TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 22 - Tháng 8/2014
3
MỤC LỤC
Contents
NGUYỄN ĐỨC HỊA
Tổ chức chiến trường Nam Bộ và lực lượng vũ trang trong kháng chiến
chống Pháp (1945-1954)
Organizing the Southern theater and military forces during the resistance
against the French colonialism (1945-1954) 5
VÕ QUANG MAI
NGUYỄN BÍCH KH
LÊ THỊ NGỌC DIỄM
LÊ NGUYỄN HỒNG KHA
Điều chế quang xúc tác TiO
2
pha tạp Gadolini trên chất mang Bentonite để xử
lí các chất hữu cơ trong nước thải kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè và diệt nấm
mốc, vi khuẩn
Study of the synthesis and photocatalytic activity of gadolinium-doped TiO
2
on
bentonite to decompose organic chemicals in sewage of Nhieu Loc – Thi Nghe
channel and to removal mold, bacteria 13
NGUYỄN ĐĂNG KHOA
Nâng cao chất lượng giáo dục thơng qua phương pháp nghiên cứu tình huống
Improving the quality of higher-education approach through case study method 23
TRẦN QUANG NAM
LÊ NGUYỄN BÌNH MINH
of ACB, VNI IDEX, IR (interests rate) risk compensation and S&P 500 67
NGUYỄN THÙY NƯƠNG
Tìm hiểu về câu phủ định kép trong tiếng Việt
The double negative sentence in Vietnamese 77
PHAN TẤT HIỂN
LÊ KHẮC PHONG
PHAN HUY BẰNG
Mơ hình phân tích số liệu mảng – thực hiện trên phần mềm Stata (Kỳ 1)
Models for analyzing panel data – operating on the Stata software 84
NGUYỄN ÁI QUỐC
Phân loại khái niệm bài tốn trong dạy học Tốn phổ thơng
Categories of problems in Mathematics teaching in High school 93
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 22 - Tháng 8/2014
5
TỔ CHỨC CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ VÀ LỰC LƯỢNG
VŨ TRANG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
NGUYỄN ĐỨC HỊA
(*)
TĨM TẮT
Hưởng độc lập chưa được bao ngày, đồng bào Nam Bộ đã phải đi đầu cả nước trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược.
Chiến trường Nam Bộ được chia làm 3 rồi 2 qn khu và cơ cấu hành chính, qn sự,
chính trị cũng đã được tổ chức lại. Chiến trường Nam Bộ ln có vai trò trọng yếu trong
cuộc kháng chiến chống Pháp. Đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ đã vượt qua những khó khăn
to lớn và đã có nhiều cống hiến cho thắng lợi chung trong cuộc kháng chiến chống Pháp
của dân tộc. Bài viết chỉ tập trung trình bày khái qt về tổ chức chiến trường Nam Bộ và
lực lượng vũ trang cách mạng trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Từ khóa: Nam Bộ, kháng chiến, chiến trường, lực lượng vũ trang
PGS.TS, Trường Đại học Sài Gòn
đối với vùng đất phía Nam và với đất nước
trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Điều đó
giải thích tại sao Pháp chọn tấn cơng Gia
Định (1859) để làm bàn đạp bình định Việt
Nam và tồn bộ Đơng Dương. Ngay sau
khi Cách mạng tháng Tám thành cơng,
thực dân Pháp cũng lại chọn Nam Bộ là
nơi bắt đầu quay trở lại xâm lược Việt
Nam. Nam Bộ là nơi bắt đầu chiến tranh và
cũng là nơi kết thúc oanh liệt thắng lợi
cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
(tháng 4-1975).
6
Nam Bộ là mảnh đất phía Nam của tổ
quốc đi đầu trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp ngay từ 23-9-1945. Ngay
trong ngày 23/9/1945, Xứ ủy và Ủy ban
kháng chiến Nam Bộ với sự tham dự của
các đại biểu như Trần Văn Giàu, Ung Văn
Khiêm, Phạm Ngọc Thạch họp tại đường
Cây Mai - Chợ Lớn (nay là số 627-629
đường Nguyễn Trãi, Quận 1, TP.HCM) xin
phép Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch phát
động nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng
chiến (1). Quyết định của Hội nghị Cây Mai
đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và
Chủ tịch Hồ Chí Minh tán thành; cả nước tổ
chức lực lượng Nam tiến chi viện cho cuộc
kháng chiến của nhân dân Nam Bộ.
vũ khí hiện đại, lại được quân Anh hỗ trợ,
đã chiếm đóng hầu hết các thành phố, thị
xã, vùng nông thôn ở Nam Bộ.
