BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN SLGP
BỘ TÀI LIỆU ĐÀO TẠO
“LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG”
ĐƠN VỊ THỰC HIỆN :
Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI)
liên danh với
Bộ môn Kinh tế Phát triển – Đại học KTQD
Hà nội, 05 - 2007
1
MỤC LỤC
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU............................................................4
PHẦN I:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG .................................................................6
CHƯƠNG I:
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG............................................................................................................................7
I.1. BẢN CHẤT CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG...........................................................................................................................7
I.2. CÁC CHỨC NĂNG CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG.................................................................................................................15
I.3. CÁC NGUYÊN TẮC CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG.................................................................................................................16
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG.............................................................................23
II.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG?..............................................................................................23
II.2. QUY TRÌNH TỔNG QUÁT LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
VII.1. PHƯƠNG ÁN KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC .....................................................100
VII.1. HÌNH THÀNH CÁC PHƯƠNG ÁN KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC .................101
VII.2. ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG ÁN CHIẾN LƯỢC..............................................102
VII.3. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN CHIẾN LƯỢC......................................................104
CHƯƠNG VIII
LẬP KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG VÀ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN.......................................................................................................106
VIII.1. SỰ CẦN THIẾT LẬP KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG VÀ TỔ CHỨC THỰC
HIỆN..............................................................................................................................106
VIII.2. LẬP KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG......................................................................108
VIII.3. LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN ....................................................111
CHƯƠNG IX
LẬP KẾ HOẠCH THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
ĐỊA PHƯƠNG........................................................................................................................115
IX.1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THEO DÕI VÀ ĐÁNH GÍA ..................................115
IX.2. CHỈ SỐ THEO DÕI ĐÁNH GIÁ.........................................................................118
IX.3. LẬP KẾ HOẠCH THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ..................................................121
PHẦN III:
CÁC CÔNG CỤ HỖ TRỢ QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
ĐỊA PHƯƠNG..............................................................................................163
CHƯƠNG X
CÁC CÔNG CỤ HỖ TRỢ QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐỊA
PHƯƠNG.................................................................................................................................163
X.1. MỘT SỐ CÔNG CỤ LẬP KẾ HOẠCH CÓ SỰ THAM GIA.............................163
X.2. PHÂN TÍCH MA TRÂN SWOT TRONG LẬP KẾ HOẠCH ĐỊA PHƯƠNG...168
X.3. SỬ DỤNG CÂY VẤN ĐỀ VÀ CÂY MỤC TIÊU TRONG XÁC ĐỊNH MỤC
TIÊU KẾ HOẠCH.........................................................................................................179
X.4. CÁC CÔNG CỤ XÂY DỰNG VÀ ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG ÁN CHIẾN LƯỢC185
phương.
Câu hỏi tự kiểm tra ở cuối mỗi phần sẽ giúp anh (chị) rà soát
lại xem thực sự mình đã hiểu rõ các nội dung quan trọng của phần đó, đồng
thời cũng là cơ hội để thử vận dụng vào tình huống thực tể của chính mình
hoặc địa phương mình.
Anh (chị) sẽ hoàn toàn tự tin làm chủ được việc lập kế hoạch chiến
lược phát triển kinh tế địa phương sau khi đã đọc và hiểu thấu đáo nội dung
của tài liệu này.
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẬP KHCL PTKT ĐỊA PHƯƠNG
Chúc anh (chị) thành công với cuốn tài liệu này.
5
PHẦN I:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA
PHƯƠNG
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẬP KHCL PTKT ĐỊA PHƯƠNG
CHƯƠNG I:
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
Mục đích của chương:
Nhằm thuyết phục người đọc rằng: Nền kinh tế thị trường vẫn rất cần
công cụ kế hoạch. Tuy vậy, kế hoạch trong nền kinh tế thị trường phải là một
kế hoạch kiểu mới khác hẳn với kiểu kế hoạch trong cơ chế ktập trung mệnh
lệnh. Chương này sẽ giới hiệu sự khác biệt của kế hoạch kiểu mới so với kiểu
truyền thống là gì? các chức năng và nguyên tắc của kế hoạch trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập toàn cầu.
