MỤC LỤC
Lời cảm ơn.
Tóm tắt
Mục lục
Danh mục bảng.
Danh mục biểu đồ.
Chú thích các thuật ngữ
Phần mở đầu
1. Mục tiêu của đề tài
Trong nhiều năm qua, với những chính sách, biện pháp sáng tạo, linh hoạt,
tỉnh Hải Dương đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thu hút FDI. Hải
Dương luôn là một trong những tỉnh thu hút được nhiều đầu tư trực tiếp nước
ngoài về số lượng dự án, vốn đầu tư đăng ký và vốn đầu tư thực hiện. Các doanh
nghiệp FDI ở Tỉnh Hải Dương đã có những đóng góp đáng kể vào tăng trưởng
phát triển kinh tế của Tỉnh, tạo việc làm cho người lao động và có tác động đáng
kể tới phát triển khu vực kinh tế địa phương.
Tuy vậy, thu hút và duy trì sự tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI của
Tỉnh Hải Dương còn thiếu bền vững. Cơ cấu các doanh nghiệp FDI còn chưa hợp
lý: thiếu các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao; tỷ trọng các dự án đầu tư từ các
nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu còn thấp, tác động của khu
vực đầu tư nước ngoài đối với khu vực kinh tế địa phương còn hạn chế. Các hoạt
động xúc tiến đầu tư, chăm sóc hoạt động của các doanh nghiệp FDI… cũng bộc
lộ những tồn tại, vướng mắc cần xem xét giải quyết.
Để tiếp tục phát huy vai trò của FDI trong việc thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội theo chủ trương của tỉnh, việc nghiên cứu đánh giá nhằm đưa
ra những biện pháp cụ thể trong thu hút FDI giai đoạn 2007-2010 là hết sức cần
thiết.
Luận văn này tập trung vào phân tích đánh giá thực trạng thu hút FDI ở
tỉnh Hải Dương xây dựng quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục thu
hút FDI ở tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 2007-2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
Các mục tiêu cụ thể của luận văn này là:
Một số phương pháp khác cũng được sử dụng trong nghiên cứu như
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp nghiên cứu so sánh..vv.
4. Nguồn dữ liệu.
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm:
3
3
+ Các báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, các ngành của tỉnh Hải Dương
về tình hình thu hút FDI tại địa phương.
+ Số liệu điều tra, đánh giá của Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt
Nam (VNCI) của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt nam, chủ yếu phần
đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
+ Ngoài ra luận văn còn sử dụng các số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Nguồn thông tin sơ cấp bao gồm các thông tin liên quan đến FDI thu
được qua phỏng vấn và quan sát của tác giả trong thời gian từ tháng 6/2006 đến
tháng 7/2007.
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận
văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của thu hút FDI.
Chương 2: Thực trạng nghiên cứu, đánh giá thu hút FDI vào tỉnh Hải
Dương giai đoạn 2001-2006.
Chương 3: Những giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào Hải Dương
giai đoạn 2007 -2010.
4
4
Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của thu hút FDI vào địa phương
I.1 FDI và thu hút FDI.
I.1.1 FDI và vai trò của FDI.
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đưa ra định nghĩa FDI như sau: FDI
+ FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển
giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường
mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư.
+ FDI ngày nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh của công ty đa quốc
gia (Multinational Corporations - MNCs)
- Với các đặc điểm trên FDI có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế của quốc gia cũng như của địa phương. Điều đó thể hiện việc đem lại nhiều lợi
ích như:
+ Cơ hội tiếp xúc với công nghệ mới đối với các nước đang phát triển, góp
phần tăng năng xuất lao độn cũng như khai thác được những thế mạnh của quốc
gia cũng như của địa phương.
+ Là nhân tố kích thích cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia và địa
phương.
+ Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
+ Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá, mở rộng thị trường và mở
rộng quan hệ trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.