Từ 23-9-1945, cho đến trước 19-12-
1946, quân và dân Nam Bộ đã dũng cảm
chặn bước quân Pháp, và bước đầu làm thất
bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của
chúng. Đó cũng là thời gian quân và dân
Nam Bộ nhanh chóng tổ chức chiến trường
và lực lượng vũ trang kháng chiến.
2. TỔ CHỨC CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ
VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỪ 1945
ĐẾN 1950
Để tổ chức, lãnh đạo cuộc kháng chiến
toàn dân chống thù trong, giặc ngoài (quân
Trung Hoa dân quốc và quân viễn chinh
xâm lược Pháp), cuối năm 1945, cả nước
Việt Nam đã được phân chia thành 12
chiến khu cách mạng. Việc thống nhất các
lực lượng kháng chiến trên chiến trường xa
Trung ương như Nam Bộ là một trong
những nhiệm vụ khó khăn mà Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh cấp bách thực hiện.
Sự phát triển lực lượng vũ trang cách
mạng gắn liền với tổ chức chiến trường
Nam Bộ giai đoạn 1945-1950. Sự phân
chia chiến trường và sự phát triển của lực
lượng vũ trang tập trung ở Nam Bộ diễn ra
từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến
toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 và có
lữ đoàn bảo an binh ở Sài Gòn thành Đệ
nhất sư đoàn, sau đó đổi thành Cộng hòa
vệ binh với số quân khoảng 10.000. Thực
ra vào lúc đó Đảng chỉ nắm chắc được lực
lượng vũ trang của Tổng Công đoàn Nam
Bộ. Khi mới bước vào kháng chiến, các lực
lượng vũ trang Nam Bộ chưa được tổ chức
chặt chẽ. Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và nhiều
cấp ủy địa phương vẫn chưa nắm chắc
được các lực lượng vũ trang (4). Trong giai
đoạn đầu kháng chiến, tài năng và uy tín
của phái viên Nguyễn Bình có vai trò quan
trọng trong việc thu phục, thống nhất các
đơn vị vũ trang cát cứ nằm ngoài sự lãnh
đạo của Đảng trên chiến trường Nam Bộ.
Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam
Bộ đã tạo nên sự phân hóa và là một sự
sàng lọc khắt khe, loại bỏ bớt các phần tử ô
hợp, cơ hội, phản động trong các lực lượng
vũ trang trên. Quá trình đó diễn ra rất mạnh
mẽ, kéo dài cho đến tận cuối năm 1946.
Các đơn vị vũ trang trên chiến trường Nam
Bộ đã dần dần được thống nhất và đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng, làm nòng cốt cho
cuộc kháng chiến toàn dân.
Do các chiến khu chưa nhận được chỉ
thị của Chính phủ VNDCCH, nên Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã cử Nguyễn Bình làm Đặc
phái viên vào Nam Bộ để truyền đạt mệnh
lệnh tổ chức lại lực lượng cách mạng. Phái
2-3 (Bình Xuyên của Dương Văn Dương),
4 (Bình Xuyên của Huỳnh Văn Trí), 6 (Gia
Định), 7 (Bình Xuyên của Mai Văn Vĩnh),
8
8 (Cao Đài, Tây Ninh do Nguyễn Thành
Phương chỉ huy), 9 (Bình Xuyên của Lê
Văn Viễn), 10 (Biên Hòa, Huỳnh Văn
Nghệ và Phan Đình Công chỉ huy), 11 (Tây
Ninh, Trịnh Khánh Vàng và Nguyễn Lê
Uẩn chỉ huy), 12 (Gò Vấp, Hóc Môn, do
Tô Ký và Hoàng Tế Thế chỉ huy), 13
(Công đoàn Sài Gòn), 15 (Chợ Lớn), 16
(Bà Rịa, do Huỳnh Văn Đạo và Hoàng
Tiêu chỉ huy), 21 (Bình Xuyên của Nguyễn
Văn Tỵ), 25 (Bình Xuyên của Nguyễn Văn
Hoạnh). Vũ khí trang bị Khu 7 có hơn
3000 súng các loại (5). Khu 7 có vai trò rất
quan trọng với kháng chiến bao gồm Đông
Nam Bộ, Sài Gòn – Chợ Lớn trực tiếp do
Nguyễn Bình chỉ huy.
