BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
eêf
!"#
$%&'
(")*
"'+,
(-./012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
eêf
!"#
$%&'
(")*
3(4!
5+6470.7/801819
:;4
8+8 <
(-./012
=
Tôi xin cam đoan:
Bản luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành là sự nỗ lực, nhận thức
chính xác, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn).
Nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực
hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
$888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888EAAA
$F!*8888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888AG
18H=I 8888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888881
!"!#"
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
$%&'()*)!#"$
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
+,"-!#"$
/8D+HJ "(KL=(8888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888889
+./0121"34
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy nghề cho người khuyết tật 22
+./056$
2.2.1 Thực trạng công tác dạy nghề cho người khuyết tật trên thế giới 31
2.2.1.1 Nhật Bản 31
2.2.2 Kinh nghiệm dạy nghề cho người khuyết tật ở Việt Nam 34
/8/8MNAOPQRACOC>OASTUVQ?C>U@QWXYC>OZQO[C>\]ARO^Y_UU`UaASUbTENUcdCO_>AeA888888Mf
M8=g=h=i((D3& 888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888821
$789"):",;*) <#='>3?@A
3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 44
Giá trị xã hội của Trung tâm 45
3.2.2 Tình hình cơ sở vật chất và nguồn lực của Trung tâm 46
iii
3.2.3 Bộ máy quản lý, tổ chức của Trung tâm 47
3.2.4 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 48
3.2.5 Các ngành nghề đào tạo của Trung tâm 49
$$B'.!#"4
#"3::L"/&IL,_"6`3""U=I^a%'(J
iv
)1)9*:",R:)")EFKVLI8T=E>K"
/D",b:(*="N9='>N"3'8!GRNRS
TL)EEF/&KcW
+K\$$]2NJ)!=:[9&./0)3:",1&F#'(
"V"J)!+KN=L4d4\ef2N&)!":`1'(
=)!'.:E5'(J)!&:!\]"!I!*K)gS
P!"K/5NR&J)!'>1'('.:E;*9
'.:E;*NR'(D""J)!=:[1D"AhKfW]2N
'Z(i+'.:E5S*'#'("V"J)!
h4ef2N'&i%,1P):",LMjMk)U8M"
L;*'.:E>1'(&)8/&KN"3TONH3#)
#W
`9;*;bPJ/N"3:"9S-">.)8Z19"L;*
=:'.:EL;*L'>M"!'(U`8K&'(
'.:EL;*5/5K:HNK"PN#5=J/<
>LZ()8:E3#GE"NRLN#Nl
"?'.=; 81"V"!V18J/N"3:"9V
:=PV,)9=; '>N"3K")/5:O=; T
I9K:!*`9'(.D"U#:='8='8G:J:O
)*'(/&5"NO":'>*J=mIAV"0NK=*=
D")NRD""!=; TI9O#"V"=*=X=
)!=:'>"!I9W
":'>:",=; :nN"3'(E):O""!R
X'U#=; F;R!#"EO")I!/=*19"P"K1!
D"LPb15:=)9M,;5./0)3O"R;*J/N"3oES
!#"=*==)!I!/=*19" ) =D":E=; !":!
"!R=; G,=:p:91'(=; :nN"3*`99 W
b1=18&)8J1/"N=NK=*=NRLJ)!=XKO
")=EW
"<^U(/&1'(":W
'>N"3H'.)gSI3-'E'()91e$'>h$$$]i
E"C5:=EN)91'ST:"NKN))'^
;"O=,12j*Y&'(N"3N"T;ZK9&
/b:("!ND"L;*)LD")91=CPD"S:N!
