Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 07/11/2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức
Thương mại thế giới kết thúc 11 năm đàm phán gia nhập. Thế và vận mới cho nền
kinh tế chúng ta,nhiều thử thách và thuận lợi cho mục tiêu phát triển đất nước.
Đầu tư nước ngoài đã đang và sẽ trở thành một nhiệm vụ quan trọng cho đất
nước ta để đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư phát triển nền kinh tế.Chúng ta không thể
phủ nhận vai trò rất tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài,trực tiếp và gián tiếp
tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nước Việt Nam. Ngành du lịch nói chung
và quá trình phát triển các khu du lịch nói riêng cũng chịu sự tác động này,bộ mặt
của ngành đã thay đổi từ khi các nhà đầu tư nước ngoài vào cuộc.Việt Nam đã có
thể có đủ điều kiện để tổ chức các hội nghị quốc tế mang tầm cơ thế giới với một cơ
sở hạ tầng du lịch đạt tiêu chuẩn, nhiều khách sạn đã đón tiếp thành công các đoàn
quốc tế,nhiều khu du lịch đã làm hài lòng khách du lịch nước ngoài.Hội Nghị Cấp
Cao APEC năm 2006 là một bằng chứng .
Mặc dù vậy Việt Nam vẫn rất cần đầu tư nước ngoài tham gia tích cực hơn
nữa vào phát triển du lịch cũng như các khu du lịch- như một điều kiện tiên quyết.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay,năng lực cạnh tranh của ngành du
lịch Việt Nam cần được cải thiện về mọi mặt,có như thế chúng ta mới không bị bỏ
lại quá xa với thế giới và đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế.Bài viết xin được đề
cập đến thực trạng đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khu du lịch,nêu lên những mặt
được cũng như những mặt còn tồn tại trong quá trình phát triển khu du lịch,từ đó
xin đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa dòng vốn đầu tư nước ngoài
vào khu du lịch ở Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú,anh chị ở Cục Đầu tư nước ngoài-Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, đã giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.Em cũng
chân thành cảm ơn,Giảng viên-Tiến sĩ Phạm Văn Hùng đã hướng dẫn tận tình,đúng
đắn,kịp thời về mặt nội dung của chuyên đề thực tập.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I
thiếu được trong định nghĩa về du lịch cần được bổ sung là đến bằng các phương
tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch . Theo nhà kinh tế học Kalfiotios
thì cho rằng Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến
một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần,đạo đức do đó tạo nên các hoạt động
kinh tế.
Khác với các quan điểm trên,các nhà học giả biên sọan Bách khoa toàn thư Việt
Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các
chuyên gia : nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích
cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích :nghỉ ngơi,giải trí,xem danh lam
thắng cảnh,di tích lịch sử… Theo nghĩa thứ hai, du lịch được coi là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt : nâng cao hiểu biết về thiên nhiên
,truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc,từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất
nước đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế du
lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn ;có thể coi là hình thức xuất
khẩu hàng hóa dịch vụ tại chỗ.
Như vậy không thể có một cách hiểu hoàn toàn thống nhất về du lịch mà mỗi
một người có thể đưa ra các cách tiếp cận khác nhau. Du lịch là một phạm trù không
mới những cũng rất khó có thể thống nhất bởi với một vấn đề nó sẽ đáp ứng một
mục đích khác. Dù hiểu như thế nào chăng nữa du lịch đựơc tổng hợp theo hai ý
sau: (i) Sự di chuyển và lưu trú trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân nhằm mục đích
phục hồi sức khỏe…(ii) Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thõa mãn nhu
cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển ấy.