Khu 8 do ông Đào Văn Trường làm
Khu trưởng, đồng chí Võ Sĩ làm Chính trị
ủy viên. Khu 8 gồm có 5 tỉnh: Tân An, Mỹ
Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc. Lực
lượng vũ trang tại Khu 8 có các chi đội: 14
(Tân An), 17 (Mỹ Tho), 18 (Sa Đéc), 19
(Bến Tre), 20 (Vĩnh Long). Trang bị của
lực lượng vũ trang Khu 8 có trên 800 súng
các loại.
Khu 9 do ông Hoàng Đình Giong làm
khác trên toàn chiến trường Nam Bộ. Sự
thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ
tạo nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến
toàn dân. Những cuộc tấn công của lực
lượng vũ trang ta đã gây cho quân đội viễn
chinh Pháp những tổn thất nặng nề, như
chính tướng Pháp Raoul Salan đã than thở:
“Bọn phiến loạn được Nguyễn Bình kích
thích, tiếp tục đấu tranh, bất kể hiệp định
(Hiệp định 6/3), chúng hoạt động theo
phép đánh du kích, tiến hành những cuộc
phục kích quy mô hàng trăm tên… gây cho
chúng ta (Pháp) nhiều tổn thất” (7).
Các đội vũ trang non trẻ được tổ chức
lại, chiến đấu chống đội quân đội viễn
chinh Pháp trên chiến trường Nam Bộ.
Quân và dân Nam Bộ đã bền bỉ tiến hành
cuộc chiến đấu ác liệt, tuy không cân sức
nhưng đã cầm chân được đội quân nhà
nghề Pháp suốt từ 23-9-1945 cho đến ngày
toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) trên
chiến trường Nam Bộ. Sự dũng cảm chiến
đấu và hi sinh của quân và dân Nam Bộ
được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao:
“Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này,
đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ
phấn đấu đã lâu, hy sinh rất nhiều…Sự anh
dũng của đồng bào trong đó đã làm gương
9
cho đồng bào toàn quốc noi theo” (8).
lên một bước mới, đẩy mạnh đánh địch ở
khắp các mặt trận, mở một cuộc tổng tiến
công, quấy rối, phong tỏa, phá hoại, đã góp
phần phá các cuộc tiến công của địch trên
các chiến trường Bắc Bộ và Trung Bộ”
[10]. Quân và dân Nam Bộ hoàn thành tốt
chỉ thị của Trung ương khi đã kìm chặt
chân quân Pháp trên địa bàn, không cho
chúng rút những đơn vị tinh nhuệ ra tăng
cường cho các chiến trường khác.
Từ sau thất bại trong chiến dịch Việt
Bắc Thu-Đông 1947 cho đến 1950, thực
dân Pháp ráo riết tập trung binh lực để thực
hiện chính sách bình định, củng cố và mở
rộng vùng tạm chiếm ở đồng bằng Nam
Bộ. Thực dân Pháp ra sức giành dân, bắt
lính và xây dựng nhiều đồn bốt, tháp canh
trong cấu trúc phòng ngự của De Latour để
khống chế các địa bàn trên chiến trường
Nam Bộ.