&+.H:'>'88 !"1("3F:0a15Lc&)8;*)L
D")91=Co/5D",'G#I1!D"zW
"'CN")5HK.E)91Z(:="R)8RE)1=*
ER)9;*E0)Z/,")ZML'>N-j*IE'>"&ER
)9UHX1"NK%HNMFL'0NR-y199C'>
#{C9)EJNR:E"/#N-j)151)9r531
NR=='?;=HN:LPCK:E*/{&90
'8=)X'AE'()91G"!EO ) )&
=MF%,'(=1:=PNKN18"NRK/5"L
<EC;ZKb15,"XNK=L9)|=NKW4
"<^U(/&1'(":Wf
vi
4.1.2.3 Đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên dạy nghề đối với chất lượng dạy nghề cho người
khuyết tật tại Trung tâm 77
@"6H"d=)!;*:",=I^a%TZ=*==
'>N"31V?)91GjIA'8EO1,";VR)9
:0KD"jj+R)9S-:">9*j=Y
E#=*=/.:"/wKD"H O)>J'&)8'>
N"3)9;*)GJ)!*=)8L>$d1V3
S.:"'"Nk=;>=*=GR/w)*t"31=
)D"H);*c>1'(=*=;*='>N"3V!;"
1'(,1S-NR?'>N"3SLP'>1RD"L12=
*=W\
+"&L'0R;*='>N"3*:",;* <#
lC>287xCOOxCOEASQyNTQ{bC>\]ARO^Y_UU`U•b^OPQC>OZUXAc^C>UnT8888888888888888888888888888888888888888z2
lC>28z=@CO>A@Q{bOPQEAdC•b^ROAU€UC>OASp888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888z7
lC>28•=@CO>A@Q{bc^C>UnT|€AEeAQO}Uy\~C>WXYC>OZ88888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888zf
lC>28f4COO\aC>Q{bQO‚CO•@QO.o^Y|ƒCOpO@py^`U|€AEeAQO}Uy\~C>WXYC>OZQO[C>\]A
RO^Y_UU`U8888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888•M
lC>2810O}Uy\~C>OPQEAdCRO^Y_UU`UUXAc^C>UnTXYC>OZpOqQOrAQOsQCtC>C>\]AUNCU`U
UuCOvQACO8888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888••
lC>2811COO\aC>Q{bQO}Uy\~C>>A@[EAdC|€AEeAQO}Uy\~C>WXYC>OZUXAc^C>UnT8888888888888888888•f
lC>281/=ƒCOO\eC>pO@UUcA„CWXYC>OZQ{bc^C>UnTXYC>OZpOqQOrAQOsQCtC>C>\]AUNCU`U
UuCOvQACO|_CCtT/019888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888888109
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp
GVDN : Giáo viên dạy nghề
HĐND-UBND : Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân
HTX : Hợp tác xã
NKT : Người khuyết tật
TMC : Trẻ mồ côi
TTDN : Trung tâm dạy nghề
ix
1. MỞ ĐẦU
181‚COQ}pUOA_UQ{b|ZUNA
Trên thế giới có hơn 600 triệu người có khiếm khuyết về thể chất, cảm
giác, trí tuệ hoặc tâm thần dưới các hình thức khác nhau. Con số này tương
đương với khoảng 10% dân số thế giới. Quốc gia nào cũng có người khuyết
tật (NKT), hơn 2/3 trong số đó sống ở các nước đang phát triển.
Có thể nói mối liên hệ giữa khuyết tật, nghèo đói và tình trạng bị cô
lập với xã hội là không thể phủ nhận. Việc từ chối các cơ hội việc làm công
bằng cho người khuyết tật chính là một trong những nguyên nhân gốc rễ dẫn
đến sự nghèo đói và tình trạng bị phân biệt đối xử cho nhiều người trong số
với doanh nghiệp trong việc tiếp nhận NKT vào làm việc nhưng thực tế, nhiều
doanh nghiệp còn rất thờ ơ hoặc thiếu thông tin về vấn đề này.
Trung tâm dạy nghề phục hồi chức năng cho người tàn tỉnh Bắc Ninh
được sự quan tâm của các cấp chính quyền đã có nhiều thành tựu trong công
tác dạy nghề cho người tàn tận, với nhiều nghề được đào tạo phù hợp với
năng lực của người khuyết tật. Tuy nhiên, trung tâm đang gặp phải những khó
khăn nhất định trong vấn đề định hướng và phát triển nghề nghiệp cho NKT.
Câu hỏi đặt ra là làm gì để dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết
tật hiệu quả hơn. Chính vì lý do đó tác giả chọn đề tài nghiên cứu:
!"#
$%&'(")*+,
18/qQUAd^C>OAdCQs^
/.0./1$2
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho người khuyết tật tại
Trung tâm dạy nghề phục hồi chức năng cho người tàn tật tỉnh Bắc Ninh. Từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề cho người khuyết tật tại
Trung tâm.
2
/.0.01$2 $3
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về dạy nghề và nâng cao
chất lượng dạy nghề nghề phục hồi chức năng cho người khuyết tật.
