Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp - Pdf 24

T
RƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HOÁ HỌC

BÀI TIỂU LUẬN
+ −
→ ↓
2
2
Hg + 2Cl HgCl

I
− − +
+ + → + +
2+
4 2 2
10I 2MnO 16H 2Mn 5I 8H O
− − −
+ → +
2 2
2 2 3 4 6
I 2S O 2I S O

Cl

Cl
− − +
+ + → + +
2+
4 2 2
10Cl 2MnO 16H 2Mn 5Cl 8H O

+ → + +
+ 2
2 2 2
MnO 2I +4H I Mn 2H O
2 - 2
2 2 3 4 6
I 2S O 2I S O
− −
+ → +
3 2
2
2Fe 2I I 2Fe
+ − +
+ → +
3
3 4 3 4 2
Fe 2H PO H [Fe(PO ) ] 3H
+ +
+  → +

3
NO
2
NO

− − +
→ ↑
3 2 2
2NO + 6I + 8H 3I + 2NO + 4H O
− −

S O
m do
C = C .F
≥≥
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC
ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU
TRONG NƯỚC THẢI CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Sinh viên: Đoàn Thành Trung Kiên
MS: 08275371
Lớp: ĐHPT2TLT
GVHD: Ts. Nguyễn Văn Vinh
Tp. Hồ Chí Minh năm 2010Mục lục
Trang
Mở đầu
1.Vai trò của nước sạch và tình trạng ô nhiễm nguồn nước 1
1.1.Vai trò của nước 1
1.2.Phân bố của nước trên trái đất 1
1.2.1.Nước ngọt trên bề mặt đất 1
1.2.2. Nước ngọt trong lòng đất 2
1.3.Phân loại nước 2
1.3.1.Nước thiên nhiên – nước sinh hoạt 2
1.3.2.Nước thải 3
1.4. Thành phần các chất trong nước 3
1.4.1. Độ cứng 4
1.4.2. Chlorua và sulfate 4
1.4.3. Các muối sắt 5
1.4.4. Các muối amonium 5
1.4.5. Khí ôxy 5

3.2.2. Keo tụ - tạo bông 31
3.3. Phương pháp sinh học 32
3.3.1. Phương pháp sinh học kị khí 32
3.3.2. Phương pháp sinh học hiếu khí 33
4. Phân tích hàm lượng một số chỉ tiêu trong nước thải 34
4.1. Chỉ tiêu amonium 34
4.2. Chỉ tiêu chloride 35
4.3. Chỉ tiêu COD (chemical oxygen demand) 38
4.4. Chỉ tiêu BOD (biochemical oxygen demand) 41
4.5. Chỉ tiêu DO (disolved oxygen) 44
4.6. Chỉ tiêu phosphate và tổng phosphous 48
4.7 Xác định hàm lương asen 51
Kết luận …
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Mở đầu
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên qúy giá, là yếu tố không thể thiếu cho sự sống, ở
đâu có nước ở đó có sự sống. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của sự sống, quá trình đô thị hoá,
công nghiệp hoá, và thâm canh nông nghiệp ngày càng phát triển đã có nhiều ảnh hưởng xấu đến
nguồn tài nguyên này. Nhiều nơi nguồn nước bề mặt thậm chí cả nước ngầm đã bị ô nhiễm
nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng của nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con
người và động vật làm giảm năng xuất và chất lượng cây trồng.
Hiện nay thế giới đang rung hồi chuông báo động về thực trạng ô nhiễm môi trường toàn
cầu. Môi trường đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại và được toàn thế giới quan tâm,
cùng với sự nóng lên của trái đất gây hiệu ứng nhà kính và xuất hiện ngày một nhiều lỗ thủng
trên tầng Ozon bảo vệ trái đất khỏi các tia cực tím. Nằm trong khung cảnh chung đó của thế giới
môi trường Việt Nam chúng ta xuống cấp cục bộ do chúng ta đang trong thời kỳ phát triển công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và sự tăng mật độ dân số quá nhanh ở các khu đô thị.
Đi kèm với sự phát triển đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do các nguồn rác thải, nước thải,
khí thải gây ra. Tất cả các nguồn thải nói trên đều chứa đựng trong nó biết bao nhiêu loại chất