Bắt đầu từ năm 1948 bộ đội chủ lực
Nam Bộ được phân tán thành các đại đội
độc lập đưa về các địa phương để phát triển
chiến tranh du kích và xây dựng cơ sở cách
mạng. Cùng với cả nước, biến hậu phương
địch thành tiền phương của ta là một thành
công to lớn của quân dân Nam Bộ từ năm
1948 trở đi. Từ 1949 đến đầu 1950, các đại
đội độc lập lại được rút về xây dựng các
trung đoàn chủ lực trên chiến trường Nam
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TÁC CHIẾN
NAM BỘ TỪ SAU THÁNG 5-1951
ĐẾN 1954
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II
(2-1951), cơ quan Trung ương phân cục
miền Nam được thành lập (gọi tắt là Trung
ương Cục miền Nam) tại Nam Bộ. Trung
ương Cục chỉ đạo tổ chức lại chiến trường,
sắp xếp lại lực lượng vũ trang. Chiến
trường Nam Bộ được tổ chức lại cho phù
hợp với yêu cầu mới của cách mạng, nhất là
từ khi Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt
động công khai (2-1951). Tháng 5 năm
1951, các khu ở Nam Bộ được giải thể, các
tỉnh liền nhau nhập lại thành tỉnh mới; Nam
Bộ chia thành Phân liên khu miền Đông,
Phân liên khu miền Tây và Đặc khu Sài
Gòn - Chợ Lớn. Cơ quan Trung ương Cục,
Ủy ban kháng chiến hành chính, Bộ Tư
lệnh Nam Bộ chuyển lên miền Đông, đứng
chân tại chiến khu Dương Minh Châu.
Định hướng cho công tác vùng tạm
chiếm và công tác du kích được đưa ra tại
Hội nghị lần II Ban chấp hành Trung ương
Đảng (27-9 đến ngày 5-10-1951). Vùng
sau lưng địch ở Nam Bộ có ba công tác
chính là dân vận, vận động ngụy binh và
đẩy mạnh chiến tranh du kích, trong đó dân
vận được xác định là gốc của mọi công tác.
Phong trào cách mạng ở Nam Bộ từ sau
trung rất đông trên chiến trường Nam Bộ.
Cho đến năm 1954, hầu hết lực lượng Bình
Xuyên và lực lượng các giáo phái Cao Đài,
Hòa Hảo đều nằm trong lực lượng võ trang
của địch chống lại cách mạng, đưa tổng số
quân tay sai tại Nam Bộ lên tới 19 tiểu
đoàn (13). Do vậy cuộc kháng chiến của
quân và dân ta trên chiến trường Nam Bộ
vẫn diễn ra rất khốc liệt, kể cả sau chiến
thắng Điện Biên Phủ.
Ngay từ đầu năm 1954, trong chỉ thị
cho Trung ương Cục miền Nam, Ban Bí
thư Trung ương Đảng phân tích tình hình,
tương quan lực lượng giữa ta và địch và
cho rằng cuộc kháng chiến ở Nam Bộ “còn
rất khó khăn và lâu dài” và đưa ra chỉ đạo:
“Trong năm 1954, nếu Nam Bộ giữ vững
được thế cầm cự lâu dài với địch không
11
cho chúng thực hiện âm mưu bình định, là
căn bản đã thắng được chúng. Nam Bộ
trong năm 1954 có ba nhiệm vụ chính: 1.
Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích;
2. Củng cố và mở rộng căn cứ; 3. Đẩy
mạnh công tác ngụy vận” (14). Theo chỉ thị
của Đảng, quân và dân Nam Bộ đã rất nỗ
lực khắc phục những sai lầm hữu khuynh
trong các hoạt động trên khắp các chiến
trường từ vùng chiến tranh du kích mạnh,
tới vùng tranh chấp và cho tới vùng bị địch
Qua hai giai đoạn tổ chức và phát triển,
chiến trường Nam Bộ đã hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ của Đảng và của dân tộc.
Quân và dân Nam Bộ vừa tiến hành chiến
tranh du kích, vừa đánh bại các chiến dịch
bình định của thực dân Pháp, đồng thời kìm
chân chúng, không cho chúng chi viện lực
lượng cơ động cho các chiến trường khác.
Sự thay đổi và kiện toàn tổ chức chiến
trường, cũng như lực lượng vũ trang đã
giúp quân và dân Nam Bộ phối hợp nhàng
với các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ, và
toàn chiến trường Đông Dương và đóng
góp to lớn vào những thắng lợi chung
chiến dịch Đông xuân 1953-1954, chiến
dịch Điện Biên Phủ lịch sử, cũng như trong
cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1984) Lịch sử cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945-1954, Tập I, NXB QĐND, Hà Nội, tr.66.
2. Bộ Quốc phòng, Trung tâm từ điển bách khoa Quân sự (2004), Từ điển bách khoa
quân sự Việt Nam, NXB QĐND, Hà Nội, tr.567-568.
3. Bộ Quốc phòng (1990), Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945-1954), Tập 1, NXB
QĐND, Hà Nội, tr.119.
