Phân tích chiến lược của Công ty thời trang Việt – Thương hiệu NINOMAXX - Pdf 24

BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN PHƯƠNG
LINH
LỜI MỞ ĐẦU
Sản phẩm thời trang ngày nay không còn dừng ở một cái áo hay một cái quần cụ
thể, trong nó có các yếu tố văn hoá, trường phái, phong cách, thương hiệu, không gian
mua sắm, sự hài hoà của thiết kế… Ninomaxx đã là thương hiệu được người tiêu dùng
ưa chuộng tại thị trường Việt Nam thì phải mang lại cho người tiêu dùng sự phục vụ
tiện nghi và giá trị thương hiệu tốt hơn. Đẳng cấp không đồng nghĩa với cao cấp.
Ninomaxx là thương hiệu ở mức giá trung bình khá, ngoài ra còn tặng thêm các giá trị
gia tăng vào trong sản phẩm, đồng thời sẽ đưa ra thêm thương hiệu mới đáp ứng cho
các nhu cầu của phân khúc thị trường thấp hơn hoặc cao cấp hơn.Ninomaxx thành công
từ việc nắm bắt được thị hiếu của khách hàng để tung ra các sản phẩm phù hợp cho tới
thiết lập được một hệ thống phân phối có quy mô rộng lớn với hơn 150 cửa hàng trong
và ngoài nước đã thực sự tạo nên một bước đột phá trong ngành thời trang Việt Nam
đặc biệt là trong thời kì hội nhập ngày nay Ninomaxx đã mạnh dạn xâm nhập các thị
trường mới ở Mỹ, Úc, Campuchia càng cho thấy quyết tâm của công ty nhằm đưa
thương hiệu Ninomaxx tiến xa hơn nữa trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên
quốc tế.
Trên đây là một vài lí do chủ yếu khiến nhóm 7chúng tôi chọn NINOMAXX là
thương hiệu để tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “ Phân tích chiến lược của Công ty thời
trang Việt – Thương hiệu NINOMAXX ”.
Đây là lần đầu tiên thực hiện đề tài này nên nhóm chúng tôi không tránh khỏi
thiếu sót. Mong các bạn và thầy cô góp ý để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
NHÓM 7
NHÓM 7 – HK6B Page 1
BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN PHƯƠNG
LINH
I. PHÂN TÍCH THƯƠNG HIỆU:
1. Vài nét về công ty:
• Tên công ty: Công ty cổ phần thời trang Việt- NINOMAXX

Các mặt hàng của công ty chủ yếu đánh vào giới trẻ năng động với những thiết
kế phù hợp nhất với đi làm và đi chơi, phong cách thanh lịch, trẻ trung, quyến rủ tự
nhiên.Đây cũng là lứa tuổi dễ dàng thay đổi sở thích và phong cách cho phù hợp thời
trang nên công ty thường xuyên cho ra nhiều mẫu thiết kế mới, đa dạng.Bên cạnh đó
công ty còn co nhiều chính sách khuyến khích khách hàng tiêu dùng sản phẩm của mình
như : các hoạt động khuyến mại,tặng thẻ khách hàng thân thiết, tặng các quà tặng kèm
theo.
Với triết lí kinh doanh luôn mang lại sự trẻ trung năng động, thông dụng và đẹp
nhất cho khách hàng, công ty không ngừng nổ lực đem lại sự thỏa mãn cao độ nhất cho
khách hàng của mình.
NHÓM 7 – HK6B Page 2
BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN PHƯƠNG
LINH
II. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
1. Tốc độ tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp những năm gần đây:
Chỉ tiêu
Năm
Doanh thu
(tỷ)
Tỷ lệ
(%)
2007 131 100
2008 197.81 151
2009 191.26 146
 Nhận xét: Sự đa dạng các nhãn hàng và việc mở rộng mặt bằng bán lẻ trong 2 năm qua
đã giúp tăng trưởng doanh số bán của Thời Trang Việt lần lượt là 51% và 46% trong
năm 2008 và năm 2009 so với cùng kỳ năm 2007.
2. Giai đoạn trong chu kỳ phát triển ngành:
Năm 1998 thương hiệu Ninomaxx ra đời với mục tiêu “xây dựng thương hiệu
thời trang casual wear đầu tiên cho giới trẻ Việt Nam”. Sản phẩm Ninomaxx ngày càng

