pháp luật cạnh tranh - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn áp dụng cho Việt Nam - Pdf 24


CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KHOA HỌC TRẺ KHOA KINH TẾ”
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
KHOA HỌC PHÁP LÝ
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ.
1. Nguồn gốc hình thành tập trung kinh tế.
1.1. Trên thế giới.
1.2. Ở việt nam.
2. Khái niệm tập trung kinh tế.
3. Một số hình thức tập trung kinh tế.
4. Tác động của tập trung kinh tế.
5. Tính cấp thiết của tập trung kinh tế.
CHƯƠNG II. HÀNH LANG PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.
1. Quy định pháp lí về kiểm soát tập trung kinh tế
1.1. Khái niệm về tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh và các và các văn bản pháp luật có
liên quan.
1.2. Các ngưỡng gây hạn chế cạnh tranh của tập trung kinh tế.
1.3. Thủ tục thông báo tập trung kinh tế
1.4. Chế tài
2. Cơ quan quản lí.
3. Đánh giá về môi trường pháp lí của hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.
1. Những vấn đề bất cập khi áp dụng các quy phạm pháp luật về
hiện tượng tập trung kinh tế.
4

được nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh nhưng tập trung kinh tế vẫn được xem là khá mới
mẻ với Việt Nam nhất là các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên sẽ rất
nguy hiểm khi các công ty có tiềm lực mạnh trên thế giới xâm nhập vào thị trường trong
nước gây lũng đoạn nền kinh tế. Trước những vấn đề đang xảy ra thì đề tài của chúng tôi
xin đề cập đến các vấn đề sau:
Đề tài nghiên cứu hướng tới người đọc hiểu được thế nào là tập trung kinh tế, giúp
người đọc có được cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành phát triển và các hoạt động
tập trung kinh tế trên thực tiễn. Đồng thời đề tài cũng hướng tới những nhà lập pháp, giúp
tìm ra những khuyết điểm và sai sót trong những văn bản pháp luật về tập trung kinh tế và
đề xuất một số ý kiến đóng góp để khắc phục những nhược điểm trên, so sánh đối chiếu với
một số mô hình kiểm soát tập trung kinh tế trên thế giới để tìm ra điểm tiến bộ và hạn chế.
Đề tài còn hướng tới các doanh nghiệp giúp cho các doanh nghiệp biết được trình tự thủ tục
thực hiện hoạt động kinh doanh khi gặp phải lĩnh vực chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lí
cạnh tranh, nguy cơ xấu tìm ẩn trong kinh doanh .
Đề tài tập trung nghiên cứu vào pháp luật cạnh tranh việt nam và các văn bản có liên
quan đến kiểm soát tập trung kinh tế tại việt nam. Đồng thời thu thập các bài viết số liệu có
liên quan đến tập trung kinh tế trong nước và ngoài nước, tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật
6
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
về tập trung kinh tế của một số nước trên thế giới để làm cơ sở cho việc phân tích và so
sánh các vấn đề tập trung kinh tế của việt nam hiện nay.
Đề tài dựa trên các tài liệu có sẵn trên thực tế cộng với các số liệu thu thập, áp dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của luật học như: phương pháp so sánh, đối chiếu,
tổng hợp, phân tích, đánh giá những vụ việc xảy ra trên thực tế…
Đề tài nhằm đóng góp thêm vào công trình nghiên cứu khoa học pháp luật để từ đó có
cái nhìn chi tiết hơn về tập trung kinh tế của việt nam trong giai đoạn hiện nay. Tìm ra
những thiếu sót về mặt pháp lí, điểm bất cập rườm rà trong hoạt động kiểm soát tập trung
kinh tế. Đề xuất những giải pháp hợp lí để góp phần bổ sung vào những vấn đề còn thiếu
sót trong luật cạnh tranh nhằm góp phần hoàn thiện và chặt chẽ hơn, giảm thiểu tối đa
những tác hại có thể xảy ra trong quá trình tập trung kinh tế.

