LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 07/11/2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức
Thương mại thế giới kết thúc 11 năm đàm phán gia nhập. Thế và vận mới cho nền
kinh tế chúng ta,nhiều thử thách và thuận lợi cho mục tiêu phát triển đất nước.
Đầu tư nước ngoài đã đang và sẽ trở thành một nhiệm vụ quan trọng cho đất
nước ta để đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư phát triển nền kinh tế.Chúng ta không thể
phủ nhận vai trò rất tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài,trực tiếp và gián tiếp
tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nước Việt Nam. Ngành du lịch nói chung
và quá trình phát triển các khu du lịch nói riêng cũng chịu sự tác động này,bộ mặt
của ngành đã thay đổi từ khi các nhà đầu tư nước ngoài vào cuộc.Việt Nam đã có
thể có đủ điều kiện để tổ chức các hội nghị quốc tế mang tầm cơ thế giới với một cơ
sở hạ tầng du lịch đạt tiêu chuẩn, nhiều khách sạn đã đón tiếp thành công các đoàn
quốc tế,nhiều khu du lịch đã làm hài lòng khách du lịch nước ngoài.Hội Nghị Cấp
Cao APEC năm 2006 là một bằng chứng .
Mặc dù vậy Việt Nam vẫn rất cần đầu tư nước ngoài tham gia tích cực hơn
nữa vào phát triển du lịch cũng như các khu du lịch- như một điều kiện tiên quyết.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay,năng lực cạnh tranh của ngành du
lịch Việt Nam cần được cải thiện về mọi mặt,có như thế chúng ta mới không bị bỏ
lại quá xa với thế giới và đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế.Bài viết xin được đề
cập đến thực trạng đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khu du lịch,nêu lên những mặt
được cũng như những mặt còn tồn tại trong quá trình phát triển khu du lịch,từ đó
xin đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa dòng vốn đầu tư nước ngoài
vào khu du lịch ở Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú,anh chị ở Cục Đầu tư nước ngoài-Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, đã giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.Em cũng
chân thành cảm ơn,Giảng viên-Tiến sĩ Phạm Văn Hùng đã hướng dẫn tận tình,đúng
đắn,kịp thời về mặt nội dung của chuyên đề thực tập.
1
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH Ở VIỆT NAM
một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần,đạo đức do đó tạo nên các hoạt động
kinh tế.
Khác với các quan điểm trên,các nhà học giả biên sọan Bách khoa toàn thư Việt
Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các
chuyên gia : nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích
cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích :nghỉ ngơi,giải trí,xem danh lam
thắng cảnh,di tích lịch sử… Theo nghĩa thứ hai, du lịch được coi là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt : nâng cao hiểu biết về thiên nhiên
,truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc,từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất
nước đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế du
lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn ;có thể coi là hình thức xuất
khẩu hàng hóa dịch vụ tại chỗ.
Như vậy không thể có một cách hiểu hoàn toàn thống nhất về du lịch mà mỗi
một người có thể đưa ra các cách tiếp cận khác nhau. Du lịch là một phạm trù không
mới những cũng rất khó có thể thống nhất bởi với một vấn đề nó sẽ đáp ứng một
mục đích khác. Dù hiểu như thế nào chăng nữa du lịch đựơc tổng hợp theo hai ý
sau: (i) Sự di chuyển và lưu trú trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân nhằm mục đích
phục hồi sức khỏe…(ii) Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thõa mãn nhu
cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển ấy.
Du lịch nói chung có rất nhiều thành phần: nó có thể là tour du lịch , là đón tiếp
khách du lịch và cung ứng các dịch vụ liên quan… Trong đó khu du lịch có thể nói
là được đề cập đến nhiều nhất trong kinh doanh dịch vụ du lịch. Nó nhiều khi được
3
gọi là điểm du lịch.Theo nghĩa chung nhất Khu du lịch là những chỗ hoặc cơ sở mà
khách du lịch đến và lưu trú,Khu du lịch có thể là những chỗ không có dân cư. Đó
là nghĩa rộng của khu du lịch. Tuy nhiên trongkinh tế du lịch,điểm du lịch là một
nơi,một vùng có sức hấp dẫn đặc biệt với dân ngoài địa phương và có những thay
đổi nhất định trong kinh té do hoạt động du lịch gây nên. Theo định nghĩa trên thì
khu du lịch(điểm du lịch)có thể là bất cứ điểm lớn hay nhỏ có tài nguyên du
lịch( tài nguyên tự nhiên,nhân văn…) và có hoạt động du lịch phát triển(Sách Kinh
các lí do khác nhau như học tập công tác,hội nghị…Trong những chuyến đi này
không ít người đã sử dụng các dịch vụ như lưu trú,ăn uống ở khách sạn,nhà nghỉ…
Những lúc đó có thể coi họ đang thực hiện một chuyến du lịch kết hợp trong chuyến
đi của mình.
