Phân tích chiến lược của công ty bảo hiểm Bảo Việt - Pdf 30

Quản trị chiến lược 1.2
Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU
I-Giới thiệu về Bảo Việt:
1.1: Sơ lược về Bảo Việt………………………………………………………2
1.2 Cơ cấu tổ chức…………………………………………………………….2
1.3: Lĩnh vực hoạt động……………………………………………………….3
1.4: Tầm nhìn và Sứ mệnh của công ty……………………………………….4
1.5: Tình hình tài chính của doanh nghiệp……………………………………6
II. Môi trường bên ngoài
2.1. Phân tích ngành…………………………………………………………...7
2.2. Đánh giá cường độ cạnh tranh..…………………………………………12
2.3. Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô……………………………….15
MÔ THỨC EFAS..…………………………………………………………..19
III :Nhân tố bên trong
3.1:Sản phẩm và thị trường chủ yếu của công ty…………………………….21
3.2 Năng lực đặc thù và vị thế của công ty…………………………………..22
3.4: Mô thức IFAS...…………………………………………………………26
IV: Chiến lược của công ty
4.1: Mô thức TOWS………………………………………………………....29
4.2: Chiến lược của công ty………………………………………………….30
4.3: Đánh giá…………………………………………………………………34
4.4: Một số những góp ý……………………………………………………..35
KẾT LUẬN
1
Quản trị chiến lược 1.2
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế
giới, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp được mở rộng song sự cạnh
tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Điều này vừa tạo ra các cơ hội kinh doanh
đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng đe dọa sự phát triển của các

sở chính hiện có 23 phòng chức năng, chia thành 4 khối là khối quản lý hoạt động,
khối quản lý kênh phân phối, khối kinh doanh trực tiếp và khối quản lý nghiệp vụ.
Các phòng đều được cơ cấu theo hướng chức năng nhiệm vụ rõ ràng, trong đó các
2
Quản trị chiến lược 1.2
khối quản lý, kinh doanh được cấu trúc theo hướng chuyên môn hóa các loại hình
nghiệp vụ. Bảo hiểm Bảo Việt hiện có 66 công ty thành viên tại 64 tỉnh, thành phố
trên toàn quốc, mỗi công ty thành viên đều có Giám đốc và Phó giám đốc đảm
nhiệm điều hành hoạt động của từng đơn vị.
Hệ thống tổ chức quản lý tại Bảo Việt được áp dụng theo mô hình trực tuyến
chức năng. Mô hình này cho phép người lãnh đạo có toàn quyền quản lý, chỉ đạo và
phát huy chức năng của các phòng ban trực thuộc. Các phòng ban tiến hành nghiên
cứu theo nhiệm vụ và chắc năng của mình sau đó đề xuất ý kiến để Ban giám đốc
đưa ra quyết định cuối cùng.
Mô hình tổ chức bộ máy Bảo hiểm Bảo Việt
1.3: Lĩnh vực hoạt động:
Căn cứ vào Giấy phép thành lập và hoạt động của Tổng Công ty Bảo hiểm
Bảo Việt số 45/GP/KDBH do Bộ Tài chính cấp ngày 23/11/2007 kinh doanh bảo
hiểm gốc Bảo hiểm Bảo Việt được phép kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi
nhân thọ và nhân thọ . Hiện nay, Bảo hiểm Bảo Việt đang cung cấp đủ 10 loại hình
sản phẩm bảo hiểm, bao gồm:
- Bảo hiểm Xe cơ giới;
3
Phó giám
đốc
Phó giám
đốc

