Khoá luận tốt nghiệp
Lu n v n t t nghi pậ ă ố ệ
Đề tài: Phân tích và định lượng thành phần hóa
học của tinh dầu thân rễ nghệ vàng ở Thanh Hóa
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
1
Khoá luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hường
đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Hoá học - khoa Khoa học tự
nhiên - trường Đại học Hồng Đức đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.
Cảm ơn trung tâm giáo dục và phát triển sắc ký Việt Nam (EDC Việt Nam)
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài này.
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
2
Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
Phần A: Mở đầu. 5
I. Lý do chọn đề tài
5
II. Mục đích nghiên cứu 6
5.1. Phương pháp thu hái và bảo quản mẫu 34
5.2. Định lượng tinh dầu 34
6. Phương pháp xác định thành phần hoá học của tinh dầu 35
6.1. Phân tích trên máy sắc ký PACKARD – 428 35
6.2. Phương pháp sắc ký khí khối phổ ký liên hợp 36
Chương II. Thực nghiệm 37
1. Lấy mẫu 37
1.1. Địa điểm và điều kiện lấy mẫu 37
1.2. Cách bảo quản và chưng cất 37
2. Chưng cất tinh dầu 38
3. Chiết và bảo quản tinh dầu 38
4. Nghiên cứu thành phần hoá học tinh dầu bằng phương pháp sắc ký
phân giải cao GC – MS 39
Chương III: Kết quả và thảo luận 40
I. Kết quả chưng cất tinh dầu thân rễ nghệ vàng 40
II. Thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ nghệ vàng 43
Phần C: Kết luận 57
Tài liệu tham khảo 58
Phụ lục
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
4
Khoá luận tốt nghiệp
Phần A: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Khí hậu Việt Nam thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây
thuốc. Cho tới nay có khoảng 12000 loài thực vật được phát hiện, trong đó các
loài được sử dụng làm thuốc chiếm khoảng 26-30%. Từ các chất có hoạt sinh
học có nguồn gốc thiên nhiên, người ta tìm cách biến đổi cấu trúc hóa học của
dầu thân rễ nghệ vàng ở Thanh Hóa" nhằm phân tích thành phần hóa học tinh
dầu thân rễ cây nghệ vàng và so sánh thành phần hóa học tinh dầu thân rễ cây
nghệ vàng ở các vùng miền, các mùa trong năm để góp phần vào việc nghiên
cứu và khai thác có hiệu quả cây nghệ vàng phục vụ cho ngành công nghiệp
dược phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân.
II. Mục đích nghiên cứu
1. Tìm hiểu cơ sở lí luận về tinh dầu.
2. Tìm hiểu các phương pháp xác định thành phần tinh dầu trong cây nghệ vàng.
3. Xác định thành phần tinh dầu thân rễ cây nghệ vàng trong địa bàn các huyện
Thọ Xuân, Triệu Sơn của tỉnh Thanh Hóa.
4. So sánh hàm lượng, thành phần tinh dầu trong thân rễ nghệ vàng ở các địa
phương và tìm ra nguyên nhân, giải pháp để tăng hàm lượng tinh dầu của thân rễ
cây nghệ vàng.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tinh dầu: khái niệm, tính chất vật lý, tính chất
hóa học và thành phần hóa học của tinh dầu.
2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tinh dầu thân rễ cây nghệ vàng: đặc điểm và sự
phân bố của cây nghệ vàng, thành phần hóa học của tinh dầu thân rễ cây nghệ
vàng ở các vùng khác nhau.
3. Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp xác định thành phần hóa học
của tinh dầu.
4. Xác định thành phần tinh dầu thân rễ cây nghệ vàng ở các huyện Thọ Xuân,
Triệu Sơn ở tỉnh Thanh Hóa. So sánh hàm lượng và thành phần tinh dầu trong
thân rễ cây nghệ vàng ở các địa phương và tìm ra nguyên nhân giải pháp để tăng
hàm lượng tinh dầu của thân rễ cây nghệ vàng.