2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi,
chỉ có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống. Việc
cung cấp nước uống sẽ là một
trong những thử thách lớn nhất
của loài người trong vài thập niên
tới đây. Nguồn nước cũng đã là
nguyên nhân gây ra một trong
những cuộc chiến tranh ở Trung
Cận Đông.
Nước được sử dụng trong
công nghiệp từ lâu như là nguồn
nhiên liệu (cối xay nước, máy hơi
nước, nhà máy thủy điện), là chất
trao đổi nhiệt.
1.2. Phân bố của nước trên
Trái đất
Lượng nước tự nhiên có 97% là nước mặn phân bổ ở biển và đại dương,
3,5% còn lại phân bố ở đất liền. Tổng lượng nước lớn nhưng lượng nước ngọt chỉ
có thể sử dụng các nguồn sau
1.2.1.Nước ngọt trên bề mặt đất
− Lượng nước mưa rơi xuống mặt đất.
− Nước tồn tại trong các sông, rạch, ao, hồ.
− Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết.
Trang 6
Hình 1: Chu trình của nước trên trái đất
1.2.2.Nước ngọt trong lòng đất
Nước dưới đất có loại nước mặn, nước lợ và nước
ngọt, trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định.
Nước dưới đất được tàng trữ trong các lỗ hổng và khe
hở đất đá.

lẫn bụi bậm và vi trùng nên nước mưa
thuộc loại nước mềm, sạch mát khi mới
hứng.
Nước mạch, nước ngầm: Do nước thấm
trong lòng đất lâu đời tạo thành những
mạch nước chảy trong lòng đất vì được chắc
lọc qua nhiều tầng lớp nên nước mạch thuộc
loại nước mềm, trong mát, do đó được dùng
nhiều trong sinh hoạt.
− Nước ở trên bề mặt trái đất: Như ở
ao, hồ, sông, biển… Đặc điểm của nước này thường chứa nhiều tạp chất khác nhau, tùy vào từng
vùng, từng lãnh thổ…
Trang 7
Hình 2. Vòng tuần hoàn nước trong tự
nhiên
Hình 3. Nước sinh hoạt ở nông thôn bị ô
nhiễm
− Nước uống: nước uống chủ yếu là nước ngọt tự nhiên trong đó đã được quy định cụ thể
về các thành phần hóa học – vi sinh – các ion kim loại… sao cho phù hợp với quá trình trao đổi
chất của con người.
1.3.2. Nước thải
Nước thải là kết quả của sự nhiễm bẩn nước bề mặt của nước tự nhiên do các hoạt động
sinh hoạt, sản xuất của con người hay do quá trình phân huỷ của xác động, thực vật. Thành phần
nước thải phụ thuộc nhiều vào nguồn nhiễm bẩn khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp… và
các hoạt động sinh hoạt khác của con người.
Trong nước thải có rất nhiều chất khác nhau tuỳ thuộc vào từng vùng, từng khu sản
xuất… Nó có thể là những chất tan trong nước hay ở dạng huyền phù, nhũ tương cho đến các
loại vi khuẩn… Do tương tác hoá học giữa các chất làm cho pH của môi trường thay đổi, còn các
chất huyền phù, kết tủa làm ngăn cản sự phát triển của các loại vi sinh vật làm sạch nước, cản trở
sự phát triển của các loài động, thực vật ở trong nước cũng như ở các vùng xung quanh.

cứng carbonat biểu thị lượng calcium và magiesium dưới dạng muối HCO
3
-
còn độ cứng không
carbonate biểu thị muối calcium và magiesium dưới dạng Cl
-
và SO
4
2-
.
−Cách 2: Chia độ cứng làm 3 loại là độ cứng tạm thời, độ cứng vĩnh cửu và độ cứng chung
hay được gọi là độ cứng toàn phần.
−Độ cứng tạm thời của nước biểu thị muối HCO
3
-
của calcium và magiesium bị phân huỷ
khi đun nóng.
Ca(HCO
3
)
2
= CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O
Mg(HCO
3

