêu hoá), trừ hàn giảm đau,
trừ gió, chống nôn mửa. Chữa các chứng bệnh: Đau bụng do lạnh, đau bụng
dưới, nôn mửa trong, đau loét dạ dày – hành tá tràng, (trừ khi xuất huyết nặng).
1.3.5. Cây sa nhân.
- Mô tả:
Cây sa nhân có tên khoa học là Amomun achinosphaera. Sa nhân là một loài
thuộc chi Amomun Roxb. Cây thân thảo, sống lâu năm dưới tán rừng. Thân cây
làm bằng lá, cao khoảng 1-2m, có cây 5m. Lá hình mác, không cuống, không
lông. Dài 37-40 cm, rộng 8 cm. Thân ngầm: Dài 0,3-1m Rễ chùm phân bố lớp
đất mặt 20 cm. Hoa lưỡng tính, tỷ lệ kết quả < 30%. Sa nhân mọc thành khóm
nhiều cây, cây nọ cách cây kia 10 cm. Sau khi trồng 2-3 năm, mỗi nhánh có từ
30-50 cây và bắt đầu có quả. Hoa màu trắng đốm tía. Mỗi gốc 3-6 chùm hoa.
Mỗi chùm 4-6 hoa. Ra hoa tháng 4-5. Quả chín tháng 7-8.
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
16
Khoá luận tốt nghiệp


- Nơi sống và thu hái:
Sa nhân có phân bố ở hầu hết các nước Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. ở
nước ta, Sa nhân phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có
khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân , trong đó 23 loài đã
được xác định chắc chắn. Sa nhân thường trồng vào vụ xuân thu, thu hoạch qủa

thường phủ 1 lớp phấn trắng. Khi nào dùng mới bóc vỏ ngoài lấy hạt, nếu bóc
ngay sẽ mất mùi thơm.
- Bộ phận dùng: Quả.
- Thành phần hoá học:
Trong thảo quả có tinh dầu chừng 1-3%. Tinh dầu mầu vàng nhạt mùi thơm,
ngọt, vị nóng cay, dễ chịu.
- Công dụng:
Thảo quả được sử dụng làm gia vị và làm thuốc, được khai thác để xuất khẩu.
1.3.7. Bạch đậu khấu
- Mô tả:
Bạch đậu khấu có tên khác là Bà khấu, Bạch khấu nhân, Bạch khấu xác, Đa
khấu, Đới xác khấu (TQ dược học đại từ điển), Đậu khấu, Đông ba khấu, Khấu
nhân, Tử đậu khấu (Đông dược học thiết yếu), Xác khấu (Bản thảo cương mục).
Tên khoa học là Amomum Repens Sonner.
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
18
Khoá luận tốt nghiệp
 Bạch đậu khấu là loại cây thảo cao khoảng 2-3m. Thân rễ nằm ngang to bằng
ngón tay, lá hình dải, mũi mác, nhọn 2 đầu, dài tới 55cm, rộng 6cm mặt trên
nhẵn, dưới có vài lông rải rác bẹ lá nhẵn, có khía, lưỡi bẹ rất ngắn. Cụm hoa
mọc ở gốc của thân mang lá, mọc bò, dài khoảng 40cm, mảnh, nhẵn, bao bởi
nhiều vảy chuyển dần thành lá bắc ở phía trên, lá bắc mau rụng. Cuống chung
của cụm hoa ngắn, mang 3-5 hoa, ở nách những lá bắc nhỏ hình trái soan. Hoa
màu trắng tím, có cuống ngắn, đài hình ống nhẵn, có 3 răng ngắn. Tràng hình
ống nhẵn, dài hơn đài 2 lần, thùy hình trái xoan tù, thùy giữa hơi dài rộng hơn,
lõm hơn. Cánh môi hình thoi. Quả nang hình trứng, bao bởi đài tồn tại, có khi

hơi dẹt, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng cam sẫm. Lá hình trái xoan thon
nhọn ở hai đầu, hai mặt đều nhẵn dài tới 45cm, rộng tới 18cm. Cuống lá có bẹ.
Cụm hoa mọc từ giữa các lá lên, thành hình nón thưa, lá bắc hữu thụ khum hình
máng rộng, đầu tròn màu xanh lục nhạt, lá bắc bất thụ hẹp hơn, màu hơi tím
nhạt. Tràng có phiến, cánh hoa ngoài màu xanh lục vàng nhạt, chia thành 3 thuỳ,
thuỳ trên to hơn, phiến cánh hoa trong cũng chia 3 thuỳ, 2 thuỳ bên đứng và
phẳng, thuỳ dưới hõm thành máng sâu. Quả nang 3 ngăn, mở bằng 3 van. Hạt có
áo hạt.
2.1.2. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây nghệ vàng được trồng khắp nơi trong nước ta để làm gia vị và làm thuốc.
Còn mọc và được trồng ở các nước Ấn Độ, Inđônêxia, Campuchia, Lào, Trung
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
20
Khoá luận tốt nghiệp