I.1. BẢN CHẤT CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I.1.1. Tại sao trong nền kinh tế thị trường vẫn cần kế hoạch?
trường
I.1.1.3.1. Kế hoạch với chức năng điều chỉnh thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, luôn tồn tại 2 công cụ điều tiết là thị
trường và kế hoạch. Thị trường đóng vai trò điều tiết nền kinh tế có nhiều ưu
điểm, nó bảo đảm cho sản xuất bảo đảm hiệu quả tài chính cao, là cơ sở cho
sự lựa chọn và phân bổ nguồn lực tối ưu cho các hoạt động sản xuất và tiêu
dùng. Tuy vậy, nó cũng có nhiều khuyết tật và trở nên bất lực trong nhiều
trường hợp. Kế hoạch với tư cách là công cụ thứ hai điều tiết nền kinh tế thị
trường, không tìm cách thay thế thị trường mà ngược lại nó bổ sung cho thị
trường, bù đắp các khiếm khuyết của thị trường, hướng dẫn thị trường và bảo
đảm sự vận hành của thị trường luôn tương xứng với sự liên kết xã hội của
đất nước.
Hộp 1.1. Phân định sân chơi giữa kế hoạch với thị trường
Phương án tối ưu thể hiện sự phân công chức năng quản lý giữa kế hoạch với
thị trường là: thị trường điều tiết sản xuất còn kế hoạch sẽ điều tiết thị trường.
Kế hoạch đóng vai trò tổ chức tốt sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
thị trường
.
I.1.1.3.2. Kế hoạch là công cụ huy động và phân bổ nguồn lực khan hiếm của
địa phương nhằm thực hiện các mục tiêu ưu tiên
Các địa phương cũng như trên phạm vi cả nước, luôn nằm trong tình
trạng khan hiếm nguồn lực, nhất là: vốn, lao dộng có tay nghề và công nghệ
kỹ thuật tiên tiến. Nếu cứ để thị trường điều tiết, các nguồn lực này sẽ hướng
vào việc sản xuất các hàng hoá nhiều lợi nhuận và mang tính trước mắt, ngắn
hạn, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu của những người giàu trong xã hội, đó là
những hàng hoá xa xỉ. Các nguồn lực không thể huy động được vào những
vùng sâu, vùng xa hoặc hoạt động trong những lĩnh vực mà xã hội cần có. Vì
vậy, nếu các nguồn lực khan hiếm được phân bổ theo kế hoạch, nó sẽ bảo
đảm hướng được vào các vấn đề mang tính bức xúc mà xã hội cần có, hướng
vào người nghèo và những tầng lớp yếu thế trong xã hội; các nguồn lực khan
một KHPT toàn diện càng nhiều bao nhiêu thì mong muốn của các địa
phương về việc tìm kiến nguồn vốn từ bên ngoài càng nhiều bấy nhiêu. Thực
tế qua Hội nghị các nhà tài trợ vừa qua đã cho thấy, nhờ Chính phủ Việt Nam
đã có một lộ trình rõ ràng và thể hiện rõ quyết tâm trong cải cách bộ máy
hành chính nên Việt Nam đã nhận được sự cam kết tài trợ lớn nhất từ trước
đến nay từ cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế.
Hộp 1.2 Vai trò của Kế hoạch trong nền kinh tế thị trường
Kế hoạch đóng vai trò là một trong những công cụ tổ chức tổt sự can thiệp
của chính phủ vào nền kinh tế thị trường, để làm cho sự can thiệp ấy chắc
chắn khắc phục được các khuyết tật của thị trường và không làm nảy sinh
những hậu quả phụ ngoài ý muốn.