−Độ cứng chung là tổng của độ cứng tạm thời và độ cứng vĩnh cửu.
1.4.2. Clorua (Cl
-
) và sunphat (SO
4
2-
)
Cl
-
và SO
4
2-
hầu như có mặt trong các loại nước thiên nhiên. Nó không thể hiện tính cứng
cũng như không gây tác hại trong việc sử dụng. Tuy nhiên nếu các muối này quá cao thì gây ra
áp suất cao trong quá trình sử dụng nồi hơi vì nó là những hợp chất dễ tan trong nước. Mặt khác,
ảnh hưởng đến sinh hoạt của con người, đến sự sống của động – thực vật trong nước khi hàm
lượng quá cao.
1.4.3. Các muối Sắt (Fe
2+
, Fe
3+
)
Sắt thường tồn tại trong nước ở dạng muối Fe(HCO
3
)
2
. Khi tiếp xúc lâu với không khí,
muối sắt trên dễ bị oxy hoá thành muối sắt (III) và gây cặn Fe(OH)
3
làm cho nước đục.

bẩn sẽ có độ oxy hóa cao phải tốn nhiều hóa chất cho công tác khử trùng.
1.4.6. Phosphous
Hàm lượng phosphous trong nước tồn tại dạng PO
4
3-
, được sinh ra bởi phân, rác rưởi, các
hợp chất hữu cơ trong sinh hoạt và trong sản xuất thải ra. Phosphate làm hóa chất bón cây, chất
kích thích tăng trưởng, chất tạo bọt trong bột giặt, chất làm mềm nước, kích thích tăng trưởng
Trang 9
nhiều loại vi sinh vật, phiêu sinh vật, tảo… Phosphate gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi
trường.
1.4.7. Độ kiềm
Trong thiên nhiên độ kiềm thường gây ra do sự hiện diện của các muối acid yếu tồn tại
dưới dạng HCO
3
-
như: KHCO
3
, NaHCO
3
, Ca(HCO
3
)
2
. Trong một vài trường hợp độ kiềm thường
gây ra do ion OH
-
hay CO
3
2-

Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia
tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng
đến môi trường như sụp lún, nhiễm
mặn…
Giữa nước mặn và nước nhạt có
một ranh giới, khi hoạt động khai thác
nước dưới đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước mặn
xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công trình khai thác trong
khu vực.
1.5.2. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp
Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết
kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước
thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là
nguồn nước ngầm.
Trang 10
Hình 5. Một kênh nước bị ô nhiễm
Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã làm ô nhiễm
nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự
khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt.
Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong
phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống
kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô
nhiễm nguồn nước và phát tán rộng. Hệ
thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu
không hợp lý là nguyên nhân gây thất
thoát lưu lượng nước lớn trong ngành
trồng trọt.
1.5.3. Ảnh hưởng do phát triển công ngiệp và dịch vụ
Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn
đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh

đối với nhiều nước trên thế giới.
1.6.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại việt nam
Trang 11
Hình 6. Nguồn nước bị ô nhiễm do hoạt động
nông nghiệp
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực
hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất
đáng lo ngại.
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày
càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu
công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các
thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do
không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất
nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải
thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học
(COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần
giới hạn cho phép.
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H
2
S
vượt 4,2 lần, hàm lượng NH
3
vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các
nguồn nước mặt trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất,
cụm công nghiệp tập trung là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí
Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính
500.000 m
3
/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải
công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than;

không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước
thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan
trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố
lớn là rất nặng.
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000
m
3
/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước
thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu
gom khoảng 1.200m
3
/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành;
chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH
4
, NO
2
-
, NO
3
-
ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt
quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày;
chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
thuộc diện phải di dời.
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế,
Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm
nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất
lơ lửng (SS), BOD; COD; ôxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP. Về tình
trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần
76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải

tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các chương
trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít. Đội
ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt
Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước
ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)
Không chỉ nguồn nước bị ô nhiễm mà xung quanh chúng ta tất cả đều bị ô nhiễm, từ
không khí cho đến đất đai canh tác bởi chất thải công nghiệp và sinh hoạt. Chúng ta đã lấy đi từ
môi trường tất cả những gì cần thiết nhất cho cuộc sống nhưng lại trả cho môi trường những phế
thải. Điều bất hợp lý này đang diễn ra hàng ngày đã làm phá vỡ sự cân bằng về môi trường sinh
thái và hủy hoại cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai.
Luật Bảo vệ môi trường của nhà nước ban hành dường như đã không góp phần cải thiện được
tình trạng ô nhiễm môi trường tràn lan. Một khi nước sạch và môi trường chưa được xem là tiêu
chí của phát triển thì rất khó cho việc
nâng cao nhận thức, trách nhiệm của
toàn xã hội đối với việc bảo vệ, giữ
gìn nguồn nước sạch và môi trường.
Nếu như GDP tăng lên, việc làm được
tạo ra nhiều, thu nhập được cải thiện
nhưng môi trường càng ngày càng
xấu đi thì liệu có đảm bảo được sự
phát triển bền vững. Bởi không thể
gọi là phát triển nếu chúng ta luôn bị
bệnh tật và thiên tai đe dọa nhiều hơn.
Về mặt nhận thức, muốn bảo
vệ môi trường trước hết phải bảo vệ
nguồn nước, không khí bởi nguồn
nước sạch cho cuộc sống giống như
máu lưu thông trong cơ thể. Trách
nhiệm này không của riêng ai mà là của toàn xã hội, của nhiều thế hệ nối tiếp. Nếu chúng ta lấy
đi của môi trường quá nhiều thứ mà môi trường không thể tái tạo được cũng tức là chúng ta đang

khác.
Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie,
Ontario đặc biệt nghiêm trọng.
Năm 1984, Bhopal (Ấn Độ) là nơi đã xảy ra
một tai nạn kinh hoàng khi nhà máy sản xuất thuốc
trừ sâu Union Carbide India. thải ra ngoài môi
trường 40 tấn izoxianat và metila. Theo viện
Blacksmith, chính lượng khí độc hại này đã gây ảnh
hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của hàng trăm nghìn
người dân và khiến 15.000 người tử vong. Thật đáng lo
ngại khi vấn đề ô nhiễm ở khu vực này vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để. Người ta nghi
ngờ rằng các mạch nước ngầm đã bị nhiễm độc.
Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tai công ty Aurul ( Rumani) đã thải ra 50-100 tấn
xianu và kim loại nặng (như đồng) vào dòng sông gần Baia Mare ( thuộc vùng Đông- Bắc). Sự
nhiễm độc này đã khiến các loài thuỷ sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm
bẩn nguồn nước sạch, ảnh hưởng đến cuộc sống của 2,5 triệu người.
Trang 15
Hình 8.Dòng sông Huai - TQ
Cubatao( Brazil), thành phố của hàng lọat các khu liên hợp công nghiệp cơ khí và hoá
dầu. Nhưng các công ty ở đây đã “vô tư” thải các chất thải công nghiệp ( kẽm, fenola, thuỷ ngân,
dầu) vào các dòng sông của thành phố từ nhiều thập kỉ nay. Việc xử lý nguồn nước thải chưa
được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định. Người dân thành phố thường xuyên mắc các bệnh
liên quan đến đường hô hấp, mặc dù Ngân hàng thế giới đã khuyến cáo Brazil áp dụng các điều
luật bảo vệ hệ sinh thái nghiêm khắc trong những năm qua.
Cho đến những năm cuối thời kì chiến tranh lạnh, Dzerzhinsk luôn là trung tâm lớn về
sản xuất vũ khí hoá học. Theo báo cáo của Blacksmith, vấn đề nhiễm độc mạch nước ngầm luôn
được đặt ra., tuổi thọ trung bình chỉ khoảng 40 tuổi với cả hai giới.
Nằm tại khu vực chính giữa đất nước Trung Quốc, dòng sông Huai dài 1978 km được coi
như nơi ô nhiễm nhất của nước này do các chất thải công nghiệp, động vật và nông nghiệp, Mức
độ mắc các bệnh cao bất thường của cộng đồng dân cư sống gần lưu vực sông đã khiến chính

