Pháp luật về trưng cầu dân ý kinh nghiệm thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam - Pdf 29

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH NHÃ PHƢƠNG

PHÁP LUẬT VỀ TRƢNG CẦU DÂN Ý KINH NGHIỆM
THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH NHÃ PHƢƠNG PHÁP LUẬT VỀ TRƢNG CẦU DÂN Ý KINH NGHIỆM
THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành : Lý luận lịch sử nhà nƣớc và pháp luật

MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRƢNG CẦU DÂN Ý 6
1.1. Khái niệm trưng cầu dân ý 6
1.2. Vị trí, vai trò của trưng cầu dân ý 12
1.3. Phân loại trưng cầu dân ý 14
1.3.1. Phân loại theo tiêu chí hình thức 14
1.3.2. Phân loại theo tiêu chí nội dung 16
1.4. Quy trình, thủ tục Trưng cầu dân ý 17
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN TRƢNG CẦU DÂN Ý Ở MỘT SỐ NƢỚC
TRÊN THẾ GIỚI 27
2.1. Trưng cầu dân ý ở một số nước phát triển 27
2.1.1. Trưng cầu dân ý ở Thụy Sỹ 27
2.1.2. Trưng cầu dân ý ở Pháp 34
2.1.3. Trưng cầu dân ý ở Nga 37
2.2. Trưng cầu dân ý ở một số nước Châu Á 40
2.2.1. Trưng cầu dân ý ở Nhật Bản 40
2.2.2. Trưng cầu dân ý ở các nước Đông Nam Á 43
CHƢƠNG 3: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN TRƢNG CẦU DÂN Ý Ở
VIỆT NAM 49
3.1. Quy định về Trưng cầu dân ý trong các Hiến pháp 49
3.2. Pháp luật về Dân chủ trực tiếp 58
3.2.1. Tham gia đóng góp ý kiến khi Nhà nước tổ chức lấy ý kiến nhân dân 58
3.2.2. Thực hiện các quyền dân chủ trực tiếp ở cơ sở 62
3.3. Xây dựng luật trưng cầu dân ý 69

3.3.1. Sự cần thiết ban hành luật trưng cầu dân ý 69
3.3.2. Các yêu cầu của luật trưng cầu dân ý 72
3.3.3. Đề xuất các kiến nghị xây dựng luật trưng cầu dân ý 75

bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân.
Mặc dù được tuyên bố trong Hiến pháp, nhưng thực tiễn cho thấy nhân
dân chưa bao giờ thực hiện quyền biểu quyết trong các cuộc trưng cầu dân ý.
Thực tiễn này xuất phát từ nhiều lý do, mà trước hết phải kể đến bối cảnh khó
khăn của những giai đoạn giành và giữ chủ quyền trong hai cuộc chống giặc Mỹ
và Pháp. Bước sang giai đoạn độc lập hoàn toàn, trong thời kỳ đầu của giai đoạn
tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tập quyền, nhà nước quản lý xã hội theo
phương thưc tập trung, bao cấp, các quyền tự do dân chủ trực tiếp còn chưa được
thực sự được chú trọng. Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới mở rộng dân chủ, đặc
biệt là dân chủ trực tiếp, trưng cầu dân ý trở thành một vấn đề quan trọng được
2

quan tâm từ cả phía học giả lẫn chính trị. Tuy vậy, việc tổ chức một cuộc trưng
cầu dân ý vẫn chưa diễn ra, có nguyên nhân chính xuất phát từ các hạn chế của
quy định Hiến pháp hiện hành về trưng cầu dân ý, theo đó Hiến pháp không quy
định rõ về nội dung, quy trình trưng cầu dân ý, mà lại trao cho Quốc hội quyết
định việc trưng cầu dân ý. Quyền hiến định này của người dân không được thực
thi khi Quốc hội không tổ chức trưng cầu dân ý cho người dân biểu quyết.
Ngoài những vấn đề lớn ảnh hưởng đến sự vô hiệu quy định này như
quyền dân chủ trực tiếp vẫn chưa thực sự được đề cao, Quốc hội thiếu thực
quyền, thì sự thiếu vắng một đạo luật quy định về trưng cầu dân ý cũng được nêu
như là một trong những rào cản về mặt pháp lý cho việc thực thi trưng cầu dân ý
trên thực tế. Rõ ràng, việc tuyên bố trong Hiến pháp quyền tham gia trưng cầu
dân ý đặt ra trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ bảo đảm thực hiện quyền
đó. Trước hết, Quốc hội phải ban hành luật trưng cầu dân ý quy định các quy tắc
quy định quy trình, thủ tục để các cơ quan nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý và
người dân thực hiện quyền tham gia biểu quyết.
Trong các thảo luận sửa đổi Hiến pháp gần đây, nhiều người quan tâm đến
quy định Hiến pháp về trưng cầu dân ý. Nhiều đề xuất đề nghị quy định rõ các
vấn đề trưng cần dân ý thay vì trao quyền cho Quốc hội quyết định việc trưng