8
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
kê của hội nghị liên hợp quốc về thương mại vá phat triển(UNCTAD) trên thế giới (2003)
có khoản 100 quốc gia,vùng lãnh thổ có luật điều tiết cạnh tranh và chống độc quyền”.
1

1.2 TẠI VIỆT NAM.
Những lý thuyết về quản lí cạnh tranh và chống độc quyền được hình thành và phát
triển mạnh mẽ ở các nước tư bản chủ nghĩa nơi có nền kinh tế thị trường, các công ty được
tự do kinh doanh. Tại Việt Nam sau khi giành độc lập đến 1986 nhà nước chủ trương đưa
nền kinh tế việt nam theo hướng tập trung bao cấp, nơi mà chỉ tồn tại các loại hình kinh tế
nhà nước, hợp tác xã. Nhà nước độc quyền trong sản xuất kinh doanh vì thế pháp luật về
cạnh tranh chưa được hình thành. Việc đổi mới nền kinh tế từ tập trung kinh tế sang kinh tế
thị trường đã dần phát triển thêm nhiều mối quan hệ trong thương mại nhiều thành phần
kinh tế xuất hiện. Do muốn tạo lập một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
nên nhà nước tập trung tạo lập một một công cụ để quản lí thị trường các chế định về quản
lí kinh doanh, quản lí cạnh tranh được ra đời nhằm bảo vệ nền kinh tế được ổn định. Trong
những năm đầu đổi mới nền kinh tế pháp luật kinh tế chỉ tập trung vào các chế định khẳng
định quyền tự do kinh doanh như: Luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty 1990. Tiếp đến
là pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh ( pháp lệnh hợp đồng
kinh tế 1989).
Quyền tự do kinh doanh, tự do thỏa thuận ngày càng được thừa nhận đã tạo nên môi
trường cạnh tranh, việc cạnh tranh không còn mới mẻ. Đáp ứng yêu cầu nhà nước cần quản
lí nền kinh tế vì vậy đạo luật đầu tiên ghi nhận trực tiếp về quyền cạnh tranh của doanh
nhân là luật thương mại 1997 được quy định tại điều 8, điều 9. Nhưng luật thương mại
1997 chủ yếu quy định và điều chỉnh những hành vi thương mại của thương nhân nên các
quy định về cạnh tranh cũng không được dề cập đến nhiều và dần lắng xuống.
Sau đó nhiều nhiều văn bản pháp luật khác cũng đề cập đến hành vi cạnh tranh không
lành mạnh bị pháp luật cấm ví dụ: trong lĩnh vực quảng cáo, sở hữu trí tuệ, giá cả…Các văn
bản trên chủ yếu là chú trọng vào việc nhấn mạnh nhiệm vụ quản lí của nhà nước còn vấn

3. Một số hình thức tập trung kinh tế.
 Dựa vào mức độ liên kết, hành vi tập trung kinh tế được chia thành hai loại tập trung
kinh tế chặt chẽ (tổ hợp) và tập trung kinh tế không chặt chẽ.
 Hoạt động tập trung kinh tế chặt chẽ được hiểu là: Các doanh nghiệp có mối
liên hệ chặt chẽ, liên quan với nhau sẽ liên kết với nhau để tạo thành một thể thống nhất ví
2
Nguồn: pháp luật cạnh tranh tại việt nam - nxb tư pháp hà nội 2006 - trang 88-91
10
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
dụ: doanh nghiệp A chuyên sản xuất ra những sản phẩm mà doanh nghiệp B cần để làm
nguyên liệu tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp. Hoặc là những doanh nghiệp sản xuất theo
hướng chuyên môn hóa theo dây truyền …
 Hoạt động tập trung kinh tế không chặt chẽ được hiểu là: Việc các doanh
nghiệp tham gia vẫn là những chủ thể độc lập dưới góc độ pháp luật, song chúng chịu sự
chi phối bởi các doanh nghiệp khác. Bằng hành vi mua lại hoặc liên doanh, các doanh
nghiệp đã thiết lập được mối quan hệ với nhau thành liên minh hoặc nhóm doanh nghiệp
theo tập đoàn. Trong đó, bằng quyền của chủ sở hữu, các doanh nghiệp có thể chi phối các
doanh nghiệp mà nó có phần vốn góp hoặc cổ phần.
 Dựa vào vị trí các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong các cấp dộ kinh
doanh của ngành kinh tế - kĩ thuật thì được chia theo: chiều ngang,chiều dọc,chiều chéo
(dạng hỗn hợp hày theo tập đoàn)
 Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc
liên doanh của các doanh nghiệp trong cùng một thị trường liên quan (sản phẩm và địa lý).
Sự gia tăng tập trung theo chiều ngang đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp và từ đó dẫn đến hạn chế cạnh tranh
theo giá và giảm động lực sáng tạo, gây bất lợi cho các đối thủ cạnh tranh và tiềm ẩn nguy
cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
 Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên
doanh giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua - người bán với nhau.
 Tập trung kinh tế theo chiều chéo (conglomerate): là sự hợp nhất, sáp nhập,