- Đánh giá thực trạng chất lượng dạy nghề cho người khuyết tật tại
Trung tâm dạy nghề phục hồi chức năng cho người tàn tật tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian qua.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề cho người khuyết tật
tại Trung tâm dạy nghề phục hồi chức năng cho người tàn tật tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới.
18M=€AU\~C>ENpOXTEAC>OAdCQs^
/.4./562&
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giải pháp nâng cao chất
động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
Khái niệm nghề được định nghĩa ở Pháp: Nghề là một loại lao động có
thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con người để từ đó tìm được phương tiện sống.
Ở Anh, nghề được định nghĩa: Nghề là một công việc chuyên môn đòi
hỏi một sự đào tạo trong khoa học, nghệ thuật.
Còn ở Đức, khái niệm nghề được định nghĩa: Nghề là hoạt động cần
thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo
ở trình độ nào đó.
Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử phổ biến, gắn
chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ KHKT và văn minh nhân loại.
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống
nhất, chẳng hạn có định nghĩa nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân
công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang
tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất
hay do nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ
khác nhau song chúng ta có thể thấy một số nét đặc trưng nhất định:
1^ Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp
đi lặp lại.
1^ Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
5
@1^ Nghề là phương tiện để sinh sống.
@&1^ Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi
trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.
Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển
kinh tế xã hội của đất nước.
C9=*=
Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức,
nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái
độ,…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào
đời hành nghề một cách có năng xuất và hiệu quả.
người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một
hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví
dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và
nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể
về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các
bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc
không có triệu chứng). Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là
khuyết tật của hai đạo luật này.
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là:
khiếm khuyết (:j), khuyết tật (;/I1) và tàn tật
(;). Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của
cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự
giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Nhiều tổ
chức trên thế giới đã cố gắng đưa ra những định nghĩa về khuyết tật. Dựa trên
một nghiên cứu về các định nghĩa khác nhau, chúng tôi nhận thấy
rằng những định nghĩa này có liên quan nhiều đến lịch sử và nhận thức của xã
hội, nhưng trên hết, chúng phụ thuộc nhiều hơn vào những yếu tố văn hóa.
1
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_khuy%E1%BA%BFt_t%E1%BA%ADt
7
Cân nhắc vấn đề này cũng như ghi nhận rằng các định nghĩa về khuyết tật chủ
yếu do các nước phát triển phương Tây đưa ra, chúng tôi thấy rằng một định
nghĩa toàn diện về khuyết tật và cho tất cả các trường hợp là không thể tồn tại.
Đối với đa số người Việt Nam, N"3 và 3là hai từ chỉ cùng một
khái niệm.Từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng cả 2 từ trên phương tiện
truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Trong các pháp lệnh trước đây của
Nhà nước Việt Nam, 3 là cụm từ được chính thức sử dụng. Ngày 17-6-
2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ '>N"3 thay
cho '>3 trong Luật Người Khuyết Tật cũng như trong các bộ luật ban
hành có liên quan. “'>N"3 là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều
nghe được tiếng nói của người khác; vì không nghe được nên khả năng nói
của họ cũng rất yếu kém.
- CH: những người rất yếu kém khả năng nhìn, dù đã đeo kính,
khiến hạn chế hoạt động cần nhìn bằng mắt.
- C"3)VhPI9,,Vi: là người suy yếu
về cảm xúc, suy nhược tinh thần hoặc mắc bệnh tâm lý khiến cho những nhu
cầu của cá nhân và những nhu cầu mang tính xã hội của họ bị hạn chế.
- C"3)/5:O:F=: những người khuyết tật dạng này
có sự suy yếu hay chậm phát triển trí não như những người bại não, động
kinh, tự kỷ, và những rối loạn tương tự khác.
7<&=9> người khuyết tật được phân loại thành 3 nhóm:
Theo điều 3 của Luật NKT, người khuyết tật được chia theo những mức độ
sau đây:
- C"3TI9T là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự
thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- C"3T là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện
một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
9
- C"3s là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định
tại điểm a và điểm b khoản này.