I.1.2. Sự khác nhau giữa kế hoạch trong cơ chế thị trường và kế hoạch
trong cơ chế bao cấp
Dù trong bất kỳ cơ chế nào, nếu còn Chính phủ và Chính phủ vẫn còn
vai trò điều tiết nền kinh tế vì lợi ích chung của xã hội thì Chính phủ vẫn phải
sử dụng kế hoạch như một công cụ quản lý. Chính phủ nào biết phát huy sức
mạnh của công cụ này thì càng có khả năng tận dụng hết các nguồn lực hiện
có để phát triển KTXH trên địa bàn. Tuy nhiên, khi cơ chế kinh tế thay đổi thì
bản chất, nội dung và phương pháp kế hoạch cũng phải có sự đổi mới tương
ứng.
I.1.2.1. Sự khác biệt về bản chất
Xét về bản chất, kế hoạch là thể hiện sự can thiệp của Chính phủ vào
nền kinh tế nhằm định hướng phát triển và điều khiển sự biến đổi một số biến
số KTXH chủ yếu để đạt được mục tiêu đã định trước. Biểu hiện cụ thể của
bản chất này trước hết thể hiện ở một loạt các mục tiêu KTXH cần đạt được
trong một khoảng thời gian đã định sẵn; kế tiếp là cách thức tác động, hướng
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẬP KHCL PTKT ĐỊA PHƯƠNG
Kế hoạch trong nền kinh
tế kế hoạch hóa tập
trung mang tính cưỡng
Kế hoạch mang tính chủ quan
duy ý chí: xuất phát từ ý
muốn chủ quan của nhà nước,
không căn cứ vào tiềm lực
thực tế và không gắn với nhu
cầu thực sự của nền kinh tế
quốc dân
Kế hoạch gắn với thị trường: định
hướng sự phát triển dựa trên cơ sở
đánh giá đúng thực trạng (=> khả
thi), nhận thức được qui luật (=>
khoa học), nắm bắt được nhu cầu
(=> thực tiễn), vì thế => vững chắc
hơn
Kế hoạch thay thế cho thị
trường, vì sự tồn tại của thị
trường sẽ phá vỡ những cân
đối cứng mà kế hoạch đã đề
ra.
Kế hoạch bổ sung hỗ trợ cho thị
trường: thị trường chỉ giải quyết
vấn đề ngắn hạn, riêng lẻ, vì lợi ích
cục bộ. Kế hoạch có cái nhìn dài
hạn, mang tính đón bắt, vì lợi ích
chung, toàn cục.
Kế hoạch mang tính mệnh
lệnh: giao chỉ tiêu và cấp phát
Kế hoạch mang tính định hướng:
Hoạt động như bộ khung làm cơ sở
Chương I: Kế hoạch phát triển trong nền kinh tế thị trường
trong từng ngành, từng địa phương sang cơ chế kế hoạch theo chương trình
mục tiêu với sự kết hợp hài hoà giữa các ngành, các vùng, cả bên trong lẫn
bên ngoài theo hướng tối ưu hoá và hiệu quả các hoạt động KTXH.
I.1.2.2. Sự khác biệt về hệ thống chỉ tiêu kế hoạch
Hệ thống chỉ tiêu trong KHPT là thước đo nhiệm vụ và nội dung phát
triển KTXH của đất nước trong thời kỳ kế hoạch và được sử dụng để thực
hiện hành vi điều tiết vĩ mô của nhà nước.
Hệ thống chỉ tiêu KHPT được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, có
chức năng và tác dụng phản ánh tính định lượng riêng biệt. Hệ thống chỉ tiêu
kế hoạch trong nền kinh tế thị trường có những sự khác biệt đáng kể so với
cơ chế cũ, xét ở từng góc độ khác nhau.
I.1.2.2.1. Theo góc độ nội dung kế hoạch
Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch được phân thành:
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẬP KHCL PTKT ĐỊA PHƯƠNG
Dưới góc độ nội dung,
hệ thống chỉ tiêu kế
hoạch bao gồm các chỉ
tiêu kinh tế, chỉ tiêu xã
hội và chỉ tiêu lồng
ghép.