Quốc và các nước nhiệt đới. Ta dùng thân rễ cây nghệ gọi là khương hoàng
(Rhizoma Curcumae longae) và rễ củ gọi là uất kim (Radix Curcumae longae).
Nghệ được thu hoạch vào mùa thu. Cắt bỏ hết rễ để riêng, thân rễ để riêng.
Muốn để được lâu phải đồ hoặc hấp trong 6-8 giờ, sau đem phơi nắng hoặc sấy
khô.
2.2. Thành phần hoá học thân rễ cây nghệ vàng
Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi xuất bản
năm 2006, trong củ nghệ có:
- Chất màu curcumin 0,3%, tinh thể nâu đỏ, ánh tím, không tan trong nước,
tan trong rượu, ête, clorofoc, dung dịch có huỳnh quang màu xanh lục, tan trong
axit (màu đỏ tươi), trong kiềm (màu đỏ máu rồi ngả tím), trong chất béo (dùng
để nhuộm chất béo).
- Tinh dầu 1-5% màu vàng nhạt thơm. Trong tinh dầu có curcumen C
15

chế biến rượu mùi…), công nghiệp hương liệu và mỹ phẩm, công nghiệp sơn,
công nghiệp chế biến hóa chất, y học (làm thuốc sát trùng, tiêu hóa…)…
3.1. Phân loại tinh dầu:
Dựa vào thành phần của tinh dầu người ta chia tinh dầu thành những loại sau:
- Tinh dầu chứa cacbua như pinen (tinh dầu thông), limonen (tinh dầu
chanh)…
- Tinh dầu chứa rượu như geraniol, xitronelol (tinh dầu hoa hồng, sả, hương
diệp); chứa linalol (tinh dầu hoa cải, tinh dầu quả mùi); chứa metol (tinh dầu bạc
hà).
- Tinh dầu chứa andehit như xitral (tinh dầu chanh, màng tang).
- Tinh dầu chứa xeton như xineol (tinh dầu bạch đàn, khuynh diệp), anetol
(tinh dầu tiểu hồi, đại hồi)…
3.2. Trạng thái thiên nhiên và phân bố:
Tinh dầu ở hai trạng thái: tự do và tiềm tàng.
Tinh dầu ở trạng thái tự do trong cây có thể được tạo thành tập trung ở
những tế bào trông giống như những tế bào khác của cây họ lớn hơn, nhưng
thường tinh dầu tự do được tập trung ở cơ quan bài tiết của cây như: lông bài tiết
của cây họ Hoa môi (Labiatae); họ Cúc (Compositae) ở dưới lớp cutin; túi bài
tiết trong họ Xim (Myrtaceae)…
Tinh dầu ở trạng thái tiềm tàng vốn không phải là những thành phần bình
thường của cây mà chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định tương ứng với
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
22
Khoá luận tốt nghiệp

sự chết của một số bộ phận. Ví dụ: tinh dầu trong nhân hạt mơ, hạt đào, hạt cải
và củ tỏi. Tinh dầu hạt mơ, hạt đào (Andehyt bezoic) xuất hiện do tác dụng của
men emulsin trên một heterozit gọi là amygdalin. Tinh dầu hạt cải (bạch đới tử)
xuất hiện do tác dụng của men myrosin trên một heterozit gọi là grozit. Tinh dầu

dạng các este, hợp chất chứa N, hợp chất chứa S, hợp chất halogen…Các
hiđrocacbon béo thường ít đại diện, phần nhiều là cacbua thơm hoặc nhóm
cacbua tecpennic. Trong các thành phần trên, thường este chiếm tỉ lệ cao nhất
rồi đến các rượu và andehit.
Sau đây là một số hợp phần chính hay gặp trong thành phần tinh dầu:
* Hiđrocacbua bao gồm:
- Cacbua tecpennic (chiếm nhiều nhất): limonen, pinen, camphen, caryophyllen,
sylvestren.
- Cacbua no: heptan, parafin.
* Ancol: Ancol metylic, ancol etylic, ancol xinamic, xitronellol, geraniol,
linalol, bocneol, tecpineol, mentol, santalol, xineol.
* Phenol và ete phenolic: anetol, eugenol, safrol, apiol, tymol.
* Andehit: andehit benzoic, xinamic, salyxilic, xitral, xitronellal.
* Xeton: menton, campho, thuyon.
* Axit (dưới dạng este): axit axetic, butiric, valerianic, benzoic, namic, salyxilic,
fomic.
* Những hợp chất chứa sunfua, nitơ, halogen: các tinh dầu có sunfua trong
các cây thuộc họ chữ Thập (Cruciferae) có một kiến trúc đặc biệt gọi là senevol
tức là este của axit isosunfoxianic.
* Cumarin: becgapten, ombelliferon.
4. Một số nét cơ bản về lí thuyết sắc kí và phương pháp khối phổ:
4.1. Lý thuyết cơ bản về sắc kí:
Khi tách các chất với hỗn hợp sẽ dễ dàng nếu như các cấu tử cần tách nằm ở
các pha khác nhau. Nhưng việc tách sẽ rất khó khăn nếu như các cấu tử nằm
cùng một pha. Do vậy nếu có một tác động nào đó làm thay đổi trạng thái của
tập hợp, chất trong các pha sẽ làm cho việc tách các chất thuận lợi hơn. Trong
các phương pháp vật lí ứng dụng trong hóa học thì tách sắc kí là phương pháp
  
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
24

Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status