- C"3b(: đây là dạng khuyết tật bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân chưa xác định rõ ràng nhưng lại gây nên hậu quả tai hại cho con người
như nạn nhân chất độc màu da cam, nạn nhân bị virus độc huỷ hoại, do thực
phẩm, thuốc men có nhiều hoá chất độc hại tạo nên những di chứng thần kinh
hoặc những khuyết tật bắt nguồn từ những nguyên nhân mà ta gọi là tâm linh.
i•"){) '>N"3
1) Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:
- Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;
- Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;
- Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội;
thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của mình - điều này
đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường,
do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo dục và bản thân gia đình
không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu như là bất khả thi.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp
Quốc 90% trẻ em khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đưa đến
trường. Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc thì cho biết 30% số thanh niên đường
phố là trẻ khuyết tật. Về trình độ học vấn nghiên cứu củaChương trình hỗ trợ
phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) thực hiện năm 1998 tỉ lệ biết đọc, biết
viết ở người trưởng thành bị khuyết tật trên toàn cầu là dưới 3%, ở phụ nữ
khuyết tật chỉ 1%. Ở những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh
tế (OECD), sinh viên khuyết tật có trình độ cao vẫn chưa nhiều mặc dù con số
này đang có xu hướng tăng
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn
của người khuyết tật ở Việt Nam rất thấp. 41% số người khuyết tật chỉ biết
11
đọc biết viết; 19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên
nghiệp hay chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao
đẳng. Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ
hơn 4% người có việc làm ổn định. Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống
dưới chuẩn nghèo
`91
Khó khăn trong học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc,
trình độ học vấn chung của người khuyết tật thấp hơn tương đối so với cộng
đồng. Ngoài ra một số công việc có những yêu cầu mà người khuyết tật khó
thực hiện tốt được, điều này có thể được giảm thiểu bằng cách tránh những
việc liên quan đến hạn chế của mình, chẳng hạn khuyết tật ở chân thì không
nên tìm những việc phải đi lại quá nhiều. Một số khác thì yêu cầu ngoại hình
và sức khỏe tốt, đây cũng là những công việc mà họ khó có thể tiếp cận.
Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO-International
lại) và nghĩ rằng họ đến với nhau vì một lý do khác chứ không phải tình yêu.
Sự thực thì đúng là có những khó khăn nhất định nhưng hạnh phúc gia đình
không chỉ phụ thuộc duy nhất vào việc người nào đó có khuyết tật hay không.
Sự kỳ thị thậm chí được thể hiện cả trong giới tính, và như thường lệ, phụ nữ
vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn - cùng bị khuyết tật nhưng nam giới có
khả năng lập gia đình cao hơn nữ giới nhiều, theo một báo cáo của Viện
Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) thực hiện thì có đến 70% người khuyết
tật nam 15 tuổi trở lên ở Thái Bình kết hôn, trong khi tỷ lệ này ở nữ chỉ khoảng
20%, tính ra mức chênh lệch là hơn 3 lần. Tại Quảng Nam, Đà Nẵng cũng có
mức chênh lệch về tỷ lệ người khuyết tật không kết hôn khá lớn (59% là nữ,
33% là nam); Đồng Nai (nữ 66%, nam 51%). Khoảng một nửa số người khuyết
13
tật ở Thái Bình và Đồng Nai được hỏi cho rằng, họ không thể kết hôn được là
do sức khỏe. Còn lại là do cộng đồng không thông cảm với tình trạng khuyết
tật của họ (32 – 50%); gia đình không ủng hộ (8,2 – 21,4%). Cuộc khảo sát
những người đã kết hôn ở Thái Bình còn cho thấy có đến 38% cho rằng khó
đảm bảo được điều kiện sống cho gia đình; 30% cảm thấy nuôi con rất vất vả
và 10% sinh con bị dị tật bẩm sinh; 8% không hài lòng với đời sống tình
dục và 5% thiếu sự thông cảm và khuyến khích từ vợ hoặc chồng. Điều tra
cũng cho biết thêm rằng nhóm người khuyết tật do chất độc màu da cam và
bẩm sinh khó kết hôn hơn nhiều nhóm khuyết tật vì các nguyên nhân khác
,12
Tâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản
thân mình so với những người bình thường khác. Ở những người mà khuyết
tật nhìn thấy được - chẳng hạn như khuyết chi - họ có các biểu hiện tâm lý
giống như mặc cảm ngoại hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là sự chú
trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy
trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có
khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những
người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên. Tiếp đến một