*Phân loại theo mục đích tham quan : Tham quan là hành vi quan trọng của con
người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh .Đố tượng tham quan có thể là
một tài nguyên du lịch tự nhiên như một phong cảnh kì thú cũng có thể là một tài
nguyên du lịch nhân văn như khu di tích…Về mặt ý nghĩa hoạt động tham quan là
một trong những hoạt động để chuyến đi đựoc coi là chuyến du lịch.
*Du lịch giải trí: Mục đích của chuyến đi là thư giãn xả hơi bứt ra khỏi công
việc thường nhật căng thẳng để hồi phục sức khỏe. Với mục đích này du khách chủ
yếu muốn tìm đến những nơi yên tĩnh có không khí trong lành. Có thể có nhu cầu
tham quan hoặc các nhu cầu khác song mục tiêu đó không phải là cơ bản.
*Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch
là phục hồi sức khỏe công đồng.Địa chỉ của các chuyến đi nghỉ dưỡng là những nơi
có không khí trong lành ,khí hậu dễ chịu,phong cảnh ngoạn mục như các bãi biễn
các vùng ven bờ nước,vùng núi,nông thôn… cho đến nay du lịch du Việt Nam vẫn
chủ yếu kinh doanh loại hình này.
*Du lịch lễ hội: ngày nay lễ hội là một yếu tố rất hấp dẫn du khách. Chính vì vậy
việc khôi phục các lễ hội truyền thống,việc tổ chức các lễ hội mới không chỉ là mối
5
quan tâm của các cơ quan đoàn thể quầchúng xã hội mà còn là một hướng qụan
trọng của ngành du lịch
Ngoài ra du lịch còn có thể được phân thành du lịch quốc tê- du lịch nội địa hay
là du lịch miền biển- du lịch miền núi…
*Phân loại khu du lịch:
• Khu du lịch có thể phân thành 4 nhóm chính : khu du lịch thiên
nhiên,khu du lịch văn hóa,khu du lịch đô thị và điểm đầu mối giao
thông.
• Khu du lịch thiên nhiên gồm những khu du lịch mà hoạt động của
nào thì các kết quả đã dự kiến là thích hợp . Những biến thiên nào có thể ảnh hưởng
đến đầu tư du lịch ? Đối với một công ty du lịch người ta có thể kể đến các tỉ xuất
chiếm giữ ,cơ cấu của giá cả ,chi phí về nhân công,mặt bằng ,năng lượng ,kiểu loại
lợi tức và chiết khấu xã hội …
* Việc đánh giá các đầu tư: Hai yếu tố khoản tiền vay và vốn –đối với tiền vay
cần biết tỉ suất lợi tức của sự tài trợ và phải biết quyết định một kế hoạch về sự hoàn
trả và đảm bảo đối với vốn cũng có thể được cấu thành bằng tự cấp vốn …
b) Những chi phí đầu tư . Đối với một đầu tư về Khu du lịch cần lưu ý: Kết quả
ròng thu được bằng cách khấu trừ đi kết quả gộp những khấu hao những chi phí tài
chính những điểm phụ cố định khác như tiền thuê nhà,tiền bảo hiểm,tiêng thuế địa
phương… những tiền lỗ và những lợi nhuận bất thường và thuế đánh vào lợi nhuận.
Do đó xác định số lãi ròng đòi hỏi ngay từ lúc đầu việc phân tích ngân sách đầu tư.