Hình 9: Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt
− Nước thấm qua, là nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau,qua các khớp
nối, các ông có khuyết tật hay thành hố ga, hố xí.
− Nước thải tự nhiên, nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố lớn
hiện đại, nước mưa được gom theo hệ thống riêng.
− Nước thải đô thị, là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát nước của
một thành phố, thị xã… đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên.
Ngoài ra căn cứ vào tính chất của nguồn thải có thể phân loại thành:
− Nguồn điểm (nước thải của các cơ sở công nghiệp, các khu dân cư, thành phố…)
− Nguồn không điểm (nước mưa chảy tràn, nước thải nông ngư nghiệp…)
1.7.1. Nước thải sinh hoạt
Các loại nước thải sinh hoạt sinh ra từ các nguồn như: từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách
sạn, công sở trường học.
Nước thải từ các dụng cụ vệ sinh như hố xí, chậu rửa, bồn tắm, giặt bao gồm cả nước thải
sinh lý của con người.
Nước thải từ nhà bếp: nước rửa, nước thải từ nhà ăn…
Nước rửa nhà, sân, đường, phố…
 Thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt
Đặc điểm chung của nước thải sinh hoạt là chúng chứa khoảng 58% chất hữu cơ và 42%
chất khoáng. Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là hàm lượng cao các chất hữu cơ không
bền sinh học như cacbonhydrat, protein, mỡ…chất dinh dưỡng như phôtphat, nito, vi trung, vi
khuẩn, chất rắn và mùi.
Thành phần và tính chất nhiễm bẩn phụ thuộc vào tập quán sinh hoạt, mức sống của người
dân, mức độ hoàn thiện của trang thiết bị, trạng thái làm việc của thiết bị thu gom nước thải…
Số lượng nước thải tuỳ thuộc vào điều kiện tiện nghi của cuộc sống, tập quán dùng nước
của từng dân tộc. tương ứng với nhu cầu dùng nước, số lượng nước thải các khu dân cư dao động
trong khoảng 130 – 150lit/người/ngày.
Nước thải sinh hoạt có chứa các cặn bã các chất rắn bao gồm chất rắn vô cơ như đất cát,
muối vô cơ, chất rắn hữu cơ như vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo, phân rác, các chất hữu cơ
như thực phẩm, dầu mỡ… các chất dinh dưỡng và vi sinh. Thành phần nước thải sinh hoạt thay

Trong nước thải sinh hoạt còn chứa một số hoá chất độc hại như chất tẩy rửa, thuốc tẩy,
thuốc nhuộm…
1.7.2. Nước mưa
Trang 17
Vào mùa mưa, nước mưa chảy tràn qua các khu vực dân cư, nhà máy, bãi chứa nguyên
liệu…sẽ cuốn theo các chất rắn, các chất hữu cơ. Nếu không quẩn lý tốt nước chảy tràn này sẽ
tác động tiêu cực đến nguồn nước mặt, nước ngầm và đời sống thuỷ sinh trong khu vực.
Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mưa chảy tràn ước tính vào khoảng 0.5 – 1.5
mgN/L, 0.004 – 0.03mgP/L, 10 – 20 mgCOD/L, 10 – 20 mg TSS/L. so với nước thải nước mưa
khá sạch, vì vậy có thể tách riêng nước mưa khỏi nước thải và thải trực tiếp qua cống thoát.
Đường thoát nước phải có bộ phận chắn rác trước khi đổ ra cống thoát tránh tắc nghẽn đường
cống.
1.7.3. Nước thải công nghiệp và nông nghiệp
Số lượng và thành phần phụ thuộc vào dạng sản xuất được trình bày dưới bảng sau:
Bảng 2: Các tác nhân ô nhiễm điển hình trong nước thải công nghiệp
Công nghiệp Chất ô nhiễm chính Chất ô nhiễm phụ
Chế biến sữa BOD, pH, SS
Màu, tổng P, N, TOC, độ
đục
Chế biến đồ hộp, rau quả BOD, COD, pH, SS, TDS Màu, tổng P, N, TOC,
Chế biến rượu bia
BOD, pH, SS, N, P, chất rắn có
thể lắng
TDS, màu, độ đục. bọt
nổi
Chế biến thịt BOD, pH, SS, dầu mỡ, độ đục,
chất rắn có thể lắng
NH
4
+