Du lịch nói chung có rất nhiều thành phần: nó có thể là tour du lịch , là đón tiếp
khách du lịch và cung ứng các dịch vụ liên quan… Trong đó khu du lịch có thể nói
là được đề cập đến nhiều nhất trong kinh doanh dịch vụ du lịch. Nó nhiều khi được
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
gọi là điểm du lịch.Theo nghĩa chung nhất Khu du lịch là những chỗ hoặc cơ sở mà
khách du lịch đến và lưu trú,Khu du lịch có thể là những chỗ không có dân cư. Đó
là nghĩa rộng của khu du lịch. Tuy nhiên trongkinh tế du lịch,điểm du lịch là một
tự nhiên trong lành cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn…nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc
trưng của họ
*Phân loại theo mục đích chuyến đi:Chuyến đi của con người có thể có mục
đích thuần túy du lịch tức là chỉ nhằm nghỉ ngơi,giải trí,nâng cao nhận thức tại chỗ
về thế giới xung quanh. Ngoài các chuyến đi như vậy có nhiều cuộc hành trình vì
các lí do khác nhau như học tập công tác,hội nghị…Trong những chuyến đi này
không ít người đã sử dụng các dịch vụ như lưu trú,ăn uống ở khách sạn,nhà nghỉ…
Những lúc đó có thể coi họ đang thực hiện một chuyến du lịch kết hợp trong chuyến
đi của mình.
*Phân loại theo mục đích tham quan : Tham quan là hành vi quan trọng của con
người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh .Đố tượng tham quan có thể là
một tài nguyên du lịch tự nhiên như một phong cảnh kì thú cũng có thể là một tài
nguyên du lịch nhân văn như khu di tích…Về mặt ý nghĩa hoạt động tham quan là
một trong những hoạt động để chuyến đi đựoc coi là chuyến du lịch.
*Du lịch giải trí: Mục đích của chuyến đi là thư giãn xả hơi bứt ra khỏi công
việc thường nhật căng thẳng để hồi phục sức khỏe. Với mục đích này du khách chủ
yếu muốn tìm đến những nơi yên tĩnh có không khí trong lành. Có thể có nhu cầu
tham quan hoặc các nhu cầu khác song mục tiêu đó không phải là cơ bản.
*Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch
là phục hồi sức khỏe công đồng.Địa chỉ của các chuyến đi nghỉ dưỡng là những nơi
có không khí trong lành ,khí hậu dễ chịu,phong cảnh ngoạn mục như các bãi biễn
các vùng ven bờ nước,vùng núi,nông thôn… cho đến nay du lịch du Việt Nam vẫn
chủ yếu kinh doanh loại hình này.
*Du lịch lễ hội: ngày nay lễ hội là một yếu tố rất hấp dẫn du khách. Chính vì vậy
việc khôi phục các lễ hội truyền thống,việc tổ chức các lễ hội mới không chỉ là mối
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
quan tâm của các cơ quan đoàn thể quầchúng xã hội mà còn là một hướng qụan
trọng của ngành du lịch
Ngoài ra du lịch còn có thể được phân thành du lịch quốc tê- du lịch nội địa hay
tài chính
* Sự phân tích về rủi ro: Mặc dù có những thông tin đó vẫn cần thiết căn cứ vào
những giả thiết và những dự kiến có thể thực hiện được hay không . Sự phân tích
về tính nhạy cảm và sự phân tích về rủi ro nhằm mục đích xác định những biến đổi
có thể xảy ra trong các dự kiến hay giả thiết đó . Phương pháp này thường được
dung để xác định tính nhạy cảm của các kết quả là ở chỗ tăng lên hay giảm đi giá
trị của các biến thiên khác nhau theo một tỉ lệ nhất định để xem xét với những tỉ lệ
nào thì các kết quả đã dự kiến là thích hợp . Những biến thiên nào có thể ảnh hưởng
đến đầu tư du lịch ? Đối với một công ty du lịch người ta có thể kể đến các tỉ xuất
chiếm giữ ,cơ cấu của giá cả ,chi phí về nhân công,mặt bằng ,năng lượng ,kiểu loại
lợi tức và chiết khấu xã hội …
* Việc đánh giá các đầu tư: Hai yếu tố khoản tiền vay và vốn –đối với tiền vay
cần biết tỉ suất lợi tức của sự tài trợ và phải biết quyết định một kế hoạch về sự hoàn
trả và đảm bảo đối với vốn cũng có thể được cấu thành bằng tự cấp vốn …
b) Những chi phí đầu tư . Đối với một đầu tư về Khu du lịch cần lưu ý: Kết quả
ròng thu được bằng cách khấu trừ đi kết quả gộp những khấu hao những chi phí tài
chính những điểm phụ cố định khác như tiền thuê nhà,tiền bảo hiểm,tiêng thuế địa
phương… những tiền lỗ và những lợi nhuận bất thường và thuế đánh vào lợi nhuận.