Do vậy đối với các nước đang phát triển thì FDI thực sự là cần thiết cho sự
phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc
tế.
I.1.2 Khái quát về thu hút FDI.
Lý thuyết về kinh tế học và quản trị đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau
về vấn đề thu hút FDI. Thu hút FDI là vấn đề thường được trực tiếp cận từ góc độ
marketing công cộng, và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Phần
này sẽ đề cập đến một số khía cạnh cơ bản của hai vấn đề "thu hút" tăng trưởng
FDI theo cách tiếp cận tổng hợp từ hệ thống lý thuyết kể trên.
6
6
Trên khía cạnh "thu hút" FDI, các nhà đầu tư nước ngoài có thể được coi là
"khách hàng" của chính quyền các cấp (trung ương hoặc địa phương). Theo cách
tiếp cận marketing công cộng, chiến lược marketing hỗn hợp mà các tổ chức
như ô nhiễm môi trường (lý thuyết về "thiên đường ô nhiễm"), giá trị gia tăng
thấp (trong trường hợp doanh nghiệp FDI chỉ tận dụng nhân công rẻ của địa
phương để thực hiện các hoạt động thủ công giản đơn), xung đột văn hóa (dẫn
đến bất đồng giữa người lao động và người sử dụng lao động)… Tuy nhiên, nếu
nhìn một cách tổng thể, nhìn chung các nhà nghiên cứu và lập chính sách đều
thống nhất nhận định về khả năng đóng góp tích cực của FDI vào tăng trưởng
kinh tế, tạo công ăn việc làm, chuyển giao công nghệ và kỹ năng.
Vì vậy, thu hút FDI có thể được coi là một chức năng cần thiết của các cấp
chính quyền tại các nước đang phát triển, nơi mà FDI có thể là một "lời giải" cho
yêu cầu về vốn và công nghệ cao cho quá trình công nghiệp hóa, hội nhập và bắt
kịp với thế giới bên ngoài. Điều này về hình thức có thể là khá đơn giản và dễ
được chấp nhận nhưng cần nhấn mạnh rằng đây không phải là một chức năng
được nhấn mạnh trong các lý thuyết về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị
trường, hay trong kinh tế học quản lý. Thay vào đó, vai trò của chính quyền địa
phương trong thu hút FDI được nhấn mạnh với ý nghĩa là một yêu cầu của thực
tiễn quản lý và lập chính sách. Tầm quan trọng của vấn đề thu hút FDI trong hoạt
động của chính quyền địa phương vì vậy gắn với chiến lược phát triển kinh tế,
gắn với thực tiễn về cơ cấu kinh tế và nguồn lực của địa phương trong thu hút
FDI. Trong trường hợp chiến lược phát triển kinh tế địa phương nhấn mạnh vào
trọng tâm thu hút FDI như là đòn bảy của tăng trưởng thì thu hút FDI phải được
xem là trọng tâm trong chính sách kinh tế của các tổ chức chính quyền. Trong
những điều kiện khác, cân đối vai trò thu hút FDI với các vai trò quản lý kinh tế
khác của chính quyền địa phương cần được cân nhắc trên cơ sở xem xét vị trí của
FDI trong cơ cấu kinh tế địa phương.
I.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI.
8
8
Nếu như mối quan hệ bên trong quyết định nhiều đến năng lực và sản
phẩm của doanh nghiệp thì mối quan hệ bên ngoài lại liên quan nhiều đến hình
ảnh của doanh nghiệp và tạo động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Trên
quyết định đầu tư hoặc mở rộng hoạt động tại địa phương. Cùng với yếu tố đó, hệ
thống các dịch vụ phụ trợ phục vụ cho hoạt động FDI của doanh nghiệp hiện
cũng được coi là yếu tố tác động không nhỏ đến sự tăng trưởng của doanh
nghiệp. Hệ thống phụ trợ này có thể bao gồm các hoạt động tư vấn hỗ trợ cho các
doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục giấy tờ có liên quan đến doanh
nghiệp, cung cấp các thông tin có liên quan đến thị trường, các chương trình
marketing, các hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tiếp cận với các dịch vụ tài chính.