-Hội thảo Trưng cầu dân ý- Những vấn đề lý luận và thực tiễn do Hội
Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 04/6/2013
- Hội thảo quốc tế về Luật Trưng cầu ý dân của một số nước và kinh
nghiệm cho Việt Namdo Hội Luật gia Việt Nam phối hợp Chương trình phát
triển của Liên hợp quốc UNDP tổ chức tại Hà Nội ngày 17-18/11/2014
Nhìn chung, mỗi công trình trên thường đi sâu nghiên cứu một mặt hoặc
một vấn đề cụ thể nào đó của trưng cầu dân ý như: khái niệm trưng cầu dân ý;
bản chất, nội dung và yêu cầu cơ bản của trưng cầu dân ý; Chủ nghĩa Mác- Lê
Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về trưng cầu dân ý; các hình thức trưng cầu dân
ý…Cho đến nay một số công trình nghiên cứu đã cung cấp cho khoa học nhiều
4

tư liệu quý về trưng cầu dân ý, song chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu tổng quát những vấn đề cơ bản về pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý trên
thế giới và ở Việt Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
3.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật trưng cầu
dân ý ở nước ngoài và Việt Nam, đưa ra những đóng góp, đề xuất để hoàn thiện
pháp luật trưng cầu dân ý.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về trưng cầu dân ý;
- Đánh giá pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý ở một số nước điển hình
trên thế giới;
- Đánh giá pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý ở Việt Nam, đề xuất
quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về trưng cầu dân ý, đặc biệt trong việc
xây dựng Luật Trưng cầu dân ý.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật trưng cầu dân ý ở Việt
Nam và một số nước trên thế giới.Qua đó chỉ ra những hạn chế còn tồn tại của

phiếu quyết định (đồng ý hay không đồng ý) về những vấn đề của Nhà nước,
thường là các vấn đề liên quan đến chính trị quan trọng của quốc gia như sửa đổi
Hiến pháp, tham gia liên minh, quyết định các vấn đề lớn liên quan đến quyền
làm chủ của người dân… Vì vậy, để làm rõ được bản chất của trưng cầu dân ý
trước tiên chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm dân chủ trực tiếp.
Dân chủ trực tiếp cùng với dân chủ gián tiếp là hai cơ chế chủ yếu để
người dân thực hiện quyền lực của mình. Nếu như dân chủ gián tiếp là cơ chế
mà người dân thực hiện quyền lực thông qua cơ quan đại diện do mình bầu ra thì
dân chủ trực tiếp là cơ chế mà người dân được trực tiếp tham gia các công việc
của nhà nước và cộng đồng, không thông qua bất kỳ một khâu trung gian nào.
Dân chủ trực tiếp được hiểu theo các truyền thống đó là “sự thể hiện một cách
trực tiếp ý chí của nhân dân về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua một
tổ chức hay các nhân nào thay mặt mình và ý chí đó có giá trị thi hành
ngay”[19, tr.15]. Theo quan điểm hiện đại, “dân chủ trực tiếp là một phương
thức làm chủ của nhân dân khi nhân dân- chủ thể của quyền lực- quyết định
hoặc bày tỏ ý chí, nguyện vọng, đề đạt kiến nghị nào đó trong xây dựng nhà
nước, trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám
sát bộ máy nhà nước do chính mình lập nên”.[19,tr.16]
Dân chủ trực tiếp xuất hiện đầu tiên ở nhà nước Aten cổ đại. Khi đó người
ta thường tập hợp số lượng dân chúng tối đa khoảng 5000 đến 6000 người ở một
địa điểm để cùng bàn bạc, thảo luận và trực tiếp đưa ra các quyết định về các vấn
đề của đất nước. Đó chính là những hoạt động trưng cầu dân ý của người dân
vào buổi sơ khai. Người ta còn tìm thấy các quy định về trưng cầu dân ý, quy
định kết quả của các cuộc trưng cầu dân ý là bắt buộc đối với mọi vương quốc và
mọi thần dân trong rất nhiều các Đạo luật cổ như: Đạo luật Valery và Horasy
năm 449 TCN, đạo luật Publia năm 339 trước TCN và sau đó là đạo luật
Hortensia năm 287 TCN.
7