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
6
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
7
Khoá luận tốt nghiệp
Phần B: NỘI DUNG
Chương I. TỔNG QUAN
1. Sơ lược về thực vật, thành phần hoá học và ứng dụng của tinh dầu họ
Gừng (Zingiberaceae)
Họ Gừng (danh pháp khoa học: Zingiberaceae), là một họ của thảo mộc
sống lâu năm với các thân rễ bò ngang hay tạo củ thuộc loài thực vật một lá
mầm. Họ Gừng theo các định nghĩa khác nhau bao gồm 46 - 52 chi và khoảng
trên 1.000 loài. Theo dữ liệu của vườn quốc gia Kew mà APG III trích dẫn, họ
này chỉ chứa 49 chi. Họ này phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yêú
ở Nam và Đông Nam châu Á. Chi điển hình là Zingiber. Ở Việt Nam hiện biết
khoảng 24 chi với hơn 115 loài khác nhau, trong đó nhiều loài có giá trị. Nhiều
loài là các loại cây cảnh, cây gia vị, hay cây thuốc quan trọng. Hiện nay có
nhiều loài được nhập từ nước ngoài về để phục vụ ngành hoa kiểng. Các thành
viên quan trọng nhất của họ này bao gồm gừng, nghệ, riềng, đậu khấu và sa
nhân.
Các loài trong họ này là thực vật tự dưỡng hay biểu sinh. Thân rễ lớn,
thường phân nhánh, chứa nhiều chất dự trữ. Lá có các bẹ dài ôm lấy nhau làm
thành thân giả, cuống ngắn và phiến lớn, giữa cuống và bẹ lá có phần phụ gọi là
lưỡi bẹ (ligule). Thân lá thường có mùi thơm. Ở nhiều loài thân khí sinh chỉ xuất
hiện khi cây ra hoa, mọc lên từ thân rễ, xuyên qua thân giả ra ngoài mang ở phần
cuối 1 cụm hoa (chi Alpinia), nhưng có loài cụm hoa nằm ngay trên thân rễ ở sát
mặt đất. Hoa không đều, đài hình ống, màu lục, tràng hình ống, phía trên chia 3
thùy, thùy giữa lớn hơn hai thùy bên. Chỉ có một nhị sinh sản (ở vòng trong) với
2 bao phấn lớn nứt phía trong. Một cánh môi hình bản lớn, màu sặc sỡ, do 3 nhị
dính với nhau và biến đổi thành, nằm đối diện với nhị sinh sản. Hai nhị còn lại
biến thành hai nhị lép (vô sinh) nhỏ nằm 2 bên bao phấn (nhiều khi giảm chỉ còn
nước ngoài: Zingiber (Anh), Gingembre, Amome des Indes (Pháp). Gừng được
xếp vào nhóm cây thường niên, thân thảo. Thông thường, cây cao 0,6 -1 m, thân
ngầm phình to chứa dưỡng chất gọi là củ, xung quanh có các rễ tơ; củ và rễ chỉ
phát triển tập trung ở lớp đất mặt (sâu 0 -15 cm).
Lá màu xanh đậm dài 15 -20 cm, rộng 2 cm, chỉ có bẹ mà không có cuống, mọc
thẳng và so le, mặt nhẵn bóng, độ che phủ của tán lá thấp.
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
9
Khoá luận tốt nghiệp
Cây gừng ít khi ra hoa, trục hoa mọc ra từ gốc, dài 15 -20 cm; hoa màu vàng
xanh dài tới 5 cm, rộng 2 -3 cm, có 3 cánh hoa dài khoảng 2 cm, mép cánh hoa
và nhị hoa có màu tím.
- Nơi sống và thu hái:
Chi Zingiber ở châu Á có khoảng 45 loài, Việt Nam có 11 loài. Gừng là loại
cây gia vị cổ điển được trồng ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới, từ Đông Á đến Đông Nam Á và Nam Á. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là
những nước trồng Gừng nhiều nhất thế giới. Ở Việt Nam, cây được trồng ở khắp
các địa phương, từ vùng núi cao đến đồng bằng và ngoài các hải đảo. Cây ưa
ẩm, ưa sáng. Cây trồng thường có hoa năm thứ 2. Chưa thấy cây có quả và hạt.
Gừng trồng sau 1 năm nếu không thu hoạch sẽ có hiện tượng tàn lụi (phần trên
mặt đất) qua đông. Thời gian sinh trưởng mạnh của cây trùng với mùa hè-thu
nóng và ẩm. Gừng tái sinh dễ dàng bằng những đoạn thân rễ có nhú mầm, có thể
trồng quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa xuân. Ra hoa vào mùa hạ và mùa thu.