Do đó xác định số lãi ròng đòi hỏi ngay từ lúc đầu việc phân tích ngân sách đầu tư.
Ngân sách đó sẽ phụ thuộc vào kiểu loại xí nghiệp được cân nhắc. Nó sẽ không như
ngân sách cho một khách sạn,một hãng du lịch hay một công ty vận tải,đối với một
cơ sở chứa trọ gồm: mặt hàng và việc chuẩn bị để xây dựng,việc xây dựng,các động
sản và các trang bị vật liệu để kinh doanh khai thác,chi phí khai trương quảng cáo…
Nhưng ngoài số đầu tư ban đầu không được coi thường những đầu tư đổi mới theo
quản điểm của chính sách bão dưỡng một khu du lịch.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
c) Những tiêu chuẩn về khả năng sinh lời của một đầu tư du lịch: Có thể được
phân thành 2 nhóm như sau:Những tiêu chuẩn quyết định khả năng sinh lời đối với
những gía trị hiện hành hàng năm, những tiêu chuẩn sử dụng kĩ thuật của giá trị
giúp cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục mà còn thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng và hội nhập thế giới nhanh chóng và hiệu quả. Việt Nam với xuất phát điểm
là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu vì thế nguồn vốn để đầu tư trong xã hội
là rất thấp,chúng ta cần có một cú hích từ bên ngoài- Đó chính là nguồn vốn đầu tư
nước ngoài .Không một ai có thể phủ nhận vai trò của đầu tư nước ngoài đối với
nền kinh tế-đặc biệt là những nước đang phát triển như ở Việt Nam . Từ khi Đảng
và nhà nước tiến hành cải cách,ban hành luật đầu tư nước ngoài thì bộ mặt kinh tế
xã hội của chúng ta dã thay da đổi thịt-và vai trò của đầu tư nước ngoài là không
nhỏ,nó không chỉ mang lại một số vốn đầu tư mà chúng ta đang thiếu mà còn tác
động đến tất cả các lĩnh vực củ nền kinh tế,góp phần vào GDP,giải quyết một khối
lượng công ăn việc làm, có tính liên ngành cao.Cùng với thời gian bộ phận kinh tế
có vốn đầu tư nước đã trở thành bộ phận hữu cơ của nền kinh tế. Năm 2005 khu
vực đầu tư nước ngoài tạo ra 14.5% GDP,chiếm 17.4% vốn đầu tư toàn xã hội,54%
kim ngạch xuất khẩu,tạo ra 1,2 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động
gián tiếp.
Với chủ trương phát triển ngành du lịch là ngành mũi nhọn của đất nước, thời
gian qua du lịch luôn luôn được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ. Chính đầu tư
nước ngoài đã giúp cho chúng ta thay đổi bộ mặt về ngành du lịch,với những khách
sạn cao cấp,những khu du lịch nổi tiếng được khai thác với số vốn chủ yếu từ bên
ngoài hoặc do liên doanh. Nếu trước đây (trước1986) ngành du lịch chủ yếu là thu
hút khách nội địa với doanh thu rất ít,thì từ khi có đầu tư nước ngoài nhảy vào
chúng ta đã có cơ sở vật chất cũng như giao thông vận tải,cùng với các địa điểm du
lịch nổi tiếng để thu hút khách du lịch nước ngoài và thực sự Việt Nam đã để lại
trong con mắt bạn bè quốc tế một ấn tượng tốt về con người cũng như cảnh quan
thiên nhiên. Cũng như các ngành khác, đầu tư nước ngoài đã tạo ra công ăn việc
làm gián tiếp và trực tiếp,giúp chúng ta khai thác tốt những tiềm năng du lịch đòi
hỏi số vốn lớn, đóng góp vào sự phát triển chung,chúng ta có thể có một khả năng
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tổ chức tốt các hội nghị cấp cao với những khách sạn 5 sao, có thể tự hào với Vịnh
vấn đề cần thiết cho phát triển các Khu du lịch,chúng ta phải biết tận dụng xu thế