Phân đạm NH
4
+
, TDS, NO
3
-
, SO
4
2-
, ure
pH, PO
4
3-
, SO
4
2-
, hợp
chất hữu cơ
Phân lân TDS, F, pH, P, SS
Al, Fe, Hg, N, SO
4
2-
,
uranium
Hoá chất hữu cơ
BOD, COD, pH, TSS, TDS, dầu
nổi
Độ đục, clo hữu cơ, P,
kim loại nặng, phenol
Hoá chất vô cơ

nước ngầm bừa bãi và người dân xây dựng các loại hầm chứa chất thải cũng góp phần làm suy
giảm chất lượng nước ngầm, làm cho lượng nước ngầm vốn đã khan hiếm, nay càng hiếm hơn
nữa.
− Nước mặt: Do
nhiều nguyên nhân khác
nhau, gây ra sự mất cân
bằng giữa lượng chất thải
ra môi trường nước (rác
thải sinh hoạt, các chất
hữu cơ,…) và các sinh
vật tiêu thụ lượng chất
thải này (vi sinh vật, tảo,
…) làm cho các chất hữu
cơ, chất rắn lơ lửng,…
không được phân huỷ,
vẫn còn lưu lại trong nước với khối lượng lớn, dẫn đến việc nước dần mất đi sự tinh khiết ban
đầu, làm chất lượng nguồn nước bị suy giảm nghiêm trọng.
b) Sinh vật nước:
Ô nhiễm nước ảnh hưởng trực tiếp đến các sinh vật nước, đặc biệt là vùng
sông, do nước chịu tác động của ô nhiễm nhiều nhất. Nhiều loài thuỷ sinh do hấp
thụ các chất độc trong nước, thời gian lâu ngày gây biến đổi trong cơ thể nhiều loài
thuỷ sinh, một số trường hợp gây đột biến gen, tạo nhiều loài mới, một số trường
hợp làm cho nhiều loài thuỷ sinh chết.
Trong 4 ngày liên tiếp (từ 18 - 21.10), tôm, cá chết hàng loạt tại kinh Giữa Nhỏ (ấp Đầm
Cùng, xã Trần Thới, huyện Cái Nước, Cà Mau), cạnh Xí nghiệp chế biến thuỷ sản Nam Long
thuộc Công ty cổ phần xuất khẩu thuỷ sản Cái Đôi Vàm (Cadovimex). Nước trong kinh đen
ngòm và mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Đi đến
đầu kinh cạnh Xí nghiệp chế biến thuỷ sản Nam Long thì thấy nước thải trong bãi
rác sinh hoạt của xí nghiệp này đang tràn xuống kinh. Xác cá chết trên kinh Giữa
Trang 19

2.1.2.Đất và sinh vật đất:
a) Đất
Nước bị ô nhiễm mang nhiều chất vô cơ và hữu cơ thấm vào đất gây ô nhiễm nghiêm trọng
cho đất. Nước ô nhiễm thấm vào đất làm :
− Liên kết giữa các hạt keo đất bị bẻ gãy, cấu trúc đất bị phá vỡ.
− Thay đổi đặc tính lý học, hóa học của đất.
− Vai trò đệm, tính oxy hóa, tính dẫn điện, dẫn nhiệt của môi trường đất thay đổi mạnh.
− Thành phần chất hữu cơ giảm nhanh làm khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay
đổi. Một số chất hay ion có trong nước thải ảnh hưởng đến đất :
Trang 20
− Quá trình oxy hóa các ion Fe
2+
và Mn
2+
có nồng độ cao tạo thành các axit không tan
Fe
2
O
3
và MnO
2
gây ra hiện tượng “nước phèn” dẫn đến đóng thành váng trên mặt đất (đóng
phèn) Canxi, magie và các ion kim loại khác trong đất bị nước chứa axit cacbonic rửa trôi thì đất
sẽ bị chua hóa
b) Sinh vật đất
Khi các chất ô nhiễm từ nước thấm vào đất không những gây ảnh hưởng đến
đất mà còn ảnh hưởng đến cả các sinh vật đang sinh sống trong đất.
− Các ion Fe
2+
và Mn