12
4. Bộ Quốc phòng (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập II
13
ĐIỀU CHẾ QUANG XÚC TÁC TiO2 PHA TẠP GADOLINI
TRÊN CHẤT MANG BENTONITE ĐỂ XỬ LÍ CÁC CHẤT HỮU CƠ
TRONG NƯỚC THẢI KÊNH NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ VÀ
DIỆT NẤM MỐC, VI KHUẨN
VÕ QUANG MAI
(*)
NGUYỄN BÍCH KH, LÊ THỊ NGỌC DIỄM
(**)
LÊ NGUYỄN HỒNG KHA
(***)
Tro
TiO
2
gadolini bentonite
pháp sol gel è
, coli .
TiO
2
2
gadolini, quang xúc tác.
ABSTRACT
In this study, we report photocatalytic activity under visible light irradiation of
gadolinium-doped TiO
2
nanoparticles on bentonite prepared by solgel method. Using this
preparation, we performed the decomposition for organic chemicals in sewage of Nhieu
(*)
(**)
(***)
GV, TH
2
TiO
2
ch
2
2
2
2
Trong công trình này, chúng tôi thông
2
nh sáng
.
sol trong su
hình thành và làm già gel.
bentonite
0
khi gel/bentonite hoàn toàn khô.
2
2
2
2
COD
Nghè
không có
tính quang xúc tác.
2
:
TiO
2
16
t l khi lng
TiO
2
: bentonite thích hp là bo
m bentonite không có kh nng hp ph
làm sai lch kt qu thí nghim và s ht
TiO
2
kích thc nanomet khôc gn
lên cht mang bentonite là ít nht
2
2
kích
3.3.
2
2
(mol/mol) phù
3.4. Khảo sát sự tạo thành và phân hủy
gel TiO
2
– Gd bằng giản đồ phân tích nhiệt
trọng lượng (TGA) để điều chế vật liệu
2
2
0
17
Hình 3.
2
0
hình thành TiO
2
0
0
2
2
l
nghim khác đc gi nh trên
Hình 5.
phút.
19
hp
2
3.8. Khảo sát khả năng phân hủy
metylen xanh của vật liệu TiO
2
g
2
2
(sau 1,5 ngày)
2
TiO
2
quang xúc tác.
3.10. Khảo sát kích thước hạt của vật
liệu TiO
2
pha tạp Gd và TiO
2
pha tạp Gd
gắn vào chất mang bentonite bằng ảnh SEM
20
Hình 6a
2
Hình 6b
2
Gd
2
và TiO
2
-
tia X
2
2
00
2 25,36 27,46
có
2
2
CH
3
COOH và C
2
H
5
OH
3 2 5
TTIP CH COOH C H OH
n : n : n 1:6:10
,
2
500
o
photobiology A: Chemistry, Vol 148, pp.169-176.
2. E. D. Jeong, Pramod H. Borte, J. S. Jang, J. S. Lee, Jung OK-sang, H. Chang, J. S. Jin,
-doped
TiO
2
250-253.
3. Hoàng Thanh Thúy (2011), N
2
4.
tính TiO
2
chí -
28.
5.
-
124.
22
6. phát
164 168.
7.
2
Keywords: Improving the quality of higher-education, case study method.
1. MỞ ĐẦU
(*)
Trong xã hội Việt Nam hiện nay, giáo
dục đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong việc cung cấp nguồn lao động chất
lượng cao cho xã hội để kịp thời đáp ứng
nhu cầu của đất nước. Mặc dù lực lượng
sinh viên được đào tạo và tốt nghiệp ngày
một tăng nhanh, nhưng vấn đề gặp phải là
hầu hết sinh viên trong q trình học tập ít
được tiếp cận với kiến thức thực tế cũng
như tham gia thảo luận những vấn đề đã và
đang diễn ra ở các doanh nghiệp hay thực
trạng của xã hội. Chính vì lý do đó, việc
xây dựng những bài tập nghiên cứu tình
huống (NCTH – Case study) là việc hết
sức cần thiết nhằm gắn liền việc học lý
thuyết và thực tiễn xã hội trong cơng tác
dạy và học. (*)
TS, Trường Đại học Sài Gòn
2. NỘI DUNG
2.1. Khái niệm về NCTH
Theo Gill [1], ứng dụng phương pháp
nghiên cứu tình huống trong giảng dạy
trong nhóm làm việc và kể cả trực tiếp với
giảng viên hướng dẫn. Bên cạnh đó, việc
giải quyết tình huống đòi hỏi sinh viên phải
vận dụng kiến thức đã có cùng với tài liệu
tham khảo để tìm ra hướng giải quyết tối
ưu. Không chỉ vậy, quá trình tư duy, tranh
luận giúp sinh viên nhận thức một cách đầy
đủ những nội dung được học không chỉ qua
lý thuyết, nội dung mà còn trực tiếp tìm
hiểu, phân tích và tìm giải pháp.