quốc tế hóa cao và những dòng chảy của đầu tư quốc tế để thu hút FDI. Thực tế cho
thấy rằng ,mặc dù trong mấy năm gần đây nền kinh tế chúng ta liên tục phát triển
với tốc độ cao nhưng vốn đầu tư trong nước vẫn không thể tự mình tạo một tiềm lực
phát triển cho ngành du lịch,điều đó bắt buộc chúng ta phải tranh thủ nguồn lực từ
bên ngoài.Hơn nữa trong xu thế hội nhập hiện nay một đất nước phải biết tranh thủ
nguồn lực từ bên ngoài bởi vì có như thế mới không lạc hậu với khoa học kĩ thuật
tiên tiến, thu hút đầu tư nước ngòai chúng ta không chỉ thu hút được vốn mà cúnh ta
có thể tiếp thu được trình độ khoa học tiên tiến ,kĩ năng quản lí ,kỉ cuơng và tinh
thần làm việc. Trong lĩnh vực du lịch nói chung và khu du lịch nói riêng thì học hỏi
được kĩ năng quản lí là cực kì quan trọng.Như chúng ta đã biết đây là một lĩnh vực
còn rất mới mẻ của chúng ta, kinh nghiệm mà chúng ta co đựơc là rất khiêm tốn vì
vậy thu hút FDI và đặc biệt là sự có mặt của các tập đoàn và lữ đoàn du lịch có kinh
nghiệp lâu năm trên thế giới thì việc học hỏi kinh nghiệm cũng như tác phong công
việc đối với chúng ta sẽ dề dàng hơn.Thực tế đã chứng minh các khách sạn cao cấp
của chúng ta đang có hiện nay đều là đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức là
100% vốn nước ngoài hay là liên doanh,các khu vui chơi giải trí đều có mặt của các
nhà đầu tư nước ngoài hoặc các Việt kiều.
Như vậy không chỉ trong toàn bộ nền kinh tế thu hút FDI là một tất yếu hiện nay
mà trong việc phát triển các khu du lịch nó trở nên cần thiết và cấp bách .Có vẻ như
hiện nay các khu du lịch cũng đang trông chờ vào nguồn vốn từ nước ngoài để phát
triển,nhiều nơi đã có sự đầu tư của các địa phương nhưng nều như số vốn đủ thì
quá trình quản lí lại lỏng lẻo,thiếu khoa học nên dẫn đến tình trạng im hơi lặng
tiếng và kém hấp dẫn của các khu du lịch ,còn thì hầu hết đều thiếu vốn đầu tư và
có đầu tư thì chỉ mang tính nhỏ giọt và thiếu đồng bộ làm cho các khu du lịch
không thể phát triển nhanh và toàn diện được. Vì vậy chúng ta phải tích cực hơn
nữa trong công tác xúc tiến đâu tư vào các khu du lịch. Chỉ có thu hút đầu tư nước
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ngoài các Khu du lịch ở Việt Nam mới có thể phát huy tối đa tiềm năng của mình và
b) Đầu tư vào nguồn nhân lực du lịch
Một đất nước muốn phát triển bền vững phải luôn quan tâm đến sự nghiệp đào
tạo nguồn nhân lực, bởi chính những con người sẽ quyết định vận mệnh tương lai
của một quốc gia. Trong phát triển kinh tế đào tạo con người là nhân tố hết sức
quan trọng đặc biệt là lĩnh vực du lịch bởi vì ngành du lịch phát triển hay không là
do những người làm du lịch quyết định. Đây là ngành mà mối quan hệ với lực
lượng lao động rất rõ nét, hầu như bất cứ một công ty du lịch nào cũng đều coi
trọng khâu tuyển nhân viên và đào tạo nhân viên.Có một bài toán sau: Có thể xét
chất lượng dịch vụ là phụ thuộc vào chất lượng nhân tố lao động(EP)và đầu tư cho
mỗi khách hàng (I) công thức sẽ là: I=EP.logI
k
ở đó k là một thông số sẵn với những điều kiện riêng của khách sạn. Tích phân
lần đầu tiên của công thức này người ta chỉ ra rằng những cải tiến các chỉ tiêu chất
lượng dích vụ phụ thuộc vào hệ số EP/I nó diễn đạt sự đóng góp về số lượng của
nhân tố lao động theo đơn vị đầu tư cố định.