cấu lại hoạt động kinh doanh.
 Dưới góc độ của thị trường cạnh tranh
3
Nguồn: kiểm soát tập trung kinh tế kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn việt nam - Bộ công thương - trang
30-31
12
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
- Các nguồn lực được tập trung lại giúp kinh doanh hiệu quả hơn tránh tình trạng
manh mún nhỏ lẻ
- Việc tập trung kinh tế về cơ bản là không làm giảm sự cạnh tranh mà nó chỉ giúp
nâng cao tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
- Trong thị trưởng cạnh tranh thì tập trung kinh tế là hoạt động bình thường của
doanh nghiệp đồng thời giúp nâng cao tiềm lực kinh tế

5. Tính cấp thiết của tập trung kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường việc một hay nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường có khả năng dẫn đến độc quyền và hạn chế cạnh tranh vì thế nhà nước cần có cơ chế
để kiểm soát quá trình này.
Với tính chất là một sinh hoạt kinh tế, tự do cạnh tranh tự nó có thể dẫn tới nguy cơ cản
trở hoặc tiêu hủy cạnh tranh.Nhà nước có thể lựa chọn nhiều phương cách để ứng xử với
hiện tượng này:
- Hoặc tin vào sự tự điều chỉnh của thị trường,tin vào sự hợp lý của quá trình tập trung
kinh tế hướng tới độc quyền mà chủ trương không can dự
- Hoặc can thiệp để tạo điều kiện cho cạnh tranh diễn ra bằng cách ngăn chặn độc
quyền,chia nhỏ doanh nghiệp độc quyền, cấm thỏa thuận để tạo vị thế thống lĩnh thị
trường
- Hoặc chấp nhận vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền của một số doanh nghiệp song
giám sát,ngăn ngừa sự lạm dụng vị trí đó
- Hoặc công hữu hóa doanh nghiệp có vị trí độc quyền, đặt chúng dưới sự quản lí của
các cơ quan nhà nước và định hướng hoạt động của chúng vì lợi ích chung.

1 Bộ Luật Dân sự Điều 94, 95 2005
2 Luật Doanh nghiệp Điều 152, 153 2005
3 Luật Cạnh tranh Điều 16 đến 24 2004
4 Luật Đầu tư Điều 21, 25, 26 2005
5 Luật Chứng khoán Điều 29,32, 69 2006
Nghị định
6
Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15
tháng 9 năm 2005 của Chính phủ Quy
định chi tiết thi hành Luật Cạnh tranh
2005
7
Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30
tháng 9 năm 2005 của Chính phủ Quy
định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
cạnh tranh
2005
8
Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng
8 năm 2006 Về đăng ký kinh doanh
2006
9 Nghị định 101/2006/NĐ-CP ngày 21
tháng 9 năm 2006 của Chính phủ Quy
2006
15
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
định việc đăng ký lại, chuyển đổi và
đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài theo quy định của Luật Doanh

Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật"
“ Tập trung kinh tế ” là khái niệm dùng để chỉ sự tích tụ, tập trung của doanh nghiệp
trên thị trường nhằm hình thành doanh nghiệp lớn hơn.
Luật cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới ngoài việc quy định các hình thức tập
trung kinh tế cơ bản như: sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp,
còn đưa ra các hình thức tập trung kinh tế khác thông qua việc kiểm soát hoặc chi phối hoạt
động của doanh nghiệp như:
• Một doanh nghiệp dành được quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt cổ phần theo ủy
quyền ( gọi tắt là doanh nghiệp kiểm soát) của doanh nghiệp khác ( gọi tắt là doanh nghiệp
bị kiểm soát) đủ để chiếm được tên 50% quyền bỏ phiếu tại đại hội đồng cổ đông, Hội
đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp bị
kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các quyết định quan trọng của doanh
nghiệp bị kiểm soát.
• Thành viên trong ban giám đốc của một doanh nghiệp kiêm nhiệm thêm chức vụ
trong ban giám đốc của doanh nghiệp khác ( đối thủ cạnh tranh trên thị trường) và có ảnh
hưởng nhất định đến môi trường cạnh tranh. Ví dụ: việc kiêm nhiệm có thể dẫn tới việc
kiểm soát hành chính nếu quyết định cuả họ liên quan đến đầu tư và sản xuất, ảnh hưởng
đến việc xây dựng chiến lược chung của các doanh nghiệp về giá cả, về phân chia thị
trường và các hoạt động thông đồng khác; kiêm nhiệm chức vụ có thể tạo ra sự liên kết
theo chiều dọc giữa nhà cung cấp và khách hàng.
Cụ thể hơn, Điều 17 Luật Cạnh tranh đưa ra khái niệm pháp lý của các hình thức tập
trung kinh tế chủ yếu như sau:
17
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
o Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
o Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới,
đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.

mục đích tạo ra chủ thể pháp lý mới trên thị trường có sức mạnh kinh tế lớn hơn, song sự
khác biệt cơ bản giữa hai hành vi được thể hiện ở chỗ: đối với hành vi hợp nhất hợp nhất
doanh nghiệp, sau khi chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp để hình thành
doanh nghiệp mới thì sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm đứt về mặt pháp lý.
Còn đối với hành vi liên doanh, các doanh nghiệp chỉ góp một phần tài sản, quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp của hình thành một doanh nghiệp mới, song các doanh nghiệp góp
vốn liên doanh vẫn tồn tại địa vị pháp lý của mình.
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua một phần hoặc toàn bộ tài sản, cổ
phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động một hoặc toàn bộ ngành
nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
 Hành vi mua lại doanh nghiệp có sự khác biệt cơ bản với hành vi sáp nhập, hợp nhấp
hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp. Hành vi mua lại doanh nghiệp là việc doanh nghiệp
dùng sức mạnh tài chính để mua toàn bộ hoặc một phần tài sản, cổ phần của doanh nghiệp
khác và tài sản bị mua lại thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mua lại. sau khi mua lại
doanh nghiệp, doanh nghiệp bán tài sản không còn quyền tài sản như đối với doanh nghiệp
liên doanh, doanh nghiệp bị sáp nhập hay doanh nghiệp bị hợp nhất trong các trường hợp
liên doanh, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp mà tài sản được chuyển quyền sở hữu sang
doanh nghiệp mua lại, doanh nghiệp bị mua lại thường trở thành công ty con hoặc chi
nhánh của doanh nghiệp mua lại.
Hình dưới đây thể hiện vị trí của các quy định điều chỉnh về tập trung kinh tế trong khuôn khổ
pháp luật cạnh tranh:
19
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Hình 2.1: Tập trung kinh tế trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh
Nguồn: cục quản lý cạnh tranh
Từ các quy định trên, có thể thấy:
20
Cạnh
tranh
không