c) Nâng cao kỹ năng mềm của
sinh viên
NCTH theo nhóm còn giúp nâng cao
kỹ năng làm việc tập thể, quản lý và kỹ
năng hùng biện, trình bày nhằm bảo vệ
quan điểm cá nhân cũng như khả năng
phản biện những ý kiến từ đám đông. Một
nhóm làm việc sẽ có trung bình từ 5-8 sinh
viên, mỗi nhóm sẽ phải đề xuất và chọn ra
cho mình những vị trí phù hợp với thế
mạnh từng người chẳng hạn như nhóm
trưởng, thư ký, và những người đóng góp ý
kiến, người trình bày, sau khi thống nhất
giải pháp, nhóm sẽ trình bày trước cả lớp
dưới sự kiểm soát của giảng viên. Trong
quá trình này, sinh viên sẽ được trải
nghiệm thực thế khả năng làm việc của
mình, tính đồng đội, gắn kết, khả năng xử
lý mâu thuẫn nội bộ cũng như điều phối
hoạt động để đạt được hiệu quả tối ưu. Hơn
viên là rất cần thiết nhằm gắn liến với nhu
cầu học tập, phát huy kỹ năng và phong
phú nội dung giáo trình dạy và học. Theo
Phùng Xuân Nhạ [3] và tác giả Thu Hòe
[5] cũng đã nêu lên vấn đề các doanh
nghiệp cho rằng giáo dục đại học còn nặng
lý thuyết “sách vở” và thiếu tính thực tiễn.
Những tình huống sẽ được các giảng
viên ngành quản trị kinh doanh tình nguyện
tham gia và xây dựng. Các tình huống
25
được xây dựng có thể dựa trên các vấn đề
mà những doanh nghiệp đang gặp phải cần
tìm hướng giải quyết hoặc những tình
huống đã được giải quyết nhưng vẫn chưa
đạt hoặc đã đạt được kết quả mong đợi.
Một số doanh nghiệp nhận thấy việc hỗ trợ
giảng viên xây dựng bài tập NCTH cũng
giúp họ có cái nhìn mới hơn về cách xử lý
mới mẻ và đa dạng dưới cái nhìn của sinh
viên, mà qua đó ngay cả doanh nghiệp đã
hay đang tìm hướng giải quyết cho vấn đề
mình mắc phải. Chính vì lẽ đó có rất nhiều
doanh nghiệp đã tham gia hỗ trợ xây dựng
các bài tập tình huống cho sinh viên cũng
để thương hiệu của họ có điều kiện tiếp cận
với sinh viên.
2.4. Bài tập NCTH nên được xây
dựng thỏa mãn những yếu tố sau để trở
thành một bài tập NCTH có hiệu quả
có thể trực tiếp tìm hiểu và viết tình huống
dưới sự hỗ trợ của doanh nghiệp.
- Bước 4: Vận dụng tình huống vào
giảng dạy. Việc này đòi hỏi giảng viên phải
có một kết luận khái quát về tình huống
đưa ra để có thể đánh giá chất lượng giải
quyết tình huống của sinh viên.
3. KẾT LUẬN
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của việc
tự chủ và tính sáng tạo trong học tập,
phương pháp vận dụng tình huống trong
giảng dạy thúc đẩy sự chủ động của sinh
viên và kích thích tư duy sáng tạo, tìm tòi
nghiên cứu. Một trong những nhiệm vụ của
giáo dục Đại học chính là việc đáp ứng
được nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp
hiện đại, việc áp dụng NCTH trong công
tác giảng dạy dần trở thành một nhu cầu tất
yếu để nâng cao các kỹ năng mà sinh viên
còn khiếm khuyết trong quá trình học.