Ví dụ trên cho thấy lao động và đầu tư vào du lịch.Bên cạnh đó có một nhân tố
rất đặc biệt trong du lịch là tính thời vụ vì vây sử dụng lao động trong du lịch cũng
mang tính thời vụ rất nhiều. Vì vậy nhiều khi người ta có thể sử dụng lao động như
một lực lựợng làm thêm và ít khi chú trọng đến công tác đào tạo. Chúng ta có thể
tham khảo bảng sau:
Bảng 1:Thang bậc công việc du lịch
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
(Nguồn: Sách Nhập môn khoa học du lịch-NXB ĐH Quốc gia HN)
Như vậy trong ngành du lịch thì ngoài việc cần một số lượng lao động nhiều
thì thang bậc trong nguồn nhân lực cũng rất phức tạp và đa dạng,nó cần nhiều cấp
học cũng như chuyên môn khác nhau,mỗi cấp phù hợp với mỗi thang bậc. Điều đó
đòi hỏit trong việc đào tạo cần chú trọng sự đa dạng trong cấp học tránh tình trạng
cử nhân thì nhiều mà trung cấp thì ít,nó không những tạo ra sự lãng phí mà còn cản
trợ sự phát triển toàn diện của du lịch.
dịch vụ đi
du lịch
GĐ KV dịch vụ
tiếp đón
Chuyên gia nghiên
cứu kế hoạch hóa
và khai thác du
lịch
Chuyên gia
DL xã hội
III.Kỹ
thuật
viên
trung
cấp
Người chịu
trách nhiệm
vận
tải,trưởng
các hợp
đồng khoán
việc,CĐV
bán hàng,tổ
chức HN
tuyên truyền
Người đựoc tin
và đi tháp
tùng.Phiên dịch
hướngdẫn,người
cổ động,chiêu
phương,bà chủ
đón tiếp
Bà chủ đón
tiếp,thư kí
Trực điện
thoại,kế
toán,thư kí
đánh máy
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ảnh của mình, doanh thu của ngành dựa vào số lượng du khách là chủ yếu-chính họ
là sức sống của ngành,vì vậy phải đánh vào thị hiếu ,nhu cầu của họ ,cho họ biết
đến mình có như thế mới thu hút được khách du lịch. Đầu tư vào lĩnh vực này là
phải dựa vào các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí,truyền hình ,phát
thanh từ trung ương đến địa phương…Bên cạnh đó cũng phải đầu tư vào việc tổ
chức các cuộc triển lãm ,các hội chợ du lịch,tham gia các hội chợ quốc tế hay việc
in ấn các tạp chí ,sách,tờ rơi internet…Việt Nam đã có quan tâm đến lĩnh vực này
nhưng nhìn chung còn rất ít và đầu tư chưa thật nhiều và hiệu quả. Ví dụ: Thái Lan
chi phí cho quảng bá du lịch là 60 triệu USD,Singapore là 80 triệu USD còn Việt
Nam chỉ khoảng 100.000 USD một con số chưa thỏa đáng với tiềm năng của chúng
ta đang có. Việt Nam chúng ta kinh nghiệp làm du lịch chưa thật nhiều ,chúng ta
đang phải vừa làm vừa học hỏi,vì vậy đầu tư cho quảng bá ,xúc tiến du lịch là một
hành động làm cho thế giới biết đến chúng ta nhiều hơn ,hình ảnh của Viêt Nam
trong con mắt bạn bè quốc tế sẽ được cải thiện. Đầu tư vào công tác tuyên truyền
quảng bá trong lĩnh vực du lịch là vấn đề tất yếu ,khách quan và là vấn đề của mọi
ngành du lịch trên thế giới.