Ngân sách đó sẽ phụ thuộc vào kiểu loại xí nghiệp được cân nhắc. Nó sẽ không như
ngân sách cho một khách sạn,một hãng du lịch hay một công ty vận tải,đối với một
cơ sở chứa trọ gồm: mặt hàng và việc chuẩn bị để xây dựng,việc xây dựng,các động
sản và các trang bị vật liệu để kinh doanh khai thác,chi phí khai trương quảng cáo…
Nhưng ngoài số đầu tư ban đầu không được coi thường những đầu tư đổi mới theo
quản điểm của chính sách bão dưỡng một khu du lịch.
7
c) Những tiêu chuẩn về khả năng sinh lời của một đầu tư du lịch: Có thể được
phân thành 2 nhóm như sau:Những tiêu chuẩn quyết định khả năng sinh lời đối với
những gía trị hiện hành hàng năm, những tiêu chuẩn sử dụng kĩ thuật của giá trị
hiện thời.
d) Du lịch là ngành mà đòi hỏi sự kết hợp giữa các yếu tố xã hội là rất lớn, một
khu du lịch được hình thành sẽ ảnh hưởng đến không chỉ ở tại địa phương đó mà
còn có tính lan tỏa đến xã hội . Vì vậy đầu tư vào khu du lịch bắt buộc phải nằm
trong những quy hoạch cụ thể,tính đến các tác động tới con người địa phương cũng
như môi trường –đặc biệt là môi trường-một nhân tố quyết định sự thành bại cũng
như sự tồn tại lâu dài của một khu du lịch. Môi trường mà đuợc bảo vệ ngay từ khi
dự án được hình thành không những giúp chúng ta tận dụng được cách hiệu quả
động đến tất cả các lĩnh vực củ nền kinh tế,góp phần vào GDP,giải quyết một khối
lượng công ăn việc làm, có tính liên ngành cao.Cùng với thời gian bộ phận kinh tế
có vốn đầu tư nước đã trở thành bộ phận hữu cơ của nền kinh tế. Năm 2005 khu
vực đầu tư nước ngoài tạo ra 14.5% GDP,chiếm 17.4% vốn đầu tư toàn xã hội,54%
kim ngạch xuất khẩu,tạo ra 1,2 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động
gián tiếp.
Với chủ trương phát triển ngành du lịch là ngành mũi nhọn của đất nước, thời
gian qua du lịch luôn luôn được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ. Chính đầu tư
nước ngoài đã giúp cho chúng ta thay đổi bộ mặt về ngành du lịch,với những khách
sạn cao cấp,những khu du lịch nổi tiếng được khai thác với số vốn chủ yếu từ bên
ngoài hoặc do liên doanh. Nếu trước đây (trước1986) ngành du lịch chủ yếu là thu
hút khách nội địa với doanh thu rất ít,thì từ khi có đầu tư nước ngoài nhảy vào
chúng ta đã có cơ sở vật chất cũng như giao thông vận tải,cùng với các địa điểm du
lịch nổi tiếng để thu hút khách du lịch nước ngoài và thực sự Việt Nam đã để lại
trong con mắt bạn bè quốc tế một ấn tượng tốt về con người cũng như cảnh quan
thiên nhiên. Cũng như các ngành khác, đầu tư nước ngoài đã tạo ra công ăn việc
làm gián tiếp và trực tiếp,giúp chúng ta khai thác tốt những tiềm năng du lịch đòi
hỏi số vốn lớn, đóng góp vào sự phát triển chung,chúng ta có thể có một khả năng
9
tổ chức tốt các hội nghị cấp cao với những khách sạn 5 sao, có thể tự hào với Vịnh
Hạ Long,Hội An,Phong Nha Kẽ Bàng….với các tour du lịch sự kiện thành công.