là nguyên nhân gây nên những làng ung thư. Các ion kim loại được phát hiện là hợp chất kìm
hãm ezyme mạnh. Chúng
tác dụng lên phôi tử như nhóm –SCH
3
và SH trong methionin và xystein. Sau đây là một số kim
loại có nhiều ảnh hưởng nhiêm trọng nhất.
 Trong nước nhiễm chì
Chì có tính độc cao đối với con người và động vật. Sự thâm nhiễm chì vào cơ thể con
người từ rất sớm từ tuần thứ 20 của thai kì và tiếp diễn suốt kì mang thai. Trẻ em có mức hấp thụ
chì cao gấp 3-4 lần người lớn. Mặt khác thời gian bán sinh học chì của trẻ em cũng dài hơn của
Trang 21
người lớn. Chì tích đọng ở xương . Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống và phụ nữ có thai là những đối
tượng mẫn cảm với những ảnh hưởng nguy hại của chì gây ra. Chì cũng cản trở chuyển hóa
canxi bằng cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua kìm hãm sự chuyển hóa vitamin D. Chì gây
độc cả cơ quan thần kinh trung ương lẫn thần kinh ngoại biên. Chì tác động lên hệ enzyme, đặc
biệt là enzyme vận chuyển hiđro. Khi bị nhiễm độc, người bệnh bị một số rối loạn cơ thể, trong
đó chủ yếu là rối loạn bộ phận tạo huyết (tủy xương) .
Tùy theo mức độ nhiễm độc có thể gây ra những tai biến như đau bụng chì, đường viền
đen Burton ở lợi, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp vĩnh viễn, liệt, tai biến lão nếu nặng có thể
gây tử vong. Tác dụng hóa sinh của chì chủ yếu gây ảnh hưởng đến tổng hợp máu, phá vỡ hồng
cầu. Chì ức chế một số enzyme quan trọng trong quá trình tổng hợp máu do tích đọng các hợp
chất trung gian của quá trình trao đổi chất. Chì kìm hãm quá trình sử dụng O
2
và glucozo để sản
xuất năng lượng cho quá trình sống. Sự kìm hãm này có thể nhận thấy khi nồng độ chì trong máu
khoảng 0,3mg/l. Khi nồng độ chì trong máu lớn hơn 0,8mg/l có thể gây ra hiện tượng thiếu máu
do thiếu hemoglobin. Nếu hàm lượng chì trong máu khoảng 0,5-0,8mg/l sẽ gây rối loạn chức
năng của thận và phá hủy não. JECFA đã thiết lập giá trị tạm thời cho lượng chì đưa vào cơ thể
có thể chịu đựng được đối với trẻ sơ sinh và thiếu nhi là 25mg/kg thể trọng. Hơn 90% lượng chì
trong máu tồn tại trong hồng cầu. Dạng lớn nhất và tốc độ chậm là trong khung xương, chu kì