5.2 Nội dung đầu tư vào khu du lịch
a. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng
Đối với sự phát triển của một khu du lịch thì đây là vấn đề then chốt quyết
định sự thành bại trong kinh doanh du lịch là điều kiện cần thiết để xây dựng và
phát triển một khu du lịch. Nhưng đầu tư vào những gì? Đó là đầu tư vào cơ sở vật
Như đã nói ở trên,nguồn nhân lực rất quan trọng trong nền kinh tế nói
chung và ngành du lịch nói riêng,vì vậy trong việc phát triển khu du lịch không thể
bỏ qua vấn đề này. Bởi vì đôi khi một địa điểm du lịch thu hút khách không chỉ vì
có cảnh quan đẹp mà nơi đó có một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có phong
cách rất ấn tượng ,nó cùng với tiềm năng của thiên nhiên làm nên một khu du lịch
mạnh. Đào tạo nguồn nhân lực trong các khu du lịch không có nghĩa là chúng ta
tuyển dụng các nhân viên có bằng cấp,có trình độ về chuyên nghành cao mà chúng
ta cần chú ý đến vấn đề suy nghĩ trong cách ứng xử của họ. Hầu hết các khu du lịch
đều phải tiến hành đào tạo lại sau khi tuyển nhân viên bởi thật đơn giản mỗi môi
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trường có một phong cách làm việc khác nhau,cần cho họ học được đặc điểm của
mình từ đó có thái độ với du khách. Bên cạnh đó, cũng nên gửi các nhân viên đi
đào tạo một cách có bài bản ở những trung tâm hoặc trường học chính quy vì đôi
khi kiến thức thực tế chưa phải là tất cả, có trình độ bao giờ cũng hơn.
c) Đầu tư cải thiện môi trường tụ nhiên.
Cũng như vấn đề quảng bá du lịch,cải thiện môi trường tự nhiên là một vấn
đề mang tính cá biệt.Môi trường du lịch là sự tổng hòa của rất nhiều thành phần
như đất nước,không khí,âm thanh ánh sáng,hệ sinh thái trong đó có cảnh quan môi
trường.Đối với hoạt động du lịch cảnh quan môi trường có ý nghĩa quan trọng
nhất. Một khu du lịch có cảnh quan đẹp trước hết sẽ thu hút được khách du lịch từ
khi mới đi vào hoạt động, chúng ta phải biết đầu tư một cách hợp lí và hiệu quả
trong khâu đầu tiên này.Và trong suốt quá trình hoạt động chúng ta phải luôn tích
cực đầu tư và bảo vệ môi trường để nó không mất đi dáng vẻ ban đầu và luôn ấn
tượng trong du khách.Để bảo vệ cảnh quan môi trường cần nhận thức được đầy đủ
các yếu tố hình thành và tác động lên cảnh quan môi trường,đầu tư cho môi trường
trước hết chúng ta phải xây dựng những hạng mục công trình kiến trúc mang tính
nhân tạo như những tác phẩm nghệ thuật,hồ bơi,núi đồi nhân tạo…tạo ra sự gần
gũi thiên nhiên trong khu du lịch,ngoài ra phải đầu tư phát triển các cảnh quan tự
nhiên để làm sao nó không mất đi dang vẻ tự nhiên ban đầu.Đây là một quá trình
chỉnh và tăng 52,3% kế hoạch ban đầu (6,5 tỷ USD). Đây là mức cao nhất kể từ khi
thi hành Luật Đầu t nớc ngoài (năm 1987 đến nay).
Trong đó ngành công nghiệp và xây dựng, chiếm 66,5% về số dự án và 68,3%
tổng vốn đăng ký; ngành dịch vụ chiếm 25,2% về số dự án và 23,7% tổng vốn
đăng ký và nông-lâm-ng nghiệp chiếm 6,9% về số dự án và 1,6% tổng vốn đăng
ký.
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nhìn chung, các dự án đợc cấp phép đi vào hoạt động với kết quả tốt, đóng góp
quan trọng vào sự tăng trởng chung của nền kinh tế Việt Nam, cũng nh tạo nguồn
thu lớn cho ngân sách nhà nớc. Doanh thu của khu vực FDI không ngừng tăng lên
qua các năm và đạt khoảng 20 tỷ USD mỗi năm. Riêng năm 2006 doanh thu của
khu vực FDI đạt gần 30 tỷ (29,4 tỷ USD) tăng 31,3% so với năm trớc.
Khu vực FDI đóng góp rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nớc. Kim ngạch
xuất khẩu của khu vực FDI đóng góp 35% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nớc (cha kể dầu thô). Riêng năm 2005 là 34,46%, còn năm 2006 ớc là 39,74%.