lành mạnh
Quảng các làm cạnh tranh không
lành mạnh
Khuyến mãi nhằm cạnh tranh
không lành mạnh
Khuyến mãi nhằm cạnh tranh
không lành mạnh
Phân biệt đối xử của hiệp hội
Phân biệt đối xử của hiệp hội
Bán hàng đa cấp bất chính
Bán hàng đa cấp bất chính
Các hành vi khác
Các hành vi khác
Thảo thuận hạn chế
cạnh tranh
Thảo thuận hạn chế
cạnh tranh
Lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường. Lạm
dụng vị trí độc quyền
Lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường. Lạm
dụng vị trí độc quyền
Tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Thứ nhất, về bản chất pháp lý, mua lại doanh nghiệp là hình thức tập trung kinh tế bằng
biện pháp thiết lập quan hệ sở hữu giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại.
Việc mua lại không phải là quá trình thống nhất về tổ chức giữa hai doanh nghiệp nói trên. Sau
khi mua lại, doanh nghiệp nắm quyền sở hữu có thể thực hiện việc sáp nhập hoặc không.

(c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó
6
.
Về ý nghĩa pháp lý, quy định trong hai văn bản trên là tương đồng, song về căn cứ xác định
và giá trị ứng dụng lại có những khác biệt đáng kể. Luật Doanh nghiệp cơ bản dựa trên mức
vốn sở hữu hoặc giá trị quyền quyết định đến bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp
trong khi Luật Cạnh tranh đã quy đổi mức sở hữu thành giá trị của quyền biểu quyết trong bộ
máy quản lý để xác định. Mặt khác, Luật Doanh nghiệp còn sử dụng quyền quyết định đến
việc sửa đổi, bổ sung điều lệ làm một trong những trường hợp xác lập quan hệ mẹ - con, trong
khi Luật Cạnh tranh sử dụng quyền chi phối các chính sách tài chính, hoạt động của doanh
nghiệp bị mua lại làm căn cứ xác định.
Hành vi liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau
góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một
doanh nghiệp mới
7
. Liên doanh là dạng liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua việc cùng
tham gia thành lập một doanh nghiệp mới. Nói cách khác, sự tồn tại của doanh nghiệp mới tạo
nên mối liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia. Xét về bản chất, hoạt động liên doanh đồng
nghĩa với hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp,
Luật Hợp tác xã, Luật các Tổ chức tín dụng và Luật Đầu tư. Thế nên, ngoài các quy định của
Luật Cạnh tranh, hoạt động liên doanh còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định về đăng ký kinh
doanh, về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư trong các văn bản nói trên.
1.2. Các ngưỡng gây hạn chế cạnh tranh của tập trung kinh tế.
Luật Cạnh tranh sử dụng thị phần làm cơ sở phân loại nhóm tập trung kinh tế và là tiêu chí
duy nhất để xác định cách thức xử lý. Những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp
của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan luôn làm hạn chế
cạnh tranh. Theo đó, việc tập trung kinh tế đã hình thành một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh
nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan và làm cho các doanh nghiệp còn lại chỉ
là thiểu số trên thị trường. Điều này cho thấy sự thay đổi cơ bản, đột ngột trong tương quan
cạnh tranh và cấu trúc cạnh tranh trên thị trường. Do đó, những trường hợp trên luôn bị coi là