Phần I: Giới thiệu chung về lập KHCL PTKT địa phương
Các chỉ tiêu kinh tế. Hệ thống này bao gồm các mục tiêu về kinh tế cần
đạt được như tốc độ tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu ngành, các mục
tiêu phát triển vùng và các chỉ tiêu mang tính chất biện pháp như các yếu tố
nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng, các cân đối vĩ mô chủ yếu cần duy trì
trong thời kỳ kế hoạch.
Các chỉ tiêu xã hội bao gồm các chỉ tiêu về nâng cao phúc lợi xã hội,
mức sống đân cư, các chỉ tiêu chất lượng cuộc sống, môi trường tự nhiên và
xã hội, chỉ tiêu xoá đói giảm nghèo (XĐGN), công bằng xã hội v.v...
Các chỉ tiêu lồng ghép các vấn đề xã hội trong phát triển kinh tế. Theo
hệ thống các chỉ tiêu pháp lệnh. Tuy vậy, xuất phát từ bản chất của kế hoạch
Dưới góc độ tính chất
quản lý, hệ thống chỉ
tiêu kế hoạch bao gồm
chỉ tiêu pháp lệnh, chỉ
tiêu hướng dẫn và chỉ
tiêu dự báo.
Chương I: Kế hoạch phát triển trong nền kinh tế thị trường
phát triển là tính thuyết phục gián tiếp nên quá trình hoàn thiện nó là quá
trình chuyển dần từ kế hoạch theo chỉ tiêu pháp lệnh sang kế hoạch bằng hệ
thống các chỉ tiêu hướng dẫn và các chỉ tiêu mang tính dự báo. Điều đó bảo
đảm cho kế hoạch thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, điều tiết thị trường và
được tiếp cận theo hướng từ trên xuống.
I.1.2.2.3 . Theo góc độ hình thái biểu hiện
Chỉ tiêu kế hoạch được được chia thành các cặp sau đây:
Chỉ tiêu giá trị và chỉ tiêu hiện vật. Các chỉ tiêu hiện vật xác định mặt
vật chất của nền kinh tế. Nó đưa ra khả năng thiết lập mối quan hệ trực tiếp
giữa khối lượng sản xuất với khối lượng nhu cầu sản xuất sản phẩm. Các chỉ
tiêu giá trị đo lường kết quả tổng hợp của quá trình tái sản xuất như: GDP,
GNP, lợi nhuận, tiền công, giá trị vốn sản xuất. Mặt khác, sự liên kết giữa các
phần của mục tiêu vĩ mô cũng được thể hiện bằng các chỉ tiêu giá trị như tốc
độ tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu trong cân đối vĩ mô, xu hướng phát triển
của các ngành, vùng, khả năng chuyển dịch cơ cấu.
Theo cách hiểu như trên, các chỉ tiêu hiện vật là đặc trưng của kế
hoạch tập trung vì trong cơ chế này, kế hoạch cần phải được giao đầy đủ, chi
tiết và trở thành pháp lệnh của các ngành, các địa phương. Kế hoạch trong
nền kinh tế thị trường với chức năng là công cụ điều tiết vĩ mô và định hướng
phát triển thì các chỉ tiêu giá trị trở nên phù hợp hơn và có giá trị cao hơn.
Một trong những nội dung đổi mới kế hoạch của Việt nam là chuyển trung
tâm từ kế hoạch bằng hiện vật sang kế hoạch bằng các chỉ tiêu giá trị, đề cao
- Quy trình xây dựng kế hoạch hiện nay được đổi mới dựa trên nền
tảng: kế hoạch của địa phương hay của ngành là kế hoạch mang tính độc lập,
không phải là cụ thể hoá phần việc mà địa trung ương cho mình mà nó là kế
hoạch của địa phương, do địa phương xây dựng và để thực hiện tại địa
phương. Hiện nay, quy trình xây dựng kế hoạch địa phương nằm trong khuôn
khổ quy trình lập kế hoạch quốc gia như sau:
+ Bước 1: Trên tầm vĩ mô, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) xây
dựng khung định hướng phát triển kinh tế của quốc gia, trong đó bao
gồm: Tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành, tốc độ tăng trưởng kinh
tế của ngành, mục tiêu về phát triển các lĩnh vực xã hội và môi trường,
xác định các cân đối lớn như: Vốn đầu tư, ngân sách, cân đối thanh toán
quốc tế, cân đối xuất - nhập khẩu, cân đối vật tư, hàng hoá v.v... và hệ
thống các giải pháp thực hiện.