Do môi trường chính sách trên toàn quốc thống nhất, nên vai trò của chính quyền
địa phương trong cung cấp các dịch vụ hỗ trợ là yếu tố quan trọng quyết định tính
hấp dẫn của môi trường đầu tư tại địa phương so với các địa bàn khác.
4. Hệ thống thông tin:
Trong hoàn cảnh lãnh thổ là sự kết nối của các hệ thống và mạng lưới,
thông tin giữ vai trò quan trọng. Một mạng lưới thông tin giữa các cơ quan quản
lý và hệ thống doanh nghiệp có thường được tổ chức theo nguyên tắc trung gian.
Trung gian ở đây được hiểu là một nhóm các chuyên gia đảm trách việc thu thập
và quản lý thông tin để cung cấp cho các doanh nghiệp tiếp cận. Các chuyên gia
này phải hiểu rõ các vấn đề doanh nghiệp gặp phải và thường xuyên tiếp xúc với
doanh nghiệp. Nếu thiết lập được một bầu không khí tin tưởng giữa chủ doanh
nghiệp và các chuyên gia thu thập thông tin sẽ giúp các doanh nghiệp trong việc
xây dựng chiến lược phát triển và đóng vai trò chính cho việc ra quyết định cho
các hoạt động của doanh nghiệp.
5. Mạng lưới - Đối tác - Văn hóa:
10
10
Đối với các doanh nghiệp FDI thành công và tăng trưởng trong kinh doanh
luôn được ghi nhận trong mối liên kết tốt về mạng lưới - đối tác - văn hóa. Đặc
điểm đầu tiên của các doanh nghiệp FDI là phải mở cửa với bên ngoài để có tầm
nhìn rộng hơn ra môi trường xung quanh, duy trì thường xuyên việc theo dõi các
động thái bên ngoài. Đó cũng là biết cách biến đổi các nguyên tắc và biện pháp
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế vào tình hình cụ thể, tạo ra sự đoàn kết, trao đổi,
nguồn lực nhằm đảm bảo có một hệ thống hạ tầng phù hợp và hệ thống dịch vụ
phụ trợ đảm bảo đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư.
Bên cạnh vai trò của các cơ quan chính quyền địa phương, các hệ thống thể
chế, cơ quan đoàn thể, và văn hóa ứng xử của người dân địa phương cũng là
những yếu tố có tác động nhất định đến sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại địa
phương. Mặc dù các cơ quan chính quyền có thể không có ảnh hưởng quyết định
đối với các yếu tố này nhưng các cấp chính quyền có khả năng định hướng,
khuyến khích các tổ chức đoàn thể xã hội và người dân địa phương có cách thức
ứng xử phù hợp nhằm tạo ra môi trường văn hóa có khả năng chấp nhận và dung
hòa các yếu tố văn hóa nước ngoài.
Thực hiện vai trò của chính quyền địa phương, phát triển hình ảnh của địa
phương trên quy mô quốc gia và quốc tế là một thử thách lớn đối với chính quyền
địa phương. Do đó, chính quyền địa phương phải được trang bị những phương
tiện và năng lực cần thiết. Thu hút nhân tài, tuyển chọn và phát triển cán bộ là hết
sức cần thiết nhằm tạo ra một hệ thống cơ quan chính quyền địa phương hiệu
quả, đáp ứng tốt yêu cầu của tăng trưởng kinh tế nói chung và xúc tiến, nuôi
dưỡng đầu tư nói riêng.