Cùng với ngành du lịch thì đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tác động mạnh mẽ tới
việc phát triển khu du lịch ở Việt Nam. Như đã nói ở trên chúng ta có một tiềm năng
du lịch rất lớn,trước khi đổi mới do điều kiện chủ quan chúng ta không thể thúc đẩy
xây dựng các khu du lịch. Thế nhưng từ khi FDI được vào Việt Nam thì bộ mặt các
khu du lịch đã đổi thay hẳn. Chúng ta đã có vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng cũng
làm thay đổi phong cách kinh doanh du lịch,chúng ta đã biết tận dụng vai trò của
FDI giúp nó trở thành một công cụ thúc đẩy sự phát triển các Khu du lịch. Hàng
trăm dự án được thông qua,với số vốn lên đến hàng tỉ USA,chúng ta không chỉ có
khách sạn,khu du lịch sinh thái,vui chơi giải trí…mà còn có những khu nghỉ mát
còn rất mới mẻ của chúng ta, kinh nghiệm mà chúng ta co đựơc là rất khiêm tốn vì
vậy thu hút FDI và đặc biệt là sự có mặt của các tập đoàn và lữ đoàn du lịch có kinh
nghiệp lâu năm trên thế giới thì việc học hỏi kinh nghiệm cũng như tác phong công
việc đối với chúng ta sẽ dề dàng hơn.Thực tế đã chứng minh các khách sạn cao cấp
của chúng ta đang có hiện nay đều là đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức là
100% vốn nước ngoài hay là liên doanh,các khu vui chơi giải trí đều có mặt của các
nhà đầu tư nước ngoài hoặc các Việt kiều.
Như vậy không chỉ trong toàn bộ nền kinh tế thu hút FDI là một tất yếu hiện nay
mà trong việc phát triển các khu du lịch nó trở nên cần thiết và cấp bách .Có vẻ như
hiện nay các khu du lịch cũng đang trông chờ vào nguồn vốn từ nước ngoài để phát
triển,nhiều nơi đã có sự đầu tư của các địa phương nhưng nều như số vốn đủ thì quá
trình quản lí lại lỏng lẻo,thiếu khoa học nên dẫn đến tình trạng im hơi lặng tiếng và
kém hấp dẫn của các khu du lịch ,còn thì hầu hết đều thiếu vốn đầu tư và có đầu tư
thì chỉ mang tính nhỏ giọt và thiếu đồng bộ làm cho các khu du lịch không thể phát
triển nhanh và toàn diện được. Vì vậy chúng ta phải tích cực hơn nữa trong công
tác xúc tiến đâu tư vào các khu du lịch. Chỉ có thu hút đầu tư nước ngoài các Khu
11
du lịch ở Việt Nam mới có thể phát huy tối đa tiềm năng của mình và đáp ứng tốt
yêu cầu của nền kinh tế quốc dân
5. Nội dung đầu tư phát triển khu du lịch.
Bởi vì khu du lịch là một trong những khía cạnh của ngành du lịch,vì thế khi
đề cập đến vấn đề nội dung đầu tư vào khu du lịch tác giả muốn nói qua về nội dung
đầu tư trong du lịch
5.1 Đầu tư vào du lịch
Ngành du lịch là một ngành có tính xã hội cao và nó tác động bởi nhiều ngành
trong nền kinh tế vì vậy đầu tư vào du lịch đòi hỏi cũng phải có tính toàn diện mới
có thể phát huy được hiệu quả . Một số nội dung cần quan tâm khi đầu tư vào du
lịch như sau:
a) Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và trang bị:
Khởi đầu phân biệt lần thứ nhất giữa đầu tư cho cơ sở hạ tầng và trang thiết bị là
lượng dích vụ phụ thuộc vào hệ số EP/I nó diễn đạt sự đóng góp về số lượng của
nhân tố lao động theo đơn vị đầu tư cố định.
Ví dụ trên cho thấy lao động và đầu tư vào du lịch.Bên cạnh đó có một nhân tố
rất đặc biệt trong du lịch là tính thời vụ vì vây sử dụng lao động trong du lịch cũng
mang tính thời vụ rất nhiều. Vì vậy nhiều khi người ta có thể sử dụng lao động như
một lực lựợng làm thêm và ít khi chú trọng đến công tác đào tạo. Chúng ta có thể
tham khảo bảng sau:
Bảng 1:Thang bậc công việc du lịch
13
(Nguồn: Sách Nhập môn khoa học du lịch-NXB ĐH Quốc gia HN)
Như vậy trong ngành du lịch thì ngoài việc cần một số lượng lao động nhiều
thì thang bậc trong nguồn nhân lực cũng rất phức tạp và đa dạng,nó cần nhiều cấp
học cũng như chuyên môn khác nhau,mỗi cấp phù hợp với mỗi thang bậc. Điều đó
đòi hỏit trong việc đào tạo cần chú trọng sự đa dạng trong cấp học tránh tình trạng
cử nhân thì nhiều mà trung cấp thì ít,nó không những tạo ra sự lãng phí mà còn cản
trợ sự phát triển toàn diện của du lịch.