Thân rễ (Rhizoma Zingiberis) thu hái vào mùa thu đông, dùng tươi là sinh
khương, phơi hoặc sấy khô là can khương. Còn dùng tiêu khương (gừng khô thái
lát dày, sao sém vàng, đang nóng, vẩy vào ít nước, đậy kín, để nguội); bào
khương (gừng khô đã bào chế); thán khương (gừng khô thái lát dày, sao cháy
+ Bào khương: Can khương thái phiến, đem sao cho phồng rộp rồi phun
nước cho nguội.
+ Thán khương: Còn gọi là hắc khương hoặc gừng cháy. Đây là can
khương thái phiến dày, sao cho cháy đen bên ngoài nhưng bên trong còn màu
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
11
Khoá luận tốt nghiệp
hồng sẫm (gọi là đốt tồn tính). Có tác dụng cầm máu trong các bài thuốc trị băng
huyết, thổ huyết, tiêu ra máu, tiểu ra máu, lỵ ra máu
1.3.2. Cây gừng gió - Mô tả:
Gừng gió còn có tên khác: riềng gió, ngải xanh, ngải mặt trời, riềng dại;
khuhet phtu, brateal, vong atic (Campuchia); ginembrefou (Pháp), phong
khương, khinh keng (Tày), gừng dại, gừng giềng. Tên khoa học: Zingber
zerumber (L) sm, thuộc họ gừng: Zingiberaceae. Cây cao từ 1 - 1,3m, thân rễ
dạng củ phân nhiều nhánh, lúc củ non có màu vàng thơm. Củ càng già càng to,
chắc; trong ruột có màu vàng, có mùi thơm ngọt, dễ chịu. Lá mọc xếp lớp,
không cuống, thuôn dài đầu nhọn, phía trên màu xanh lục, hơi nhạt ở phía dưới;
bẹ nhẵn, trừ phía trên có lông ; cụm hoa dài 30 - 60 cm, phủ đầy vẩy, mép có
mang lông hoa hình trứng mọc thẳng từ thân rễ thường có màu lục, khi già màu
hồng đỏ đài và tràng màu trắng cánh môi màu vàng nhạt. Quả nang hình bầu
dục, hạt màu đen, có áo hạt mềm màu trắng, mùa có hoa vào tháng 5 - 6.
- Nơi sống và thu hái:
Cây gừng gió mọc hoang ở khắp nơi, chịu đất ẩm ướt - mát, bìa rừng, ven
suối, đất núi rậm. Có thể trồng trong chậu kiểng để nơi râm mát ở gia đình,
thuộc loại cây cảnh đẹp. Bộ phận dùng: thân rễ.
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
13
Khoá luận tốt nghiệp
- Thành phần hoá học:
Trong địa liền có tinh dầu thơm, trong đó thành phần chủ yếu là borneol,
metyl p.coumaric, acid etyl este, cinnamic acid etyl, cineol, cinnamic aldehyd
- Bộ phận dùng:
Thân rễ (thường vẫn gọi là củ) của cây địa liền (Rhizoma Kaempferiae) thái
mỏng, phơi hay sấy khô. Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam (1983), và dược
điển Trung Quốc (1963), (1997).
-Tính vị và tác dụng:
Theo Đông y, địa liền vị cay, tính ấm, vào 2 kinh Tỳ, Vị. Có tác dụng ấm dạ
dày, giúp tiêu hoá, trừ lạnh, trừ thấp, trừ mùi ô uế. Dùng chữa các chứng bệnh
đau bụng, tức ngực do lạnh, đau răng. Dùng ngoài da ngâm rượu xoa bóp, chữa
tê thấp đau nhức.
1.3.4. Cây riềng
- Mô tả:
Cây riềng có tên khoa học là: Alpinia officinarum Hance - họ Gừng
(Zingiberaceae). Còn có tên khác là tiểu lương khương, cao lương khương (TQ),
Galanga (Pháp), Galanga, Chinese ginger (Anh), Lesser Galanga rhizome (Anh).