+ Bước 2: Sau khi tính toán tổng thể, Bộ KHĐT sẽ tổ chức hội
nghị phổ biến khung định hướng cho các địa phương và những thông
tin cần thiết để các địa phương trên cơ sở đó đánh giá lại nguồn lực phát
triển của mình mà xây dựng KHPT của ngành và địa phương mình.
+ Bước 3: Các địa phương xây dựng kế hoạch của địa phương
mình căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, những mục tiêu cần
phấn đấu của địa phương và những đề xuất của các tổ chức cộng đồng.
+ Bước 4: Các địa phương gửi kế hoạch của mình cho Bộ
KHĐT và trên cơ sở đó Bộ KHĐT sẽ tổng hợp, phân tích, lựa chọn các
phương án tối ưu để hoàn thành kế hoạch toàn diện, báo cáo và trình
Quốc hội.
Để bảo đảm kịp thời về tiến độ, bước 3 có thể làm trước, đồng thời
cùng với các bước 1, 2 để sau khi có các thông tin từ phía Bộ KHĐT thì quá
trình xây dựng kế hoạch ở các địa phương có thể thực hiện được nhanh
chóng. Một trong những thuận lợi cho việc địa phương chủ động tiến hành
Bước 3 trước là hiện nay, quá trình đẩy mạnh phân cấp quản lý, đặc biệt là
quản lý ngân sách theo tinh thần Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm
trường. Biểu hiện của chức năng này là:
- Kế hoạch phải thể hiện được những định hướng phát
triển chung của toàn bộ nền kinh tế địa phương. Hệ thống chính sách, ngân
sách đi kèm phải đảm bảo sự nhất quán với định hướng chung đó, đồng thời
tạo những đòn bẩy cần thiết để khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ các
thành phần kinh tế cùng vận động theo định hướng chung.
- Chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bằng các
chỉ tiêu pháp lệnh sang giám sát và quản lý các chỉ tiêu chủ yếu ở tầm vĩ mô,
và các chỉ tiêu này chỉ mang tính định hướng, không cứng nhắc và áp đặt. Vì
thế, để các thành phần kinh tế khác trong kinh tế địa phương đồng thuận theo
định hướng chung, thu hút sự tham gia của họ ngay từ khi xây dựng kế hoạch
là một yêu cầu mang tính nguyên tắc.
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẬP KHCL PTKT ĐỊA PHƯƠNG
KHPT trong nền kinh tế
thị trường có chức năng:
(i) Ổn định hóa nền kinh
tế vĩ mô; (ii) Định hướng
phát triển KTXH; và (iii)
Kiểm tra, theo dõi các
hoạt động KTXH.
Phần I: Giới thiệu chung về lập KHCL PTKT địa phương
I.2.3. Kiểm tra, theo dõi hoạt động kinh tế - xã hội
- Công tác kế hoạch hoá không chỉ dừng lại ở việc xây
dựng và thực hiện kế hoạch, mà còn phải kiểm tra, theo dõi quá trình thực
hiện kế hoạch, từ đó đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện qui
trình kế hoạch tiếp theo.
- Chính phủ sử dụng các cơ quan chức năng tiến hành
theo dõi, kiểm tra thường xuyên tình hình thực hiện tiến độ kế hoạch, kịp thời
điều chỉnh khi có những yếu tố mới xuất hiện, đồng thời xây dựng hệ thống
theo dõi, đánh giá (TDĐG) hiệu quả và hiệu lực để đo lường mức độ đạt
kế hoạch hoá thể hiện ở
sự kết hợp hài hòa giữa
định hướng từ trên
xuống và nhu cầu từ
dưới lên.