1.3. Thủ tục thông báo tập trung kinh tế.
Luật Cạnh tranh quy định về thủ tục thông báo (từ Điều 20 đến Điều 26) trong đó đề cập
đến những vấn đề sau đây:
8
Khoản 6 điều 3 Luật cạnh tranh quy định: thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh
nghiệp tham gia vào tập trung kinh tế.
23
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
- Đối tượng áp dụng: Các trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp tham gia chiếm từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp doanh
nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Trách nhiệm của các doanh nghiệp có liên quan: Các doanh nghiệp tham gia tập trung
kinh tế phải làm hồ sơ thông báo tập trung kinh tế theo điều 21 Luật Cạnh tranh để nộp cho cơ
quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ. Hồ sơ thông báo việc
tập trung kinh tế cung cấp những thông tin cần thiết về tài chính, về sản phẩm, về thì phần của
doanh nghiệp trên thị trường liên quan trong hai năm liên tiếp gần nhất… làm cơ sở để cơ quan
có thẩm quyền phân tích, đánh giá vụ việc.
- Thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh: Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền kiểm
soát tập trung kinh tế bằng việc xem xét hồ sơ thông báo và trả lời thông báo tập trung kinh tế.
Nội dung trả lời thông báo tập trung kinh tế phải xác định tập trung kinh tế thuộc một
trong hai trường hợp sau:
(i) Tập trung kinh tế không thuộc trường hợp bị cấm; hoặc
(ii) Tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, lý do cấm
phải được nêu rõ trong văn bản trả lời.
- Quan hệ giữa thủ tục thông báo và các thủ tục khác có liên quan đến tập trung kinh tế.
Ngoài thủ tục thông báo, tùy từng hình thức tập trung kinh tế mà các doanh nghiệp tham gia có
thể phải thực hiện các thủ tục khác nếu được tiến hành tập trung kinh tế. Đối với hình thức
sáp nhập, hợp nhất, doanh nghiệp phải thực hiện thêm thủ tục tổ chức lại theo pháp luật về
doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp cần tiến hành thủ tục chuyển nhượng vốn, chuyển
nhượng cổ phần,…; hình thức liên doanh cần thực hiện việc đăng ký kinh doanh hoặc thủ tục đăng

hợp
lệ
Hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ
Hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ
Cơ quan cạnh tranh
Cơ quan cạnh tranh
Các bên liên quan
Các bên liên quan
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Trả lời bằng văn bản
Trả lời bằng văn bản
Yêu cầu cung cấp thông
tin
Yêu cầu cung cấp thông
tin
Đầy
đủ
hợp
lệ
Đầy
đủ
hợp
lệ
Hồ sơ hợp lệ đầy đủ
Hồ sơ hợp lệ đầy đủ
Cơ quan cạnh tranh
Cơ quan cạnh tranh
Bộ trưởng Bộ thương
Bộ trưởng Bộ thương

1.4. Chế tài.
Việc xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế (tiến hành tập trung kinh tế trong những
trường hợp bị cấm hoặc tập trung kinh tế mà không thông báo khi thuộc những trường hợp phải
thông báo) được thực hiện theo quy trình tố tụng cạnh tranh, trong đó cơ quan quản lý cạnh
tranh có chức năng điều tra vụ việc và Hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền xử lý hành vi vi
phạm bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo các quy định của Luật Cạnh
26
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
tranh và Nghị định 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 09 năm 2005 về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
Các biện pháp xử phạt bao gồm: phạt tiền tùy theo hành vi vi phạm và mức độ nghiêm
trọng của hành vi. Theo đó, phạt tiền đến 5% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến
hành tập trung kinh tế đối với sáp nhập, hợp nhất, mua lại liên doanh bị cấm; phạt tiền từ 5%
đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với sáp
nhập, mua lại bị cấm trong trường hợp có dấu hiệu chèn ép, buộc doanh nghiệp khác phải
sáp nhập hoặc bán toàn bộ hoặc một phần tài sản; phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu
trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với hợp nhất, liên doanh bị cấm
trong trường hợp làm tăng giá hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan một cách đáng kể;
phạt tiền từ 1% đến 3% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh
tế trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định của Luật Cạnh tranh.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể bị buộc thực hiện chia tách các doanh nghiệp đã sáp nhập,
hợp nhất; bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bị buộc phải bán tài sản đã mua…
(Điều 25 đến điều 29 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm 2005 về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh).
2. Cơ quan quản lý.
Theo pháp luật cạnh tranh và pháp luật doanh nghiệp, việc kiểm soát các hành vi nhập, hợp
nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp có sự tham gia của các cơ quan là:
(i) Cơ quan quản lý cạnh tranh
9
có chức năng: Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status