Riềng là một loại thảo, sống lâu năm mọc thẳng, cao 0,8-1,5m, thân rễ phát triển
ngang, chia thành nhiều khúc không đều, hơi hình trụ, đường kính 1,2-2 m, mầu
đỏ nâu, có phủ nhiều vảy. Lá không cuống, có bẹ, phiến lá hình mác dài 20-
40cm, rộng 1,5-2,5 cm. Hoa màu trắng, thành chùm ở ngọn. Quả hình cầu, có
lông, hạt có áo hạt.
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
14
- Tính vị và tác dụng: Theo Đông y, riềng vị cay, tính ấm vào các kinh Tỳ,
Vị. Có tác dụng ôn trung (ấm phần giữa bụng giúp tiêu hoá), trừ hàn giảm đau,
trừ gió, chống nôn mửa. Chữa các chứng bệnh: Đau bụng do lạnh, đau bụng
dưới, nôn mửa trong, đau loét dạ dày – hành tá tràng, (trừ khi xuất huyết nặng).
1.3.5. Cây sa nhân.
- Mô tả:
Cây sa nhân có tên khoa học là Amomun achinosphaera. Sa nhân là một loài
thuộc chi Amomun Roxb. Cây thân thảo, sống lâu năm dưới tán rừng. Thân cây
làm bằng lá, cao khoảng 1-2m, có cây 5m. Lá hình mác, không cuống, không
lông. Dài 37-40 cm, rộng 8 cm. Thân ngầm: Dài 0,3-1m Rễ chùm phân bố lớp
đất mặt 20 cm. Hoa lưỡng tính, tỷ lệ kết quả < 30%. Sa nhân mọc thành khóm
nhiều cây, cây nọ cách cây kia 10 cm. Sau khi trồng 2-3 năm, mỗi nhánh có từ
30-50 cây và bắt đầu có quả. Hoa màu trắng đốm tía. Mỗi gốc 3-6 chùm hoa.
Mỗi chùm 4-6 hoa. Ra hoa tháng 4-5. Quả chín tháng 7-8.
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
15
Khoá luận tốt nghiệp
- Nơi sống và thu hái:
Sa nhân có phân bố ở hầu hết các nước Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. ở
nước ta, Sa nhân phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có
khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân , trong đó 23 loài đã
được xác định chắc chắn. Sa nhân thường trồng vào vụ xuân thu, thu hoạch qủa
tháng 7 – 8. Cây xanh tươi nhiều quả, cây lá vàng không có quả. 4 kg quả tươi
cho 1 kg quả khô.
- Tính vị và tác dụng:
Từ lâu đời nhân dân ta đã biết tìm kiếm và khai thác sa nhân để làm thức ăn,
thuốc chữa bệnh và coi là một dược liệu quý, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên
ngọt, vị nóng cay, dễ chịu.
- Công dụng:
Thảo quả được sử dụng làm gia vị và làm thuốc, được khai thác để xuất khẩu.
1.3.7. Bạch đậu khấu
- Mô tả:
Bạch đậu khấu có tên khác là Bà khấu, Bạch khấu nhân, Bạch khấu xác, Đa
khấu, Đới xác khấu (TQ dược học đại từ điển), Đậu khấu, Đông ba khấu, Khấu
nhân, Tử đậu khấu (Đông dược học thiết yếu), Xác khấu (Bản thảo cương mục).
Tên khoa học là Amomum Repens Sonner.
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
17
Khoá luận tốt nghiệp
Bạch đậu khấu là loại cây thảo cao khoảng 2-3m. Thân rễ nằm ngang to bằng
ngón tay, lá hình dải, mũi mác, nhọn 2 đầu, dài tới 55cm, rộng 6cm mặt trên
nhẵn, dưới có vài lông rải rác bẹ lá nhẵn, có khía, lưỡi bẹ rất ngắn. Cụm hoa
mọc ở gốc của thân mang lá, mọc bò, dài khoảng 40cm, mảnh, nhẵn, bao bởi
nhiều vảy chuyển dần thành lá bắc ở phía trên, lá bắc mau rụng. Cuống chung
của cụm hoa ngắn, mang 3-5 hoa, ở nách những lá bắc nhỏ hình trái soan. Hoa
màu trắng tím, có cuống ngắn, đài hình ống nhẵn, có 3 răng ngắn. Tràng hình
ống nhẵn, dài hơn đài 2 lần, thùy hình trái xoan tù, thùy giữa hơi dài rộng hơn,
lõm hơn. Cánh môi hình thoi. Quả nang hình trứng, bao bởi đài tồn tại, có khi
lớn đến 4cm.