Chương I: Kế hoạch phát triển trong nền kinh tế thị trường
- Tăng cường phân cấp cho địa phương trong lập kế hoạch và sử dụng
ngân sách
- Mở rộng tính dân chủ trong sự tác động qua lại trong quá trình xây
dựng và thực hiện kế hoạch.
I.3.1.2 Nguyên tắc thị trường
- Nguyên tắc này đòi hỏi kế hoạch không tìm cách thay thế thị trường mà
phải bổ sung cho thị trường, bù đắp các khuyết tật của thị trường, hướng dẫn
thị trường và đảm bảo sự vận hành của thị trường phù hợp với mục tiêu xã
hội đã đề ra.
- Tôn trọng các qui luật của thị trường và quyền sở hữu tư nhân. Không
can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tranh thủ
tối đa sự điều tiết bằng cách sử dụng các công cụ của thị trường. Mọi can
thiệp mang tính bắt buộc đều phải trên cơ sở tuân thủ luật pháp hiện hành.
I.3.1.3 Nguyên tắc linh hoạt mềm dẻo
- Kế hoạch phải xây dựng được nhiều phương án (kịch bản) phát triển,
tương ứng với các giả định nhất định về các điều kiện trong hiện tại và tương
lai.
- Kế hoạch đã xây dựng phải linh hoạt điều chỉnh theo sự thay đổi của
các biến số đã giả định. Chỉ tiêu kế hoạch nên xác định trong một khoảng chứ
không phải một con số cứng nhắc. Coi việc xác định các chỉ tiêu tương đối
phản ánh xu thế quan trọng hơn các chỉ tiêu tuyệt đối.
I.3.1.4. Nguyên tắc bền vững
Kế hoạch xây dựng phải đảm bảo tính bền vững, thể hiện trên ba khía
cạnh:
I.3.2. Các nguyên tắc đặc thù cho giai đoạn hiện nay
I.3.2.1. Lồng ghép các mục tiêu của Chiến lược toàn diện về tăng trưởng
và giảm nghèo (CPRGS) vào KHPT KTXH 5 năm
CPRGS nhấn mạnh đến những điều kiện tiên quyết như sau trong
công tác lập KHPT KTXH:
- Nắm vững những đặc điểm về tình hình tăng trưởng và tình hình nghèo
đói ở địa phương
- Lựa chọn các mục tiêu phát triển phù hợp
- Lấy ý kiến tham gia của tất cả các bên liên quan
- Lựa chọn chính sách nhằm đạt được mục tiêu và chỉ tiêu đề ra
- Phân bổ nguồn lực cho các chính sách đó
- Đánh giá tiến độ thực hiện tiến tới đạt được mục tiêu phát triển
- Lặp lại quy trình
Lồng ghép những nguyên tắc của CPRGS trong lập KHPT KTXH đã
được triển khai từ năm 2003 đến nay. Những kinh nghiệm cho thấy những
chuyển hướng tích cực trong quá trình đổi mới kế hoạch hoá là đáng ghi
nhận. Ví dụ sau liên quan tới quá trình xây dựng kế hoạch địa phương:
Bảng 1.2. Xây dựng kế hoạch địa phương trong quá trình chuyển đổi
Qui trình lập kế
hoạch phát triển
địa phương
Chuyển đổi từ Sang
Qui trình chung o Là một qui trình từ
trên xuống và không
có hoặc có ít sự chủ
động của chính quyền
địa phương vào qui
trình lập kế hoạch và
các quyết định đầu tư
có rất ít sự tham gia
o Phân tích tiềm năng
tăng trưởng kinh tế
không tính đến sự
phân tích kinh tế
mang tính phù hợp (ví
dụ: lợi thế cạnh tranh)
o Tăng trưởng và nghèo
đói không được liên
kết với nhau.
tra bổ trợ và bổ sung
khác.
o Có sự liên kết giữa
tăng trưởng và xoá đói
giảm nghèo với sự
phân tích kinh tế theo
hướng thị trường.