Qua đó có thể thấy, trưng cầu dân ý là một phạm trù có tính lịch sử, xuất

nhân dân là quyết định cuối cùng. Đi sâu vào chi tiết hơn thì phạm vi phúc quyết
có thể là những vấn đề quan trọng của quốc gia như Hiến pháp, văn bản pháp
luật… cũng có thể chỉ là những vấn đề nhỏ ở trong một đơn vị hành chính sự
nghiệp như việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với lãnh đạo, hay các quyết định mang
tính chất nội bộ của cơ quan… Điều này cũng đồng nghĩa với việc chủ thể của
quyền phúc quyết có thể là toàn dân, cũng có thể chỉ là một bộ phận nhỏ người
dân trong một cơ quan, tổ chức. Khác với phúc quyết, phạm vi của trưng cầu dân
ý là những vấn đề quan trọng của quốc gia hay của địa phương, ví dụ như thông
qua Hiến pháp mới, sửa đổi bổ sung Hiến pháp cũ, chia tách địa giới hành
chính… những vấn đề này đều là những vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới một bộ
phận không nhỏ người dân, chính vì vậy chủ thể của trưng cầu dân ý rộng hơn
rất nhiều so với phúc quyết.
Pháp luật Việt Nam, thuật ngữ phúc quyết được sử dụng trong Hiến pháp
năm 1946 ở các Điều 21 “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những
điều liên quan tới vận mệnh quốc gia…”,Điều 32 “Những việc quan trọng đến
vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị
viện đồng ý” và Điều 70 “Những điều thay đổi khi được Nghị viện ưng thuận thì
phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Tuy nhiên nội hàm của các quy định này lại
giống với trưng cầu dân ý, vì vậy tới bản Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980
quyền này được đổi thành trưng cầu ý kiến nhân dân, tới bản Hiến pháp 1992 thì
được gọi là trưng cầu ý dân.
* Trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân
Trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành của nước ta đã có những ghi
nhận về việc trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân. Đây là hai hình thức hoạt
động của cơ quan nhà nước có mục đích, yêu cầu gần giống nhau nhưng cách
thức tiến hành lại hoàn toàn khác nhau. Do vậy về mặt lý luận và hoạt động thực
tế rất cần có sự phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa trưng cầu dân ý và lấy ý kiến
nhân dân để đề ra và thực hiện mục đích, yêu cầu của mỗi hoạt động này được
đúng đắn và tốt hơn.
9


- Hình thức trưng cầu dân ý bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức bỏ
phiếu với câu trả lời đồng ý hay không đồng ý với vấn đề đề đưa ra trưng cầu,
còn việc lấy ý kiến nhân dân thường không thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu,
người dân góp ý bằng cách thể hiện ý kiến trong văn bản và gửi cho cơ quan tổ
chức việc lấy ý kiến nhân dân.
* Trưng cầu dân ý và bầu cử
Bầu cửlà hoạt động bỏ phiếu của người dân để chọn ra những cá nhân
nắm giữ các chức vụ quan trọng hoặc tham gia vào cơ quan đại diện của mình.
Bầu cử có thể là bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng địa phương hoặc cũng
có thể là bầu người lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức…
Bầu cử và trưng cầu dân ý có khá nhiều nét tương đồng, đặc biệt là ở quy
trình thủ tục thực hiện hai hoạt động này. Cả bầu cử là trưng cầu dân ý đều có
chung một chủ thể được gọi là cử tri và thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu. Tuy
nhiên có thể nhận thấy điểm khác biệt cơ bản giữa bầu cử và trưng cầu dân ý ở chỗ:
- Đối tượng của bầu cử hướng tới là chọn lựa ra các cá nhân cụ thể, trong
khi đối tượng của trưng cầu dân ý là lựa chọn đồng ý hay không đồng ý một vấn
đề mà cơ quan nhà nước đưa ra.
- Bầu cử là việc trao quyền lực (uỷ thác quyền lực) của nhân dân cho
người được chọn, đó là việc chuyển hoá ý chí của người dân sang cơ quan đại
diện. Trong khi đó, trưng cầu dân ý là việc người dân trực tiếp thực hiện quyền
lực của mình, trực tiếp thể hiện ý chí của mình mà không thông qua bất kỳ một
cơ quan, tổ chức nào khác.
- Quy mô của các cuộc bầu cử có thể là trên toàn quốc như tổng tuyển cử
toàn quốc bầu đại biểu Quốc hội, ở phạm vi địa phương như bầu đại biểu Hội
đồng nhân dân cũng có khi là bầu người lãnh đạo trong các tổ chức doanh
nghiệp. Quy mô của các cuộc trưng cầu dân ý thường chỉ có hai mức độ là trưng
cầu dân ý trên phạm vi cả nước như là việc thông qua Hiến pháp, pháp luật và
trưng cầu dân ý ở địa phương đó là những vấn đề quan trọng của địa phương như
sát nhập địa giới hành chính, xây dựng các công trình công cộng…

quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của pháp luật
hoặc theo sáng kiến trưng cầu dân ý, thông qua thủ tục bỏ phiếu.
12

1.2. Vị trí, vai trò của trƣng cầu dân ý
Vị trí, vai trò của dân chủ trực tiếp nói chung và của trưng cầu dân ý nói
riêng trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia như thế nào, điều đó phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác nhau, như các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, trình độ dân trí, trình độ chính trị, trình độ pháp lý, thói quen thực hiện dân
chủ của người dân theo từng nước; phụ thuộc vào sự tác động của các quốc gia
khác nhau trong khu vực và trên thế giới… Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng,
khi dân chủ càng phát triển thì càng tạo điều kiện mở rộng và phát huy trưng cầu
dân ý. Ngược lại, ở đâu và nơi nào quan tâm và chú trọng tới dân chủ trực tiếp
cũng như trưng cầu dân ý, thì nơi đó nền dân chủ mới thực sự phát triển và chế
độ chính trị ở đó mới thực sự mang bản chất “quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân”. Nói cách khác, dân chủ là tiền đề để thực hiện và mở rộng trưng cầu dân ý;
và ngược lại, trưng cầu dân ý là công cụ, phương tiện quan trọng thúc đẩy sự
phát triển của dân chủ cả về phạm vi và mức độ.
Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ trực tiếp nhất. Bên cạnh các hình
thức dân chủ khác như: bầu cử, quyền khiếu nại tố cáo, quyền được bàn bạc,
quyết định các vấn đề phát triển kinh tế ở địa phương, quyền tự quản ở khu dân
cư… thì trưng cầu dân ý được coi là hình thức dân chủ trực tiếp nhất. Bởi lẽ,
thông qua bầu cử người dân mới bầu ra người đại diện cho mình tham gia vào
các cơ quan quyền lực nhà nước, mọi tâm tự nguyện vọng của người dân sẽ được
biểu đạt thông qua người đại diện, tuy nhiên trên thực tế ý chí của người đại diện
đó lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố do vậy nhiều khi hoạt động của người đại biểu
đó lại không phản ánh được ý chí của nhân dân. Trong khi đó, thông qua hoạt
động trưng cầu dân ý, công dân thể hiện trực tiếp ý chí của mình đối với các vấn
đề quan trọng của quốc gia thông qua lá phiếu. Do đó, những quyết định quan
trọng của chính quyền luôn phù hợp và phản ánh được ý chí của người dân.