c) Đầu tư cho xúc tiến quảng bá du lịch
Có thể nói đây là một nội dung rất mới so với các lĩnh vực khác mà chỉ riêng
có ở ngành du lịch. Bởi vì để có doanh thu thì ngành du lịch phải quảng bá hình ảnh
14
Trình
độ
KV tổ chức
DL
KV dịch vụ đón
tiếp
KV công cộng KV du lịch
có trọ ở
CV quản lí
cho cả 4 KV
cấp
Người chịu
trách nhiệm
vận
tải,trưởng
các hợp
đồng khoán
việc,CĐV
bán hàng,tổ
chức HN
tuyên truyền
Người đựoc tin
và đi tháp
tùng.Phiên dịch
hướngdẫn,người
cổ động,chiêu
đãi viên hàng
không sân
bay…
Người hướng dẫn
của quốc gia,người
cổ động,tổ chức
hội nghị chủ nhà
địa phương
Cổ động
,huấn luyện
viên ,người
trông nhà,cô
nưôi dạy trẻ
Kế toán
chung còn rất ít và đầu tư chưa thật nhiều và hiệu quả. Ví dụ: Thái Lan chi phí cho
quảng bá du lịch là 60 triệu USD,Singapore là 80 triệu USD còn Việt Nam chỉ
khoảng 100.000 USD một con số chưa thỏa đáng với tiềm năng của chúng ta đang
có. Việt Nam chúng ta kinh nghiệp làm du lịch chưa thật nhiều ,chúng ta đang phải
vừa làm vừa học hỏi,vì vậy đầu tư cho quảng bá ,xúc tiến du lịch là một hành động
làm cho thế giới biết đến chúng ta nhiều hơn ,hình ảnh của Viêt Nam trong con mắt
bạn bè quốc tế sẽ được cải thiện. Đầu tư vào công tác tuyên truyền quảng bá trong
lĩnh vực du lịch là vấn đề tất yếu ,khách quan và là vấn đề của mọi ngành du lịch
trên thế giới.
5.2 Nội dung đầu tư vào khu du lịch
a. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng
Đối với sự phát triển của một khu du lịch thì đây là vấn đề then chốt quyết
định sự thành bại trong kinh doanh du lịch là điều kiện cần thiết để xây dựng và
phát triển một khu du lịch. Nhưng đầu tư vào những gì? Đó là đầu tư vào cơ sở vật
chất kĩ thuật,vào giao thông vận tải,vào điện nước,thông tin liên lạc…
Cơ sở vật chất kĩ thuật của một khu du lịch được quan tâm trước hết là điều
kiện ăn ở,vui chơi giải trí của nó,là hệ thống các công trình phụ trợ,điều kiện sinh
hoạt. Ví dụ với một khách sạn đó chính là hệ thống các phòng ốc, trang thiết bị
được sử dụng trong khách sạn có hiện đại hay không, đáp ứng được bao nhiêu nhu
cầu sử dụng của du khách. Bên cạnh đó là một loạt cơ sở các phòng ăn,phòng sinh
hoạt,và cả một khu vui chơi như sân thể thao,nhà văn hóa…Nói tóm lại là cả một hệ
thống phần cứng của một khu du lịch. Những vấn đề này thường được xây dựng
15
ngay từ khi dự án khu du lịch được triển khai và sẽ phản ánh mức độ hiện đại của
khách du lịch.
Ngoài ra khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng một vấn đề rất cần thiết là giao thông
vận tải_đây là mạch máu của nền kinh tế chứ không riêng gì các khu du lịch. Một
khu du lịch muốn phát triển tốt và lâu dài phải rất chú trọng đến giao thông,bởi vì
nó có tốt thì du khách mới đi lại thuận tiện. Hầu hết các khu du lịch ở Việt Nam
đều là các khu du lịch tự nhiên ,nằm ở vùng có canh quan thiên nhiên đẹp và vì thế
đất nước,không khí,âm thanh ánh sáng,hệ sinh thái trong đó có cảnh quan môi
trường.Đối với hoạt động du lịch cảnh quan môi trường có ý nghĩa quan trọng nhất.