Ngoài ra, cửa hàng phân phối cũng chính là kênh quảng bá cho công ty bên cạnh
chức năng đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, việc nhượng quyền của các công ty thời
trang Việt Nam chưa có một tiêu chuẩn nhất định. Cộng thêm việc quy hoạch thành phố
chưa tốt khiến cho nhiều cửa hiệu thời trang lạc lõng so với cảnh quan xung quanh.
Chính điều này sẽ làm giảm giá trị thương hiệu của công ty.
Với sự nâng cấp hệ thống phân phối, hình ảnh của Ninomaxx cũng gián tiếp
được nâng lên theo cách mà các công ty thời trang quốc tế hay làm.
- Giai đoạn trưởng thành:
Có thể thấy rằng, việc định hướng xây dựng thương hiệu ngay từ đầu đã giúp
Ninomaxx có vị thế như ngày nay. Bên cạnh đó, việc đầu tư cho khâu thiết kế, huấn
luyện nhân viên bán hàng, tiêu chuẩn trưng bày sản phẩm… cũng giúp Ninomaxx tạo
được bản sắc riêng cho thương hiệu mình.
Năm 2007, NinoMaxx được Hiệp hội Dệt may VN bình chọn là doanh nghiệp
chiếm lĩnh thị trường nội địa tốt nhất và thương hiệu mạnh nhất với doanh số bán hàng
đạt hàng trăm tỉ đồng/năm (năm 2006 doanh thu công ty đạt 200 tỷ)
Việc kết hợp 2 thương hiệu riêng lẻ để phục vụ cho đối tượng khách hàng không
quá khác biệt nhau đã giúp nhân đôi sức mạnh thương hiệu Ninomaxx của công ty.
3. Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô:
Nhân tố Tác động
Kinh tế - Phần lớn giá trị của ngành may Việt Nam là đến thự hoạt động
về tỷ giá, lạm phát và sự ổn định hay suy thoái của nền kinh tế
Mỹ có ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu của ngành.
-
Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng may mặc lớn
nhất
của Việt Nam. Sự suy thoái của nền kinh tế lớn nhất
thế giới này
sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu Mỹ tìm đến
những nguồn hàng

phần làm tăng chi phí của
doanh nghiệp và tất yếu làm cho giá
thành sản phẩm của
doanh nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, khi giá
thành sản phẩm tăng lên thì doanh nghiệp may lại gặp khó khăn
trong hoạt động xuất khẩu. Nguyên nhân là vì sự cạnh tranh giữa
các nước xuất khẩu may mặc là rất gay gắt. Nếu giá hàng may
mặc của Việt Nam tăng lên thì các đối tác nhập khẩu sẽ
ngay
lập tức chuyển hướng sang các nước khác có giá
thấp hơn, dẫn
đến kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc sẽ

bị giảm sút.
Chính trị luật pháp
- Trong quyết định 36/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 về phê duyệt
Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Việt Nam đặt mục tiêu
phát triển ngành Dệt May trở thành một trong
những ngành công
nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất
khẩu; đáp ứng ngày càng
cao nhu cầu tiêu dùng trong
nước; tạo nhiều việc làm cho xã
hội; nâng cao khả năng
cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế
khu vực và thế giới. Do đó, ngành may Việt Nam trong thời gian
tới sẽ được ưu tiên phát triển.
-
Dệt may vốn là một lĩnh vực khá nhạy cảm trong quan hệ

Doanh nghiệp dệt may của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn thực hiện đơn hàng
gia công xuất khẩu cho nước ngoài. Số doanh nghiệp có khả năng thiết kế và sản xuất
các sản phẩm thời trang hiện vẫn chưa nhiều. Do đó, giá trị gia tăng trong các sản phẩm
NHÓM 7 – HK6B Page 5
BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN PHƯƠNG
LINH
may mặc Việt Nam còn thấp, dẫn đến lơi nhuận thu về chưa tương xứng với khả năng
cũng như giá trị xuất khẩu cao trong những năm qua. Bên cạnh đó, các DN may mặc
trong nước lại chưa chú trọng đến thị trường nội địa với số dân đông đảo hiện nay.
Chính vì thế, hàng may mặc Việt Nam được đánh giá khá cao tại nước ngoài thì lại
không được coi trọng trong nước.
b. Quyền lực thương lượng từ nhà cung ứng:
Ngành may mặc Việt nam hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào nguyên liệu
nhập khẩu từ nước ngoài (chiếm 70% - 80%). Công nghiệp phụ trợ chưa thực sự phát
triển, nguyên vật liệu chủ yếu nhập khẩu nước ngoài, tỷ lệ gia công cao, năng lực cạnh
tranh yếu
c. Quyền lực thương lượng từ người mua:
Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì con người càng
chú trọng đến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong đó có quần áo. Thêm vào
đó, xu hướng và thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng đối với các sản phẩm
may mặc cũng có sự biến đổi liên tục. Nếu doanh nghiệp không chú trọng đầu
tư và thiết kế sẽ nhanh chóng tụt hậu. Tuy nhiên, tâm lý người Việt Nam “ăn
chắc mặc bền” nên vẫn chuộng những sản phẩm có chất lượng tốt và giá rẻ.
d. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành:
Theo thống kê của Hiệp hội dệt may Việt Nam, phân theo nguồn vốn chủ sở hữu
thì số DN ngoài quốc doanh là 1172 DN; DN nhà nước là 307 DN và DN có vốn đầu tư
nước ngoài là 472 DN. Điều này cho thấy cường cạnh tranh rất lớn.
e. Đe dọa từ sản phẩm thay thế:
Hàng may mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và mẫu mã đa dạng, thường xuyên
thay đổi và khá phù hợp với thị hiếu người Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường may


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status