Thiết lập mục tiêu
và thứ tự ưu tiên
o Không cụ thể và liên
kết chặt với các
nghiên cứu, các vấn
đề - phương án lựa
chọn được cập nhật
hàng năm thường là
sự chắp nhặt của các
vấn đề.
o Mục tiêu được xác
định thông qua quá
trình tham gia, dựa vào
sự phân tích vấn đề và
Phân tích nguồn
lực tài chính
o Còn hạn chế hoặc
không có sự gắn kết
giữa kế hoạch và
nguồn lực tài chính
bao gồm các nguồn
trong và ngoài ngân
sách như: nguồn vốn
doanh nghiệp, ngân
o Có sự gắn kết chặt chẽ
giữa các nguồn lực tài
chính đặc biệt là nguồn
ngân sách với kế hoạch
o Quản lý phân bổ, sử
dụng các nguồn lực tài
chính theo kết quả hoạt
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẬP KHCL PTKT ĐỊA PHƯƠNG
Phần I: Giới thiệu chung về lập KHCL PTKT địa phương
hàng, đóng góp nhân
dân, của các nhà tài
trợ.
o Còn hạn chế hoặc
không có sự phân bổ
phù hợp nguồn lực tài
chính với nhu cầu
đích thực.
o Ngân sách còn quản
lý theo đầu vào chưa
quản lý theo kết quả
o Thí điểm gắn kết với
các mục tiêu đã được
xác định và các đặc
tính trong quy trình lập
kế hoạch.
Sự tham gia của
các bên liên quan
o Sự tham gia của người
dân và của các tổ chức
quần chúng còn hạn
chế
o Sự tham gia của các
bên là yếu tố then chốt
trong tất cả các giai
đoạn của quá trình đổi
mới kế hoạch.
Chương I: Kế hoạch phát triển trong nền kinh tế thị trường
I.3.2.2. Lồng ghép vấn đề giới và dân tộc trong lập kế hoạch KTXH
I.3.2.2.1. Yếu tố giới và dân tộc trong KHPT KTXH là gì?
Giới là nói đến tương quan giữa nam và nữ trong việc tham gia và
hưởng thụ các thành quả từ sự phát triển KTXH. Yếu tố dân tộc là nói đến cơ
hội và sự phát triển của các dân tộc thiểu số trong tương quan với người
Kinh. Trong kế hoạch, lồng ghép giới có nghĩa là đảm bảo phụ nữ và nam
giới được tham gia và hưởng thụ bình đẳng từ việc xây dựng, thực hiện và
giám sát các KHPT KTXH. Lồng ghép yếu tố dân tộc có nghĩa là đảm bảo
cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các nhóm ở vùng sâu, vùng xa có cơ hội
tham gia và được hưởng thụ một cách công bằng kết quả phát triển KTXH ở
mỗi địa phương.
I.3.2.2.2. Tại sao yếu tố giới và dân tộc cần được lồng ghép trong kế hoạch
KTXH?
dưỡng và tăng số năm đi học của trẻ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với
vùng dân tộc thiểu số, nơi các chỉ số phát triển nhìn chung còn thấp so với
người Kinh. Xây dựng kế hoạch có tính đến việc đầu tư tích cực cho các dịch
vụ cơ bản như phổ cập giáo dục tiểu học, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, giảm
tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng của trẻ em; nâng cao đời sống và
bảo tồn văn hoá đồng bào dân tộc ít người sẽ góp phần quan trọng nâng cao
khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực trong tương lai – một yếu tố quyết
định sự phát triển bền vững ở mỗi địa phương.
Câu hỏi tự kiểm tra
Tại sao nền kinh tế thị trường vần cần có kế hoạch? Nêu 5 điểm mà anh
(chị) cho là sự khác biệt lớn nhất giữa kế hoạch trong cơ chế kế hoạch hóa
tập trung mệnh lệnh với kế hoạch trong cơ chế thị trường.