Tóm lại, vai trò của chính quyền địa phương trong việc thu hút đầu tư nước
ngoài không chỉ thuần túy dừng lại ở việc tạo ra và thúc đẩy một vài yếu tố, nó
bao hàm một phương pháp tiến hành hoàn toàn không đơn giản, từ quyết tâm
phát triển lãnh thổ cần tạo ra những yếu tố cần thiết khác cho hoạt động của các
doanh nghiệp như một mạng lưới nghiên cứu và đào tạo hoàn chỉnh, các dịch vụ
12
12
có chất lượng, hệ thống liên kết mạnh, mạng lưới thông tin phù hợp và hiệu quả,
cơ cấu lồng ghép ngành nghề và lĩnh vực hợp lý, trên cơ sở lồng ghép một cách
có hiệu quả các hoạt động nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi cho quan hệ đối tác
doanh nghiệp.
Việc thu hút thành công các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đem lại những lợi
ích quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế địa phương. Bên cạnh việc làm trực
Mô hình SWOT (Strength, Weak, Opportunity, Threat) là ma trận dùng để
tổng hợp các kết quả phân tích tạo ra cái nhìn toàn cảnh, từ đó tìm ra chiến lược
cụ thể, phù hợp. Ở đây việc phân tích dựa trên việc đánh giá 04 tiêu thức là cơ
hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của tỉnh Hải Dương trong việc thu hút FDI
những năm qua (2001 – 2006).
Điểm mạnh là yếu tố nội tại của địa phương thể hiện là những khả năng
nổi trội hơn các địa phương khác như về quản lý, việc thực hiện cơ chế ..tạo sự
hấp dẫn thu hút FDI vào địa phương.
Điểm yếu là những yếu tố nội tại của đại phương thể hiện những khả năng
kém hơn so với các địa phương khác trong việc thực hiện tạo sự hấp dẫn thu hút
FDI vào địa phương.
Để chỉ ra được điểm mạnh điểm yếu phải dựa vào phân tích nội bộ địa
phương về các mặt như: việc quản lý của chính quyền địa phương, việc thực hiện
các quy định pháp luật, các chính sách địa phương thực hiện đối với các vấn đề
liên quan tới FDI; các chính sách về lao động, đào tạo lao động; thủ tục hành
chính khi cấp giấy phép..
Cơ hội là những yếu tố từ bên ngoài môi trường đem lại, nó có tác động
tích cực đến mục tiêu thu hút FDI của địa phương như đem lại những điều kiện
thuận lợi như xu thế, cơ chế chính sách, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý.
14
14
Thách thức là những yếu tố bên ngoài do môi trường đem lại, nó có tác
động tiêu cực đến mục tiêu thu hút FDI của địa phưong, đem lại những điều kiện
khó khăn, tác động làm giảm sự hấp dẫn trong việc thu hút FDI của địa phương.
Tìm ra những cơ hội, thách thức dựa trên phân tích môi trường bên ngoài
mà chủ yếu là phân tích môi trường vĩ mô như môi trường luật pháp về đầu tư tại
Việt nam, xu thế đầu tư quốc tế vào Việt nam. Bên cạnh đó phân tích những khó
khăn thuận lợi do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
I.3.2 Hệ thống chỉ số đánh giá hấp dẫn của thị trường.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự hấp dẫn của thị trường bao gồm các chỉ tiêu
thay đổi trong các quy định pháp luật; ..
- Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước. Chỉ tiêu này
thể hiện là việc dành thời gian làm việc với các cơ quan Nhà nước trong quỹ thời
gian làm việc.
- Chi phí không chính thức là chỉ số thể hiện mức độ chi phí vào những
mục đích không chính thức, nó làm khó khăn cho doanh nghiệp. Điều này xuất
phát từ các cán bộ quản lý địa phương.
- Đào tạo lao động là chỉ số đánh giá chính sách của địa phương về phát
triển nguồn nhân lực cung cấp lao động tại chỗ cho các nhà đầu tư.
- Thiết chế pháp lý là chỉ tiêu phản ánh các quy định và việc áp dụng các
quy định pháp luật của địa phương tạo ra cơ chế quản lý và giải quyết các vấn đề
của doanh nghiệp.
- Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh là chỉ tiêu phản ánh
năng lực của lãnh đạo và các bộ địa phương, đồng thời thể hiện tính sáng tạo của
chính quyền trong việc tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu này mới chỉ đánh giá một phần về môi trường kinh doanh cấp
tỉnh, những yếu tố nội tại của địa phương có ảnh hưởng trực tiếp nhưng còn hạn
chế chưa phản ánh được nhiều những yếu tố ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp
khác như các dịch vụ phục vụ cho việc thực hiện các dự án, thể hiện như hệ
thống nhà ở cho công nhân thuê, mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với
16
16
cơ sở hạ tầng của KCN, hay các chính sách mở rộng các khu công nghiệp phụ
trợ.
I.3.3 Marketing Mix.
Trên thực tế để thu hút FDI chính quyền các địa phương phải chỉ ra được
sự hấp dẫn của môi trường đầu tư để thu hút sự chú ý từ các nhà đầu tư. Đây là
việc cung cấp thông tin đầu vào cho việc ra quyết định đầu tư. Việc dẫn đến ra
quyết định đầu tư hay không phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng quảng bá giới thiệu
về môi trường đầu tư của địa phương. Tuy nhiên cách giới thiệu, quảng bá có thể
chính. Ví dụ cụ thể của một hay một số quốc gia nào đó sẽ được chọn lọc để
minh họa cho từng nhóm chính sách/biện pháp cụ thể. Với cách tiếp cận vấn đề
như trên, kinh nghiệm thu hút FDI của các nước đang phát triển được đúc rút
theo sau nhóm chính sách, biện pháp chủ yếu.
1. Ưu đãi tài chính có định hướng tạo động lực thu hút FDI
Ưu đãi tài chính là một biện pháp phổ biến thường được sử dụng để thu hút
các nhà đầu tư nước ngoài. Ưu đãi tài chính có thể có nhiều hình thức: miễn thuế,
giảm thuế, hỗ trợ tài chính dưới một số hình thức trợ cấp. Với xu hướng chung
của tự do hóa thương mại và đầu tư hiện nay là không sử dụng các biện pháp trợ
cấp trực tiếp và gián tiếp, ưu đãi về thuế trở thành công cụ chủ yếu trong số
những biện pháp ưu đãi tài chính mà chính phủ các nước đưa ra. Theo
Blomstrom và Kokko (2003), ưu đãi tài chính có thể là một chính sách thu hút
FDI quan trọng nhưng không có ý nghĩa quyết định đối với các nhà đầu tư. Theo
quan điểm này, các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến các biến kinh tế vĩ mô cơ
bản như dung lượng thị trường, trình độ công nghệ, chi phí kinh doanh (lao động,
cơ sở hạ tầng), và môi trường thể chế hơn là những ưu đãi cụ thể về thuế. Tuy
nhiên, trong điều kiện các quốc gia đều cố gắng cải thiện môi trường đầu tư,
giảm chi phí kinh doanh thì những ưu đãi tài chính nhất định có thể là một yếu tố
18
18
nh hng n quyt nh u t. Vỡ vy, a s cỏc nh lp chớnh sỏch u cho
rng u ói ti chớnh l cn thit thu hỳt u t nc ngoi.
Malaysia, Singapore, Thailand, v mt s quc gia ụng Nam ỏ khỏc l
nhng vớ d thnh cụng cho vic s dng u ói ti chớnh cú nh hng c th.
Nhng quc gia ny u a ra nhng u ói cho FDI vo nhng "ngnh cụng
nghip mi nhn"
4
. Singapore ban hnh Lut Khuyn khớch M rng Kinh t
5
,
Economic Expansion Incentives Act.
6
6
Investment Incentives Act và Export Incentives Act.