Asen gây ra ba tác động chính tới sức khỏe con người là: làm đông keo protein, tạo phức
với asen(III) và phá hủy quá trình phốt pho hóa. Các triệu chứng của nhiễm độc asen như: Ở thể
cấp tính gây ho, tức ngực và khó thở, mất thăng bằng, đau đầu, nôn mửa, đau bụng đau cơ. Nếu
nhiễm độc kinh niên thì ảnh hưởng đến da như đau, sưng tấy da, vệt trắng trên móngtay… Asen
và các hợp chất của nó tác dụng lên sunfuahydryl (-SH) và các men phá vỡ quá trình photphoryl
hóa, tạo phức co-enzyme ngăn cản quá trình sinh năng lượng. asen có khả năng gây ung thư biểu
mô da, phế quản, phổi, xoang… Asen vô cơ có hóa trị 3 có thể làm sơ cứng ở gan bàn chân, ung
thư da. Asen vô cơ có thể để lại ảnh hưởng kinh niên với hệ thần kinh ngoại biên, một vài nghiên
cứu đã chỉ ra asen vô cơ còn tác động lên cơ chế hoạt động của AND. Sử dụng nguồn nước bị ô
nhiễm asen lâu dài là không an toàn và ở một số nước trên thế giới vấn đề ảnh hưởng sức khỏe
do asen rất đáng lo ngại. Đầu tiên là các ca tổn thương da do asen ở Tây Ban Nha, Ấn Độ năm
1983, hơn 1,5 triệu người được cho là nhiễm asen tại đây, với khoảng hơn 20000 ca nhiễm độc.
Tại Bangladesh khoảng 35 đến 77 triệu người trong tổng số 125 triệu người đang đối mặt với
nguy cơ nhiễm asen trong nước uống. Có ít nhất 100000 ca bị tổn thương da. Khi sử dụng nước
uống có hàm lượng asen cao trong thời gian dài, dẫn đến rối loạn mạch máu ngoại vi và có triệu
chứng lâm sàng như là chân răng đen. Các ảnh hưởng có hại có thể xuất hiện như yếu chức năng
gan, bệnh tiểu đường, các loại ung thư nội tạng (bàng quang, gan, thận), các loại bệnh về da
(chứng tăng mô biểu bì, chứng tăng sắc tố mô và ung thư da).
Trang 23
Bệnh sạm da, mất sắc tố da, cahi cứng da, và rối loạn tuần hoàn ngoại biên là các triệu
chứng do tiếp xúc thường xuyên với asen. Ung thư da và nhiều ung thư nội tạng cũng do vậy.
Các bênh như tim mạch cũng được phất hiện có lien quan đến thức ăn, nước uống có asen và do
tiếp xúc với asen. Trong nghiên cứu số người dân uống nước có nồng độ asen cao cho thấy, tỷ lệ
ung thư gia tăng theo liều lượng asen và thời gian uống nước.
 Nước nhiễm Crom:
Hợp chất Cr
+
rất độc có thể gây ung thư phổi, gây loét dạ dày,ruột non, viêm gan, viêm
thận, gây độc cho hệ thần kinh và tim…Crom xâm nhập vào nguồn nước từ nước thỉ của các nhà
máy mại điện, nhuộn thuộc da, chất nổ, đò gốm, sản xuất mực viết, mực in, in tráng ảnh…

 Nhóm hợp chất phenol
Phenol và các dẫn xuất phenol có trong nước thải của một số nghành công nghiệp(lọc hoá
dầu, sản xuất bột giấy, nhuộm…). Các hợp chất này làm cho nước có mùi, gây tác hại cho hệ
Trang 24
Hình 10: Ô nhiễm do các chất dinh
dưỡng tại hồ Điền Trì
sinh thái nước, sức khoẻ con người, một số dẫn xuất phenol có khả năng gây ung thư
(carcinogens). TCVN 5942-1995 quy định nồng độ tối đa của các hợp chất phenol trong nước bề
mặt dùng cho sinh hoạt là 0,001 mg/l.
 Nhóm hoá chất bảo vệ thực vật(HCBVTV) hữu cơ.
Hiện nay có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn các loại HCBVTV đang được sản xuất và sử
dụng để diệt sâu, côn trùng, nấm mốc, diệt cỏ. Trong số đó phần lớn là các hợp chất hữu cơ,
chúng được chia thành các nhóm:
• Photpho hữu cơ
• Clo hữu cơ
• Cacbamat
• Phenoxyaxetic
• Pyrethroid
Hầu hết các chất này có độ tính cao đối với con người và động vật. Nhiều nhất trong số đó,
đặc biệt là các clo hữu cơ, bị phân huỷ rất chậm trong môi trường, có khả năng tích luỹ trong cơ
thể sinh vật và con người. Nhiều trong số các
HCBVTV là tác nhân gây ung thư. TCVN 5942-1995 quy định nồmg độ tối đa cho phép của
tổng các HCBVTV trong nước bề mặt là 0,15 mg/l, riêng với DDT là 0,01 mg/l.
 Nhóm hợp chất dioxin.
Nhóm dioxin là hai nhóm hợp chất tạp chất sinh ra trong quá trình sản xuất các hợp chất
clo hoá. Dioxin cũng được tạo thành khi đốt cháy các hợp chất clo hoá ở nhiệt độ thấp (dưới
1000o C). Hai nhóm hóa chất này là polychlorinated dibenzop- dioxins(PCDDs) và
polychlorinated dibenzofurans(PCDFs).
 Nhóm hợp chất polychlorinated biphenyl (PCBs).
PCB là nhóm hợp chất có từ 1 đến 10 nguyên tử clo gắn vào các vị trí khác nhau của phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status