Một khu du lịch có cảnh quan đẹp trước hết sẽ thu hút được khách du lịch từ khi
mới đi vào hoạt động, chúng ta phải biết đầu tư một cách hợp lí và hiệu quả trong
khâu đầu tiên này.Và trong suốt quá trình hoạt động chúng ta phải luôn tích cực đầu
tư và bảo vệ môi trường để nó không mất đi dáng vẻ ban đầu và luôn ấn tượng trong
du khách.Để bảo vệ cảnh quan môi trường cần nhận thức được đầy đủ các yếu tố
hình thành và tác động lên cảnh quan môi trường,đầu tư cho môi trường trước hết
chúng ta phải xây dựng những hạng mục công trình kiến trúc mang tính nhân tạo
như những tác phẩm nghệ thuật,hồ bơi,núi đồi nhân tạo…tạo ra sự gần gũi thiên
nhiên trong khu du lịch,ngoài ra phải đầu tư phát triển các cảnh quan tự nhiên để
làm sao nó không mất đi dang vẻ tự nhiên ban đầu.Đây là một quá trình lâu dài và
liên tục vì cảnh quan sẽ luôn bị bào mòn và phá hủy bởi môi trường cũng như do sự
tác động của con người làm suy giảm tính hấp dẫn của nó .Chúng ta vừa bảo vệ vừa
phục hồi.Đặc biệt một vấn đề quan trọng là phải đầu tư vào môi trường sinh hoạt
hàng ngày như môi trường nước,ánh sáng,phải xử lý chất thải khi ra môi trường vì
nó không những một sự phát triển bền vững thể hiện trách nhiệm đối với xã hội mà
còn nâng cao hình ảnh của khu du lịch trong con mắt của khách du lịch. Đầu tư cho
môi trường khu du lịch không chỉ mang tính hiện tại mà còn thể hiện sự phát triển
tương lai.
17
II. Tỡnh hỡnh thu hỳt v s dng FDI trong vic phỏt trin khu
du lch Vit Nam giai on 2001-2006
1. Tỡnh hỡnh thu hỳt FDI ca Vit Nam vo khu du lch
1.1Tỡnh hỡnh thu hỳt FDI núi chung ca c nc
Với việc thực hiện nhất quán đờng lối đổi mới nền kinh tế, trong đó đầu t trực
tiếp nớc ngoài là một bộ phận quan trọng, Việt Nam đã thực hiện pháp đồng bộ và
quan trọng để thu hút nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI). Tính từ năm
1988 (năm bắt đầu thực hiện Luật Đầu t nớc nhiều giải ngoài tại Việt Nam- năm
1987) đến tháng 12 năm 2006 cả nớc hiện còn hơn 6.800 dự án còn hiệu lực với
Hàng năm Việt Nam đón khoảng 3 triệu lợt khách du lịch, do vậy, vấn đề
môi trờng du lịch cùng cơ sở hạ tầng cho du lịch càng cần chú trọng trong tình
hình hiện nay. Cùng với sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam thì lĩnh vực dịch vụ ngày càng thu hút nhiều dự án với tổng số vốn
đăng ký lớn. Trong đó đầu t vào lĩnh vực du lịch (không tính các dự án xây dựng
và kinh doanh khách sạn) cũng ngày càng gia tăng.
Tính đến cuối năm 2006, cả nớc hiện có 56 dự án đầu t vào lĩnh vực du lịch
còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 716,95 triệu USD, chiếm 4,18% về số dự án
và 3,99% về vốn đăng ký trong lĩnh vực dịch vụ. So với tổng chung thì lĩnh vực du
lịch chiếm 0,84% số dự án và 1,21% về tổng vốn đăng ký. Riêng năm 2006 số dự
án đăng ký đầu t trong lĩnh vực du lịch là 7 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt
321,8 triệu USD cao nhất từ trớc tới nay.