-Nơi sống và thu hái:
Cây mọc hoang dại ở vùng thượng du bắc bộ (Cao Bằng, Lào Cai) Việt Nam
và Cam pu chia. Cây này Việt Nam còn phải nhập. Thu hái vào mùa thu, hái cây
trên 3 năm, hái quả còn giai đoạn xanh chuyển sang vàng xanh. Hái về phơi
thuỳ trên to hơn, phiến cánh hoa trong cũng chia 3 thuỳ, 2 thuỳ bên đứng và
phẳng, thuỳ dưới hõm thành máng sâu. Quả nang 3 ngăn, mở bằng 3 van. Hạt có
áo hạt.
2.1.2. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây nghệ vàng được trồng khắp nơi trong nước ta để làm gia vị và làm thuốc.
Còn mọc và được trồng ở các nước Ấn Độ, Inđônêxia, Campuchia, Lào, Trung
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
19
Khoá luận tốt nghiệp
Quốc và các nước nhiệt đới. Ta dùng thân rễ cây nghệ gọi là khương hoàng
(Rhizoma Curcumae longae) và rễ củ gọi là uất kim (Radix Curcumae longae).
Nghệ được thu hoạch vào mùa thu. Cắt bỏ hết rễ để riêng, thân rễ để riêng.
Muốn để được lâu phải đồ hoặc hấp trong 6-8 giờ, sau đem phơi nắng hoặc sấy
khô.
2.2. Thành phần hoá học thân rễ cây nghệ vàng
Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi xuất bản
năm 2006, trong củ nghệ có:
- Chất màu curcumin 0,3%, tinh thể nâu đỏ, ánh tím, không tan trong nước,
tan trong rượu, ête, clorofoc, dung dịch có huỳnh quang màu xanh lục, tan trong
axit (màu đỏ tươi), trong kiềm (màu đỏ máu rồi ngả tím), trong chất béo (dùng
để nhuộm chất béo).
- Tinh dầu 1-5% màu vàng nhạt thơm. Trong tinh dầu có curcumen C
15
H
24
một cacbon không no, 5% paratolylmetyl cacbinol v à 1% long não hữu tuyến.
Hai chất sau chỉ có trong tinh dầu Curcuma xanthorriza Roxb.
- Ngoài ra còn có tinh bột, canxi oxalat, chất béo.
- Tinh dầu chứa rượu như geraniol, xitronelol (tinh dầu hoa hồng, sả, hương
diệp); chứa linalol (tinh dầu hoa cải, tinh dầu quả mùi); chứa metol (tinh dầu bạc
hà).
- Tinh dầu chứa andehit như xitral (tinh dầu chanh, màng tang).
- Tinh dầu chứa xeton như xineol (tinh dầu bạch đàn, khuynh diệp), anetol
(tinh dầu tiểu hồi, đại hồi)…
3.2. Trạng thái thiên nhiên và phân bố:
Tinh dầu ở hai trạng thái: tự do và tiềm tàng.
Tinh dầu ở trạng thái tự do trong cây có thể được tạo thành tập trung ở
những tế bào trông giống như những tế bào khác của cây họ lớn hơn, nhưng
thường tinh dầu tự do được tập trung ở cơ quan bài tiết của cây như: lông bài tiết
của cây họ Hoa môi (Labiatae); họ Cúc (Compositae) ở dưới lớp cutin; túi bài
tiết trong họ Xim (Myrtaceae)…
Tinh dầu ở trạng thái tiềm tàng vốn không phải là những thành phần bình
thường của cây mà chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định tương ứng với
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
21
Khoá luận tốt nghiệp
sự chết của một số bộ phận. Ví dụ: tinh dầu trong nhân hạt mơ, hạt đào, hạt cải
và củ tỏi. Tinh dầu hạt mơ, hạt đào (Andehyt bezoic) xuất hiện do tác dụng của
men emulsin trên một heterozit gọi là amygdalin. Tinh dầu hạt cải (bạch đới tử)
xuất hiện do tác dụng của men myrosin trên một heterozit gọi là grozit. Tinh dầu
củ tỏi xuất hiện do tác dụng của men alliinnaza trên một chất không phải eterozit
mà là một axit amin chứa sunfua là allinin cho một sunfoxyt gọi là allixin để cho
chất đisunfua allyl.