Anh (chị) hãy lấy từ bản kế hoạch mới nhất của địa phương và tự đánh giá
xem, với 5 điểm khác biệt cơ bản đó thì bản kế hoạch của địa phương vẫn
mang dáng dấp của kiểu kế hoạch nào nhiều hơn?
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG
Mục đích của chương
Giúp người đọc trả lời các câu hỏi chính: Lập kế hoạch chiến lược
phát triển kinh tế địa phương là gì? Cách lập này có gì khác với lập kế hoạch
theo phương pháp truyền thống? Tại sao các địa phương lại phải chuyển đổi
sang lập kế hoạch chiến lược? Những tác dụng và khó khăn của việc chuyển
sang lập kế hoạch chiến lược là gì? Chương này cũng giúp người đọc có
cách nhìn hệ thống và tổng quan về quy trình lập kế hoạch chiến lược phát
triển kinh tế địa phương.
II.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG?
II.1.1. Khái niệm
II.1.1.1. Khái niệm phát triển kinh tế địa phương
Lập KHCL PTKTĐP là quá trình hình thành viễn cảnh, soạn thảo các
mục tiêu, trong đó tập trung chủ yếu vào mục tiêu ưu tiên và tìm kiếm giải
pháp PTKTĐP trong tương lai dài, theo hướng có hiệu quả và thích nghi
nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường.
Như vậy, lập KHCL là quá trình tổng hợp bao gồm các phân tích đánh
giá, lựa chọn để tạo dựng khung hướng dẫn chung cho hành động của địa
phương trong tương lai về: phương pháp xác định mục tiêu, lựa chọn mục
tiêu ưu tiên, đưa ra những cách thức phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách
có hiệu quả để thực hiện mục tiêu đặt ra. Để làm được điều đó, quá trình lập
KHCL là một lộ trình có sự tham gia cuả nhiều bên, từ việc xác định thực
trạng của vấn đề là ta đang ở đâu, cho tới việc xác định các mục tiêu chúng ta
muốn đạt tới trong tương lai. Lập KHCL là những nỗ lực để đưa ra các quyết
định với sự chọn lựa tốt nhất các giải pháp và hành động để đạt được mục
tiêu.
Khi KHCL phải trả lời được 4 câu hỏi sau đây:
- Ta đang ở đâu?
- Ta muốn đi đến đâu?
- Làm thế nào để đi đến đó với hiệu quả cao nhất và bền vững nhất?
- Làm cách nào ta biết mình đi đến đó đúng hướng?
Như vậy, lập KHCL thực chất là việc tư duy theo một logic chiến
lược xuyên suốt từ việc xác định thực trạng của vấn đề là ta đang ở đâu cho
tới việc xác định các mục tiêu chúng ta muốn đạt tới trong tương lai.
Để có một bản kế hoạch mang tính chiến lược khi xây dựng nó ta
cần có một tư duy chiến lược. Một tư duy chiến lược phải thể hiện được
tính tổng quát, tính sáng tạo, tính chọn lọc và tính bền vững.
Lập kế hoạch chiến lược
phát triển kinh tế địa
phương là quá trình hình
thành viễn cảnh, soạn
thảo các mục tiêu ưu tiên
tiếp nhận nhiệm vụ từ
cấp trên giao, kế hoạch
của địa phương là triển
khai một phần kế hoạch
của cấp trên.
- Chủ động thiết lập các mối
quan hệ để hướng tới tương lai,
xác định mục tiêu và tìm kiếm
giải pháp phát triển KTXH cho
chính địa phương.
- KH PTKTĐP là kế hoạch của
địa phương, xây dựng cho chính
địa phương, do địa phương tự
quyết định trên cơ sở không phá
vỡ khung định hướng chung
của cấp trên.
Căn cứ
chính cho
kế hoạch
- Nguồn lực do cấp
trên cung cấp
- Con số kiểm tra kế
hoạch cấp trên.
- Kiểm điểm tình hình
thực hiện kế hoạch
- Đánh giá tiềm năng, các yếu tố
nguồn lực và thực trạng phát
triển địa phương.
- Dự báo các yếu tố, môi trường
bên trong, bên ngoài địa