*Phân theo địa phơng:
ĐTNN trong ngành du lịch đã có mặt tại 16 tỉnh/thành phố của Việt Nam,
trong đó Bà Rịa Vũng Tàu là địa phơng dẫn đầu về thu hút vốn ĐTNN trong
ngành du lịch với 4 dự án và tổng vốn đầu t là 306,5 triệu USD (chiếm 7,14% số dự
19
án và 42,7% vốn đầu t vào ngành du lịch), đáng chú ý là 1 dự án lớn của Tập đoàn
Winvest Investment LLC, Hoa Kỳ đầu t xây dựng khu nghỉ mát, khách sạn 5 sao,
khu vui chơi giải trí tại Cửa Lấp, thành phố Vũng Tàu với tổng vốn đầu t 300 triệu
USD.
Đứng thứ hai là thành phố Hồ Chí Minh với 11 dự án và tổng vốn đầu t là
150,6 triệu USD (chiếm 19,6% số dự án và 21% vốn đầu t đăng ký), tiếp theo là
các địa phơng Bình Thuận, Hà Nội, Đà Nẵng.......
Nhìn chung các dự án ĐTNN trong ngành du lịch tập trung ở các địa phơng
có cơ sở hạ tầng tơng đối tốt và có điều kiện tự nhiên để xây dựng khu du lịch ven
biển hoặc du lịch sinh thái.
*Phân theo đối tác:
Đã có 22 quốc gia và vũng lãnh thổ đầu t vào Việt Nam trong lĩnh vực du
lịch, trong đó dẫn đầu là Hoa Kỳ với 4 dự án, tổng vốn đầu t là 402,4 triệu USD
Tính tới thời điểm này tổng vốn thực hiện của các dự án trong lĩnh vực du lịch là
153,73 triệu USD, chiếm 21,44% so với tổng vốn đăng ký, thấp hơn nhiều so với
bình quân về vốn thực hiện của cả nớc (48,57%). Tuy nhiên, trong năm 2006 một
số dự án đợc cấp phép trong năm 2005 và 2006 đang triển khai xây dựng cơ bản
và chuẩn bị triển khai thì số vốn thực hiện trong lĩnh vực này trong thời gian tới
đây sẽ tăng cao lên rất nhiều, nhất là dự án Winvest Investment đầu t ở Bà Rịa-
Vũng Tàu với vốn đầu t đăng ký là 300 triệu USD, khi dự án này triển khai thực
hiện sẽ góp phần nâng tổng vốn thực hiện của các dự án đầu t trong lĩnh vực du
lịch lên cao hơn.
Doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đầu t trong lĩnh vực
du lịch đạt khoảng 800 triệu USD, đóng góp cho ngân sách nhà gần 100 triệu USD.
Các doanh nghiệp này tạo ra khoảng 30 nghìn việc làm trực tiếp cho các lao động
Việt Nam và hàng vạn lao động gián tiếp khác.
Một số dự án ĐTNN trong lĩnh vực du lịch hoạt động có hiệu quả nh: (i) Dự
án Công ty liên doanh Khu du lịch Bắc Mỹ An tại thành phố Đà Nẵng, mục tiêu:
21
xây dựng, kinh doanh khách sạn 4 sao, kinh doanh khu du lịch, trò chơi điện tử có
thởng với tổng vốn đầu t là 40 triệu USD, vốn thực hiện đạt trên 38 triệu USD, đây
là khu du lịch cao cấp, thu hút nhiều du khách trong nớc và quốc tế, là một địa
điểm nổi tiếng của Việt Nam nói chung và của khu vực miền Trung nói riêng; (ii)
Dự án Công ty TNHH Indochina Resort (Hội An) tại Quảng Nam, mục tiêu: xây
dựng, kinh doanh khu nghỉ mát khách sạn Hà My và các dịch vụ du lịch, vốn đầu
t 30 triệu USD; (iii) Dự án Winvest Investment LLC đầu t ở Bà Rịa-Vũng Tàu với
tổng vốn đầu t 300 triệu USD, đang trong quá trình triển khai xây dựng.
Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong lĩnh vực du lịch với kinh nghiệm và
khả năng quản lý cũng nh tổ chức của mình đã góp phần làm cho ngành du lịch
Việt Nam phát triển nhanh hơn. Với u thế về vốn các doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài đầu t vào lĩnh vực du lịch đã tạo ra nhiều khu du lịch và nghỉ dỡng cao
cấp, đáp ứng đợc đòi hỏi và nhu cầu của khách du lịch trong nớc và quốc tế. Các
trung tâm, khu du lịch này kết hợp với vẻ đẹp văn hoá truyền thống á Đông, bề dày
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
9th2004
Tổng đầu tư nước ngoài Dịch vụ
Nông-Lâm-Ngư nghiệp Công nghiệp và xây dựng
Nhỡn vo bng s liu ta thy dch v v cụng nghip xõy dng l hai ngnh
chớnh m thu hỳt c u t nc ngoi nhiu nht Vit Nam trong sut thi kỡ
1988 -2004.Ta thy rng s gia tng v s vn trong cụng nghip xõy dng cú v
nh u n hn cỏc ngnh khỏc,khụng cú nhiu t bin v s tng gim nh
ngnh dch v. C th vo nm 1996 vn trong ngnh dch v gia tng mt cỏch t
ngt,t k lc trờn 5 t USD trong tng s 9 t USD ca tt c cỏc ngnh.Nhng
trong nhng nm tip do nh hng ca cuc khng hong Ti chớnh tin t 1997
trờn ton Chõu ó lm dũng vn u t nc ngoi gim sỳt mnh,FDI vo dch
v gim liờn tc trong nhng nm 1997 n gi.
lm rừ t trng ca ngnh dch v núi chung cng nh ngnh du lch núi
riờng chỳng ta cú th tham kho bng s liu v u t nc ngoi theo ngnh nh
sau
23
Nh vy chỳng ta cú th thy du lch( khu du lch) chim 8.3% trong tng s
24
3,484,308,8
27
CN nặng 2007
18,897,265
,482
7,283,894,
063
6,826,903,4
64
CN thực phẩm 275
3,252,939
,416
1,395,591,
219
1,958,634,5
68
Xây dựng 356
4,165,155
,207
1,471,444,
727
2,135,888,4
88
II
Nông, lâm nghiệp 831
3,884,827,39
5
1,784,709,81
1
1,914,766,029
,735
2,435,748,
925
720,973,7
96
Khách sạn-Du lịch 164
3,289,109
,568
1,489,140,
921
2,316,773,8
32
Tài chính-Ngân hàng 64
840,150
,000
777,395,
000
729,870,0
77
Văn hóa-Ytế-Giáo dục 226
980,095
,862
429,723,
794
381,562,8
25
XD Khu đô thị mới 6
3,077,764
,672
854,920,
Viêt Nam trong việc phát triển các khu du lịch (kể các dự án đã giải thể) với tổng
vốn đầu tư là 6,92 tỷ USD,vốn pháp định là 3,007 tỷ USD và vốn đầu tư ban đầu là
5,726 tỷ USD chiếm 3,5 % số dự án đầu tư nước ngoài và đến 8 % số vốn đầu tư.
Trong các dự án đã có 75% dự án đi vào hoạt động và chiếm khoảng 60% về vốn
,điều đó thể hiện số vốn cho các dự án khu du lịch được giải ngân rất nhanh hơn các
ngành nghề khác.Điều này cũng dễ hiểu bởi hoạt động du lịch mang tính thời vụ
cao,các nhà đầu tư muốn thu được hiệu quả cao đòi hỏi phải đầu tư đúng lúc và
tranh thủ thời gian.Còn nếu tính loại trừ các dự án đã giải thể thì chúng ta có
148 dự án đang hoạt động với Tổng vốn đầu tư là 2,98 tỷ USD và vốn pháp định là
1,22 tỷ USD vốn thực hiện là 2,096 tỷ USD.(số liệu Cục Đầu tư nước ngoài)
Cho đến nay có 32 đất nước,vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam trong lĩnh
vực khu du lịch(đến tháng 3-2007) ,ta có bảng tổng kết những nước có nhiều dự án
cũng như số vốn đầu tư lớn như sau( Tính cả những dự án đã giải thể và hết hạn)
Bảng 4: 15 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn nhất trong
ĐTNN khu du lịch ( Tính đến ngày 30/3/2007)
STT Quốc gia Số
DA
Vốn đầu tư Vốn pháp
định
Vốn thực hiện
1 Singapore 30 1888135429 424942576 818443713
2 Hồng Kông 70 1088802518 428416196 732070567
25