Về mặt phân bố, tinh dầu có trong toàn bộ giới thực vật nhưng đặc biệt nhiều
trong một số như họ Thông (Coniferae), họ Cam (Rutace), họ Hoa tán
(Umbelliferae), họ Xim (Myrtaceae)…
- Cacbua tecpennic (chiếm nhiều nhất): limonen, pinen, camphen, caryophyllen,
sylvestren.
- Cacbua no: heptan, parafin.
* Ancol: Ancol metylic, ancol etylic, ancol xinamic, xitronellol, geraniol,
linalol, bocneol, tecpineol, mentol, santalol, xineol.
* Phenol và ete phenolic: anetol, eugenol, safrol, apiol, tymol.
* Andehit: andehit benzoic, xinamic, salyxilic, xitral, xitronellal.
* Xeton: menton, campho, thuyon.
* Axit (dưới dạng este): axit axetic, butiric, valerianic, benzoic, namic, salyxilic,
fomic.
* Những hợp chất chứa sunfua, nitơ, halogen: các tinh dầu có sunfua trong
các cây thuộc họ chữ Thập (Cruciferae) có một kiến trúc đặc biệt gọi là senevol
tức là este của axit isosunfoxianic.
* Cumarin: becgapten, ombelliferon.
4. Một số nét cơ bản về lí thuyết sắc kí và phương pháp khối phổ:
4.1. Lý thuyết cơ bản về sắc kí:
Khi tách các chất với hỗn hợp sẽ dễ dàng nếu như các cấu tử cần tách nằm ở
các pha khác nhau. Nhưng việc tách sẽ rất khó khăn nếu như các cấu tử nằm
cùng một pha. Do vậy nếu có một tác động nào đó làm thay đổi trạng thái của
tập hợp, chất trong các pha sẽ làm cho việc tách các chất thuận lợi hơn. Trong
các phương pháp vật lí ứng dụng trong hóa học thì tách sắc kí là phương pháp
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
23
Khoá luận tốt nghiệp
quan trọng thường được sử dụng để tách các chất có tính chất gần giống nhau.
Dùng phương pháp sắc ký có thể tách được các cấu tử vô cơ và hữu cơ khác
nhau có trong hỗn hợp các cấu tử riêng rẽ, tách và cô lập các sắc tố động và thực
vật…Phương pháp sắc ký khí tách các chất dựa vào các hiện tượng động học
tướng khí (sắc ký phân bố khí - lỏng).
Nếu đưa vào cột một hỗn hợp chất nào đó, muốn đạt được mức tách hoàn
toàn, trước hết bề mặt tiếp xúc của hai pha phải lớn và bề dày lớp tiếp xúc của
hai pha phải đủ nhỏ (do quá trình khuếch tán làm giảm hiệu quả tách) và sau
cùng sự dịch chuyển có hướng của pha động so với pha tĩnh phải để mỗi cấu tử
trong hỗn hợp được phân bố giữa hai pha phù hợp với tính chất hấp phụ hoặc
hoà tan của nó. Do pha động chuyển dịch liên tục nên ngoài nhiệm vụ đưa các
chất phân tích lên bề mặt pha tĩnh, pha động còn có nhiệm vụ tiếp nhận các phân
tử, chất phân tích đã bị hấp thụ trước đó bị giải hấp phụ tới tương tác với các
thành phần khác của pha tĩnh. Nói cách khác, đó là quá trình chuyển chất từ đĩa
lí thuyết này tới đĩa lí thuyết khác mà ở đó tồn tại cân bằng nhiệt và chất.
Quá trình chuyển chất trên các đĩa diễn ra liên tục giữa pha tĩnh và pha động,
chuyển từ đầu cột đến cuối cột, dẫn tới sự phân vùng riêng biệt các chất trong
cột sắc ký. Ghi lai từng chất này khi nó đi ra khỏi cột ta sẽ thu được sắc đồ tách
chất của cột sắc ký.
* Mô tả quá trình tách chất trên cột sắc ký:
A+ B
B
Chất hiện E Chất tách được B Chất tách được A
4.2. Lý thuyết sắc ký phân giải cao:
Lê Thị Tú K1 ĐHSP Lý - Hoá
25
A
A
B
B