Nếu tính cả dầu thô thì khu vực FDI đóng góp tới 57% tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nớc, năm 2005 đạt 57,17% và năm 2006 sẽ là 60% tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nớc. Theo kế hoạch năm 2007 tỷ trọng này lần lợt là 40,04% và 58,44%.
1.2. Thu hút đầu t nớc ngoài vào ngành du lịch.
Hàng năm Việt Nam đón khoảng 3 triệu lợt khách du lịch, do vậy, vấn đề
môi trờng du lịch cùng cơ sở hạ tầng cho du lịch càng cần chú trọng trong tình
hình hiện nay. Cùng với sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam thì lĩnh vực dịch vụ ngày càng thu hút nhiều dự án với tổng số vốn
đăng ký lớn. Trong đó đầu t vào lĩnh vực du lịch (không tính các dự án xây dựng
và kinh doanh khách sạn) cũng ngày càng gia tăng.
Tính đến cuối năm 2006, cả nớc hiện có 56 dự án đầu t vào lĩnh vực du lịch
còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 716,95 triệu USD, chiếm 4,18% về số dự án
và 3,99% về vốn đăng ký trong lĩnh vực dịch vụ. So với tổng chung thì lĩnh vực du
lịch chiếm 0,84% số dự án và 1,21% về tổng vốn đăng ký. Riêng năm 2006 số dự
*Nhận xét, đánh giá:
Hiện nay, ĐTNN trong lĩnh vực du lịch tại Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn so
với lĩnh vực dịch vụ nói riêng và so với tổng số đầu t nớc ngoài của cả nớc và cha tơng
xứng với tiềm năng của các nhà đầu t cũng nh tiềm năng du lịch của nớc ta.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập và mức sống của ng-
ời dân ngày một nâng cao, cùng với sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam, trong t-
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ơng lai sẽ có nhiều nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển
này.
Trớc mắt có 3 dự án lớn có khả năng thực hiện trong thời gian tới đó là: (i) dự án
của tập đoàn Rockingham (Hoa Kỳ) đầu t vào Phú Quốc, mục tiêu khu nghỉ dỡng cao cấp
và các khu vui chơi giải trí, trờng đua ô tô với tổng diện tích lên tới 1000 ha, tổng vốn
đầu t lên tới 1 tỷ USD; (ii) dự án đầu t của tập đoàn Automind Capital Group Inc
(Canada) liên doanh với Công ty cổ phần Đông Dơng đầu t 130 triu USD, diện tích 88
ha tại thị trấn An Thới làm cảng biển du lịch, nhà ở cho ngời nớc ngoài và khu bảo tồn
sinh thái; (iii) Dự án của tập đoàn Victoria đầu t khu du lịch cao cấp vào Mũi Ông Quới,
vốn đầu t trên 40 triệu USD trên diện tích 22 ha.
1.3. Tình hình triển khai thực hiện của các dự án FDI trong ngành du lịch.
Nhìn chung, các dự án FDI trong ngành du lịch đợc cấp phép đến nay đều
hoạt động có hiệu quả. Một số dự án gặp khó khăn trong thời kỳ xảy ra cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ đã đợc tổ chức lại và đã dần hoạt động có hiệu quả
trở lại. Tính tới thời điểm này tổng vốn thực hiện của các dự án trong lĩnh vực du
lịch là 153,73 triệu USD, chiếm 21,44% so với tổng vốn đăng ký, thấp hơn nhiều
so với bình quân về vốn thực hiện của cả nớc (48,57%). Tuy nhiên, trong năm
2006 một số dự án đợc cấp phép trong năm 2005 và 2006 đang triển khai xây
dựng cơ bản và chuẩn bị triển khai thì số vốn thực hiện trong lĩnh vực này trong
thời gian tới đây sẽ tăng cao lên rất nhiều, nhất là dự án Winvest Investment đầu t
ở Bà Rịa-Vũng Tàu với vốn đầu t đăng ký là 300 triệu USD, khi dự án này triển
khai thực hiện sẽ góp phần nâng tổng vốn thực hiện của các dự án đầu t trong lĩnh
tới sự biến động của dòng vốn nớc ngoài vào Việt Nam. Từ năm 2000, vai trò của
khu vực dịch vụ có xu hớng giảm đi, dòng vốn đầu t vào lĩnh vực công nghiệp và
xây dựng giờ đây có tác động mạnh mẽ tới sự biến động của dòng vốn đầu t nớc
ngoài. Xu hớng này cũng từng thấy trong thu hút vốn nớc ngoài của Trung Quốc
trớc đây 10 năm.