19
19
kỷ 90, sự hấp dẫn của Trung Quốc trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài
dẫn đến sự hình thành của chiến lược "Trung Quốc cộng". Với chiến lược này,
nhiều nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng coi Trung Quốc là địa bàn đầu tư chiến
lược, trong khi vẫn có thể cân nhắc khả năng đầu tư vào các nước ASEAN.
Mức độ cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng tăng làm cho những ưu đãi
tài chính không thể chỉ dừng lại ở phạm vi các quy định được thể chế hóa bằng
luật. Ngoài những ưu đãi chung theo quy định, chính quyền (trung ương và địa
phương) ở các nước đang phát triển còn đưa ra những ưu đãi tài chính bổ sung
cho từng trường hợp cụ thể, đặc biệt là với các dự án đầu tư giá trị lớn. Năm
1996, khi General Mo (GM) cân nhắc kế hoạch đầu tư một dây truyền sản xuất
và lắp ráp ô tô trị giá 500 triệu $, Tổng thống Philipines Fidel Ramos đã trực tiếp
gửi thu cho chủ tịch hãng này là John Smith, với hứa hẹn ưu đãi gồm 8 năm miễn
giảm thuế; 5% miễn giảm cho tất cả các khoản thuế mà GM có thể phải trả trong
thời gian sau đó; miễn giảm với nhập khẩu toàn bộ máy móc thiết bị, và một
khoản trợ cấp đáng kể về đào tạo 5.000 lao động cho nhà máy. Cuối cùng, GM
quyết định đầu tư vào Thailand vì chính phủ nước này hứa hẹn những điều khoản
tương tự, cộng thêm với hoàn 100% thuế nhập khẩu nguyên liệu thô, và một
khoản trợ cấp trị giá 15 triệu $ cho việc thành lập một trung tâm đào tạo và
nghiên cứu của GM tại nước này (theo tài liệu của Fletcher, 1996).
Như vậy, dù ưu đãi tài chính chỉ là một trong số các biện pháp khuyến
khích đầu tư nhưng sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong
thu hút FDI làm cho những ưu đãi này trở nên phổ biến và đa dạng về phạm vi,
mức độ ưu đãi và tính thể chế hóa của ưu đãi. Bên cạnh những quy định ưu đãi
đã được thể chế hóa thành luật, cạnh tranh thu hút FDI bằng những ưu đãi tài
cỏc nc ang phỏt trin gp nhau quan im khuyn khớch s tham gia ca
khu vc t nhõn vo u t, cung cp c s h tng. C s d liu ca Ngõn hng
Th gii thng kờ giỏ tr cỏc d ỏn u t phỏt trin c s h tng ca khu vc t
7
7
Chi phí liên kết dịch vụ là một khái niệm quan trọng trong địa lý kinh tế, chỉ chi phí liên kết, vận hành các chi
nhánh đặt tại các quốc gia khác nhau của một TNC trong quá trình phi tập trung hóa, phân tán hoạt động kinh
doanh ra nhiều quốc gia khác nhau nhằm tận dụng lợi ích từ kinh tế vị trí.
21
21
nhân làm chủ đầu tư giai đoạn 1990-2001 cho thấy mặc dù sau khủng hoảng châu
á, cộng với suy thoái của FDI sau năm 2000 làm cho giá trị đầu tư cơ sở hạ tầng
của khu vực tư nhân giảm sút nhưng về giá trị, sự tham gia của khu vực tư nhân
trong cung cấp cơ sở hạ tầng là khá quan trọng. Cũng cần lưu ý rằng mặc dù huy
động sự tham gia của tư nhân vào cung cấp cơ sở hạ tầng là một giải pháp phổ
biến và ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện hiện nay, nhưng thống kê
chính thức cho thấy các nhà đầu tư tư nhân chủ yếu tập trung vào lĩnh vực viễn
thông và cung cấp điện năng. Cơ sở hạ tầng giao thông chỉ nhận được khoảng
18% tổng giá trị đầu tư tư nhân trong giai đoạn 1990-2001. Vì vậy, đầu tư công
cộng vẫn là cơ bản và cần thiết, đặc biệt là trong xây dựng công trình giao thông,
để cải thiện môi trường đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước
ngoài đang ngày càng gay gắt như hiện nay.