 Tiến hành hoạt động đầu tư theo các quy định của pháp luật.
Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ khácác quy định của pháp luật.
1.4: Tầm nhìn và Sứ mệnh của công ty
1.4.1: Tầm nhìn chiến lược.
Phương châm 'Niềm tin vững chắc, cam kết vững bền" phản ánh tầm nhìn của
bảo hiểm Bảo Việt để hướng tới xây dựng "Một Bảo Việt vững bền".
 Mục tiêu phát triển của Bảo Việt là trở thành Tập đoàn tài chính - bảo
hiểm hàng đầu ở Việt Nam, kinh doanh trong các lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ,
bảo hiểm phi nhân thọ, đầu tư tài chính, chứng khoán và các dịch vụ tài chính
khác. Bảo Việt luôn đặt ra các yêu cầu khắt khe cho việc nâng cao trình độ
quản lý, chất lượng phục vụ khách hàng trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào
của tập đoàn, từ việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm, dịch vụ tới việc tư
vấn cho khách hàng các giải pháp tối ưu hoặc xây dựng các mối quan hệ hợp
tác chặt chẽ, cùng phát triển với khách hàng và các đối tác.
Tầm nhìn đến 2015 của Bảo Việt là trở thành tập đoàn tài chính- Bảo hiểm
hàng đầu Việt Nam, có tiềm lực tài chính vững mạnh, từng bước hội nhập thị trường
khu vực và thế giới dựa trên ba trụ cột: bảo hiểm,ngân hàng và đầu tư
Chiến lược mới 5 năm giai đoạn 2011-2015 của Tập đoàn Bảo Việt
Cổ đông tham dự Đại hội đồng cổ đông đã nhất trí thông qua kế hoạch chiến lược
mới 5 năm giai đoạn 2011-2015 của TĐBV. Lộ trình triển khai chiến lược mới sẽ
4
Quản trị chiến lược 1.2
theo 3 giai đoạn với mục tiêu củng cố vị thế của TĐBV là Tập đoàn Tài chính – Bảo
hiểm hàng đầu Việt Nam.
Giai đoạn 2011-2012: Xây dựng "Một Bảo Việt trên Một nền tảng mới", tập trung
xây dựng nền tảng công nghệ thông tin thống nhất, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu
khách hàng chung, đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, đổi mới quản trị
doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế, hoàn thiện hệ thống thương hiệu thống nhất,
tăng cường năng lực tài chính thông qua tăng vốn, phát triển sản phẩm dịch vụ mới.
Giai đoạn 2012-2013: Chuyển đổi mô hình kinh doanh, thực hiện chuyển biến

1.5: Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Theo báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Bảo hiểm Bảo Việt về tài chính:
6
Quản trị chiến lược 1.2
/>Với hoạt động kinh doanh đa ngành, với mô hình tổ chức, cơ chế quản lý kinh
doanh mới, với thế và lực mới, Bảo Việt luôn là sự lựa chọn đúng đắn, là người bạn
đồng hành tin cậy của các cá nhân và tổ chức.
II. Môi trường bên ngoài
2.1. Phân tích ngành
 Ngành kinh doanh của doanh nghiệp
Kể từ khi gia nhập WTO, năm 2006 thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có
bước phát triển khá hơn rất nhiều so với năm 2005. Số lượng công ty bảo hiểm tăng
lên 37 doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường đạt 1.82% GDP,
tăng trưởng 14% so với năm 2005. Đây là dấu hiệu tốt, bước đệm cho thị trường bảo
hiểm phát triển trong các năm sau.
Theo đánh giá của Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), năm
2009 thị trường bảo hiểm tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định và đóng góp vào
tăng trưởng chung của nền kinh tế với tỷ trọng doanh thu/GDP ước đạt 2,3%. Tổng
doanh thu phí bảo hiểm ước cả năm 2009 đạt khoảng 24.681 tỷ đồng, trong đó,
doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 13.250 tỷ đồng (tăng 21% so với năm
2008), doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 11.431 tỷ đồng (tăng 10,95% so với
năm 2008). Doanh thu hoạt động đầu tư ước đạt 6.016 tỷ đồng, trong đó: các doanh
nghiệp phi nhân thọ đạt 1.350 tỷ đồng, các doanh nghiệp nhân thọ đạt 4.666 tỷ đồng
(tăng 17% so với 2008).
Tính đến tháng 6/2010, có 50 Doanh nghiệp Bảo hiểm hoạt động trên thị
trường trong đó bao gồm 27 Doanh nghiệp Bảo hiểm phi nhân thọ, 11 Doanh nghiệp
Bảo hiểm nhân thọ, 10 Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 1 Doanh nghiệp tái bảo
hiểm. Tổng doanh thu phí bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2010 ước đạt 14.427 tỷ đồng,
tăng 21% so với cùng kỳ năm 2009, trong đố doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ

chỉ triển khai mảng bảo hiểm phi nhân thọ, mà chưa triển khai bảo hiểm nhân thọ.
Tuy nhiên, BảoViệt cũng đã chú trọng đến việc mở rộng và đa dạng hoá các nghiệp
vụ bảo hiểm đặc biệt là nghiệp vụ bảo hiểm con người, làm tiền đề cho việc triển
khai bảo hiểm nhân thọ về sau.
=> Đây là giai đoạn mới xuất hiện của bảo hiểm Việt Nam.
- Giai đoạn 1975-2000: Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ cách mạng lâm
thời Cộng hoà miền ra tuyên bố đình chỉ các hoạt động của các công ty
bảo hiểm miền, đó có công ty bảo hiểm nhân thọ Hưng Việt và tuyên bố thanh lý,
giải thể các tổ chức bảo hiểm tư nhân.
Năm1976, Bộ trưởng Bộ Kinh tế tài chính ra quyết định số 21/QĐ-BKT thành
lập công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm Việt Nam (viết tắt là BAVINA).
Năm1977, Bộ trưởng Bộ Tài chính ra quyết định số 61/TCQĐ/TCCB về việc
sát nhập BAVINA thành chi nhánh của Bảo Việt tại thành phố Hồ Chí Minh. Như
vậy, kể từ đây, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tỉnh miền Nam.
Chính sách mở cửa vào năm 1987 đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm được
học hỏi và tiếp cận với những kỹ thuật bảo hiểm mới trên thế giới. Từ kinh nghiệm
các nước, BảoViệt lúc đó vẫn là công ty bảo hiểm duy nhất ở nước ta, đã thấy được
tiềm năng to lớn của bảo hiểm nhân thọ ở nước ta. Vì vậy, Bảo Việt bắt đầu nghiên
cứu triển khai bảo hiểm nhân thọ ở với đề án “Bảo hiểm nhân thọ và điều kiện triển
khai ở Việt Nam”, nhưng lúc đó chưa có đủ điều kiện vì: Thu nhập dân cư còn thấp,
kinh tế còn kém phát triển, tỷ lệ lạm phát còn cao, thị trường tài chính chưa phát
triển, chưa có môi trường đầu tư và các công ty bảo hiểm chưa được phép hoạt
động trong lĩnh vực đầu tư, chưa có văn bản pháp Luật điều chỉnh mối quan hệ
giữa công ty bảo hiểm và khách hàng, đội ngũ cán bộ bảo hiểm lúc đó chưa được
trang bị những kiến thức về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ. Do đó, BảoViệt chỉ triển
khai bảo hiểm sinh mạng có thời hạn 1 năm (bảo hiểm nhân thọ tử kỳ thời hạn 1
10
Quản trị chiến lược 1.2
năm). Đây là loại hình bảo hiểm nhân thọ đơn giản nhất và có nhiều đặc điểm tương
đồng với bảo hiểm con người phi nhân thọ.

=> Có thể nói đây là thời kỳ tăng trưởng của bảo hiểm Việt Nam nói chung và của
riêng Bảo Việt nói riêng.
- Giai đoạn từ 2001 - đến nay
Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cho đến nay đã phát triển sôi động và hấp dẫn
rất nhiều các công ty bảo hiểm nước ngoài vào đầu tư và kinh doanh.
Sự có mặt của công ty bảo hiểm nước ngoài góp phần làm cho thị
trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trở nên sôi động hơn, đó là dấu hiệu cho thấy
11
Quản trị chiến lược 1.2
một làn sóng đầu tư của nước ngoài mạnh mẽ trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ thời
gian tới.
Ngoài ra, sự thâm nhập của các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài cũng
góp phần nâng cao năng lực của thị trường bảo hiểm, thiết lập thêm một kênh thu
hút Vốn trong dân. Có thể nói thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đang từng
bước hội nhập với thị trường bảo hiểm nhân thọ khu vực và trên thế giới.
2.2. Đánh giá cường độ cạnh tranh
2.2.1. Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung ứng.
Một áp lực nữa cũng không kém phần quyết định đó chính là áp lực từ phía
nhà cung cấp.Các nhà cung cấp có thể khẳng định quyền lực của mình bằng cách đe
dọa tăng giá hàng hóa hay mặc cả về chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng.Do đó,
họ có thể chèn ép lợi nhuận từ các công ty bảo hiểm nhằm bù đáp những chi phí tăng
lên trong giá thành sản phẩm.
Đối với ngành bảo hiểm, khái niệm nhà cung cấp có thể hiểu là những cổ
đông cung cấp vốn cho công ty bảo hiểm hoạt động, các công ty đào tạo nhân viên
kinh doanh bảo hiểm hay là các công ty cung cấp các sản phẩm công nghệ cho công
ty bảo hiểm. Tại Việt Nam các công ty bảo hiểm tự đầu tư trang thiết bị và chọn nhà
cung cấp riêng theo điều kiện của công ty mình. Điều này góp phần giảm quyền lực
của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà
phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên thường khi đã tốn một khoản
chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, các công ty bảo hiểm thươg không muốn thay

Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với
nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh.Thị trừơng bảo
hiểm Việt Nam đang có sự cạnh tranh khốc liệt. Doanh nghiệp đã và đang tập trung
quảng cáo rầm rộ, tăng cường chủng loại dịch vụ, khuyến mại sản phẩm dịch vụ…
Bên cạnh l loạt các loại dịch vụ phong phú, yếu tố mà các công ty sử dụng để thu
hút khách vẫn là các chương trình khuyến mại, giảm giá, bốc thăm trúng thưởng hay
những chuyến du lịch nước ngoài… Theo thống kê chưa chính thức của các nhà
nghiên cứu thị trường thì 30 - 40% các loại dịch vụ của công ty có chương trình
khuyến mại, chương trình giảm giá…Chính điều này đã thu hút lượng khách tăng từ
40-50% .
Tuy nhiên một vấn đề đặt ra hiện nay là, phần lớn các công ty bảo hiểm trong
nước không cạnh tranh với nhau bằng chất lượng dịch vụ tới khách hàng mà cạnh
tranh nhau bằng việc hạ phí, giành giật lôi kéo khách hàng…Hiện nay số lượng các
công ty bảo hiểm ngày càng tăng lên, nhưng đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên
môn lại chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đặc biệt là đội ngũ nguồn nhân
lực chất lượng cao. Việc hạ phí bảo hiểm nhằm có được thị phần hay giành được
dịch vụ không phải là hình thức cạnh tranh mới song lại đang trở thành cách thức
cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
hiện nay.
Theo quy định cảu Luật cạnh tranh, việc xem xét hành vi hạ phí bảo hiểm của
doanh nghiệp bảo hiểm là vi phạm vào hành vi bị cấm. nhưng trên thực tế thị trường
bảo hiểm đã xuất hiện tình trạng có những sản phẩm bảo hiểm mức phí giảm từ 40-
50%, thậm chí còn thấp hơn quy định của Bộ tài chính rất nhiều lần. Hơn nữa, tỉ lệ
bồi thường ngày càng một tăng, số vụ chưa giải quyết bồi thường ngày một ứ đọng,
có thể dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm không có nguồn tài chính vững
mạnh.
Ngoài ra còn có sự cạnh tranh ngầm thông qua sự can thiệp hành chính để có
được các hợp đồng bảo hiểm đang diễn ra khá nhiều trên thị trường. Trên thị trường
bảo hiểm hiện có nhiều công ty bảo hiểm chuyên ngành. Tại đó ngành này buộc các
đơn vị thành viên trong cùng một tổng công ty tham gia bảo hiểm tại một doanh

như tặng bảo hiểm, rút thăm trúng thưởng và nhiều ưu đãi liên quan khác.
2.2.5. Đe dọa gia nhập mới.
Việc mở cửa thị trường theo các cam kết WTO về cơ bản có tác động tích cực
đối với cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam. Mở cửa thị
trường tạo điều kiện tăng cường trao đổi kiến thức và kĩ năng chuyên ngành, góp
phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm trong nước, việc tham
gia thị trường của những công ty bảo hiểm mới , đặc biệt là các công ty bảo hiểm
nước ngoài sẽ đa dạng hóa và khiến thị trường sôi động hơn.
Tuy nhiên, Các công ty bảo hiểm mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ
cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng. Nguy cơ từ các công ty bảo hiểm mới sẽ phụ
thuộc vào độ cao của rào cản gia nhập. Việc tham gia của các công ty bảo hiểm
nước ngoài vào thị trường bảo hiểm cũng có những tác động bất lợi đối với công ty
bảo hiểm trong nước và khả năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này.
- Các công ty trong nước bị chia sẻ thị trường là tác động rõ ràng nhất ở nước đang
trong tiến trình mở cửa thị trường.
- Biến động về nhân sự giữa các công ty bảo hiểm. Một thực tế đã diễn ra khi sự gia
tăng của số lượng bảo hiểm doanh nghiệp nhanh hơn sự gia tăng nhân lực trong
ngành đã dẫn đến sự di chuyển nhân sự giữa các công ty bảo hiểm. Do đó, nếu các
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status