Bng 2: u t nc ngoi theo lnh vc
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy dịch vụ và công nghiệp xây dựng là hai ngành
chính mà thu hút được đầu tư nước ngoài nhiều nhất ở Việt Nam trong suốt thời kì
1988 -2004.Ta thấy rằng sự gia tăng về số vốn trong công nghiệp xây dựng có vẻ
như đều đặn hơn các ngành khác,không có nhiều đột biến về sự tăng giảm như
ngành dịch vụ. Cụ thể vào năm 1996 vốn trong ngành dịch vụ gia tăng một cách đột
ngột,đạt kỉ lục trên 5 tỉ USD trong tổng số 9 tỉ USD của tất cả các ngành.Nhưng
trong những năm tiếp do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ 1997
trên toàn Châu Á đã làm dòng vốn đầu tư nước ngoài giảm sút mạnh,FDI vào dịch
vụ giảm liên tục trong những năm 1997 đến giờ.
Để làm rõ tỷ trọng của ngành dịch vụ nói chung cũng như ngành du lịch nói
riêng chúng ta có thể tham khảo bảng số liệu về đầu tư nước ngoài theo ngành như
sau
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
24 Bng 3: ầu t trực tiếp nớc ngoài theo ngành 1988-2006
(tính tới ngày 18/12/2006 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
ST
T Chuyên ngành
063
6,826,903,4
64
CN thực phẩm 275
3,252,939
,416
1,395,591,
219
1,958,634,5
68
Xây dựng 356
4,165,155
,207
1,471,444,
727
2,135,888,4
88
II
Nông, lâm nghiệp 831
3,884,827,39
5
1,784,709,81
1
1,914,766,029
Nông-Lâm nghiệp 718
3,558,305
,715
1,640,405,
930
1,749,012,1
3,289,109
,568
1,489,140,
921
2,316,773,8
32
Tài chính-Ngân hàng 64
840,150
,000
777,395,
000
729,870,0
77
Văn hóa-Ytế-Giáo dục 226
980,095
,862
429,723,
794
381,562,8
25
XD Khu đô thị mới 6
3,077,764
,672
854,920,
500
51,294,5
98
XD Văn phòng-Căn hộ 120
4,433,346
,984
chung và khu du lịch nói riêng rất nhiều dự án được đầu tư cũng như tiến độ triển
khai vốn rất nhanh chóng. Cho đến tháng 3 năm 2007 có 295 dự án được đầu tư tại
Viêt Nam trong việc phát triển các khu du lịch (kể các dự án đã giải thể) với tổng
vốn đầu tư là 6,92 tỷ USD,vốn pháp định là 3,007 tỷ USD và vốn đầu tư ban đầu là
5,726 tỷ USD chiếm 3,5 % số dự án đầu tư nước ngoài và đến 8 % số vốn đầu tư.
Trong các dự án đã có 75% dự án đi vào hoạt động và chiếm khoảng 60% về vốn
,điều đó thể hiện số vốn cho các dự án khu du lịch được giải ngân rất nhanh hơn các
ngành nghề khác.Điều này cũng dễ hiểu bởi hoạt động du lịch mang tính thời vụ
cao,các nhà đầu tư muốn thu được hiệu quả cao đòi hỏi phải đầu tư đúng lúc và
tranh thủ thời gian.Còn nếu tính loại trừ các dự án đã giải thể thì chúng ta có
148 dự án đang hoạt động với Tổng vốn đầu tư là 2,98 tỷ USD và vốn pháp định là
1,22 tỷ USD vốn thực hiện là 2,096 tỷ USD.(số liệu Cục Đầu tư nước ngoài)
Cho đến nay có 32 đất nước,vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam trong lĩnh
vực khu du lịch(đến tháng 3-2007) ,ta có bảng tổng kết những nước có nhiều dự án
cũng như số vốn đầu tư lớn như sau( Tính cả những dự án đã giải thể và hết hạn)
25