3. Thu hút FDI thông qua các cơ quan tổ chức xúc tiến đầu tư.
Từ đầu thập kỷ 1990, thành lập các cơ quan xúc tiến đầu tư đã trở thành
một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thu hút FDI của hầu hết các
quốc gia. Đến thời điểm hiện nay, không có thống kê cụ thể về số lượng các cơ
quan xúc tiến đầu tư. Theo thống kê sơ bộ của UNCTAD, đến cuối năm 2001, có
ít nhất 160 cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia và khoảng 250 các tổ chức thuộc
một số địa phương tham gia tích cực vào xúc tiến đầu tư (xem thêm trong báo
cáo UNCTAD, 2001). Thông thường, các tổ chức xúc tiến đầu tư thực hiện gồm
của tư nhân (như Costa Rica) nhưng kinh nghiệm cho thấy hoạt động của những
tổ chức dịch vụ tư nhân trong lĩnh vực này thường kém hiệu quả (xem thêm báo
cáo của Wells và Wint, 2001). Tuy nhiên, dù có được tổ chức dưới hình thức nào
đi chăng nữa thì trung bình 70% kinh phí hoạt động của các tổ chức xúc tiến đầu
tư là do chính phủ tài trợ.
23
23
Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằng xúc tiến đầu tư không phải chỉ đơn thuần là
công việc của chính quyền trung ương. Thực tế trong thời gian qua chứng kiến sự
phát triển nhanh chóng của các tổ chức xúc tiến đầu tư địa phương. Các tổ chức
này có thể hoạt động như một phần của cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia, hoặc
độc lập hoàn toàn với những cơ quan này. Về cơ bản, mục tiêu hoạt động của
những tổ chức xúc tiến đầu tư cấp vùng và địa phương cũng giống như tổ chức
xúc tiến đầu tư quốc gia nhưng ở phạm vi vùng/địa phương tương ứng. Dù hiệu
quả của các cơ quan xúc tiến đầu tư trong thu hút FDI là vấn đề chưa được tổng
kết một cách hệ thống, nhưng Morisset (2003) sử dụng kết quả điều tra của ngân
hàng Thế giới về hoạt động của 58 tổ chức xúc tiến đầu tư và rút ra kết luận về
ảnh hưởng tích cực của các tổ chức này đối với khả năng thu hút FDI của các
vùng lãnh thổ và địa phương.
4. Tích cực cải thiện môi trường đầu tư địa phương, giảm thiểu thủ tục
hành chính là chính sách thu hút đầu tư chủ đạo.
Cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu thủ tục hành chính là một nỗ lực
phổ biến và có lẽ là quan trọng nhất là chính phủ các nước trong thu hút FDI.
Phản ứng về chính sách của hầu hết các nước trong giai đoạn sụt giảm FDI 2001
- 2003 là tiếp tục đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm cải thiện môi trường đầu
tư. Tính trung bình trong giai đoạn 1991 - 2004, khoảng 87% những thay đổi về
chính sách do các quốc gia thực hiện có chiều hướng thuận lợi hơn cho FDI .
Trong năm 2004, trong tổng số 271 thay đổi chính sách thực hiện bởi 102
nền kinh tế/lãnh thổ trên thế giới, có đến 235 thay đổi chính sách theo hướng có
lợi ích các nhà đầu tư nước ngoài - Algeria, Cộng hoà Congo, Hy Lạp, Ghana,
khổ WTO trong đó một số lượng lớn các ngành công nghiệp mới được đưa vào
danh mục các ngành ưu tiên kêu gọi đầu tư, nới lỏng các hạn chế tham gia của
25
25