với đất nước.
14

1.3. Phân loại trƣng cầu dân ý
Trong phần này, nghiên cứu sẽ làm rõ các loại trưng cầu dân ý dựa theo
các tiêu chí khác nhau: hình thức và nội dung.
1.3.1. Phân loại theo tiêu chí hình thức
- Nếu căn cứ vào chủ thể đề xuất của cuộc trưng cầu dân ý thì có thể phân
ra làm hai hoại trưng cầu dân ý là trưng cầu dân ý bắt buộc và trưng cầu dân ý
tuỳ nghi.
+ Trưng cầu dân ý bắt buộc: là cuộc bỏ phiếu của cử tri được tiến hành
một cách đương nhiên đối với những vấn đề cụ thể mà hiến pháp hoặc pháp luật
quy định. Trưng cầu dân ý bắt buộc thường chỉ áp dụng đối với các quyết định
chính trị rất quan trọng. Trưng cầu dân ý bắt buộc thường được áp dụng đối với
việc sửa đổi Hiến pháp, bất đồng giữa tổng thống và cơ quan lập pháp, phê
chuẩn các điều ước quốc tế, tham gia một tổ chức siêu quốc gia, các vấn đề về
chủ quyền quốc gia hoặc tự quyết.
Ví dụ: ở Úc, Đan Mạch và Venezuela, tất cả các sửa đổi về hiến pháp đều
phải bắt buộc thông qua trưng cầu dân ý; còn ở các nước như Iceland và Peru,
trưng cầu dân ý được áp dụng đối với một số trường hợp sửa đổi Hiến pháp nhất
định. Tại Thụy Sỹ - quê hương của trưng cầu dân ý, một số điều ước quốc tế bắt
buộc phải đưa ra trưng cầu dân ý trước khi phê chuẩn và ở Đan Mạch thì việc
trao quyền cho các tổ chức quốc tế hoặc tổ chức siêu quốc gia phải được thực
hiện thông qua hình thức trưng cầu dân ý.[22, tr.132]
+ Trưng cầu dân ý tuỳ nghi: là cuộc bỏ phiếu của cử tri không theo quy định
của pháp luật mà theo đề xuất của Chính phủ hoặc một số trường hợp theo đề xuất
của của các đảng phái. Loại trưng cầu dân ý này có nhiều hình thức khác nhau.
Trưng cầu dân ý được quy định trước mang tính nguyên tắc trong hiến
pháp hoặc trong các quy chế về trưng cầu dân ý. Như ở Tây Ban Nha, Hiến pháp
quy định: “các quyết định mang tính chất chính trị đặc biệt quan trọng có thể

loại ra làm hai hình thức:
16

+ Trưng cầu dân ý trên phạm vi cả nước: là cuộc trưng cầu dân ý được
tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của toàn quốc gia với sự tham gia của tất cả các
cử tri trong cả nước.
+ Trưng cầu dân ý ở địa phương: là cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành
trong một phạm vi lãnh thổ của một đơn vị hành chính hoặc một số đơn vị hành
chính của quốc gia với sự tham gia của cử tri địa phương hoặc của vùng đó.
1.3.2. Phân loại theo tiêu chí nội dung
- Nếu căn cứ vào đối tượng đưa ra trưng cầu dân ý thì có thể phân ra làm
những loại như sau:
+ Trưng cầu dân ý về lập hiến: là cuộc trưng cầu dân ý về nội dung của
bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua, có nên hay không nên sửa đổi Hiến
pháp hiện hành hoặc về nội dung của Hiến pháp đã được sửa đổi, bổ sung.
+ Trưng cầu dân ý về lập pháp: là cuộc trưng dân ý cầu về các đạo luật đã
được Quốc hội thông qua hoặc về sáng kiến của nhân dân đề nghị ban hành một
đạo luật hay là cuộc trưng cầu để nhân dân trực tiếp quyết định về việc quốc gia
mình có tham gia hoặc không tham gia vào một điều ước quốc tế.
+ Trưng cầu dân ý về hành pháp: là cuộc trưng cầu dân ý mà nhân dân
trực tiếp quyết định các vấn đề về quản lý nhà nước như quyết định việc chia,
tách, sáp nhập, điều chỉnh những thay đổi khác về địa giới hành chính- lãnh thổ
nơi mình sinh sống; hay việc nhân dân tự mình quyết định về một dự án quy
hoạch, đầu tư xây dựng công trình liên quan trực tiếp đến lợi ích của cộng đồng
dân cư…
- Nếu căn cứ vào tính chất chất của cuộc trưng cầu dân ý có thể chia ra
thành: trưng cầu dân ý bắt buộc và trưng cầu dân ý tham khảo.
+ Trưng cầu dân ý bắt buộc: là trưng cầu dân ý mà kết quả của cuộc trưng
cầu dân ý là kết quả cuối cùng, buộc các cơ quan nhà nước phải quyết định theo
mà không thể có quyết định nào khác.

18

- Đối với sáng kiến trưng cầu dân ý trên phạm vi toàn quốc:
+ Nguyên thủ quốc gia
+ Nghị viện (Quốc hội)
+ Chính phủ
+Nghị sĩ (nhóm đại biểu Quốc hội)
+ Công dân (nhóm cử tri)
- Đối với trưng cầu dân ý ở phạm vi đại phương.
+ Công dân (nhóm cử tri)
+ Cơ quan dân cử của địa phương.
Sáng kiến trưng cầu dân ý gồm hai quyền là trình sáng kiến trưng cầu dân
ý của các cơ quan có thẩm quyền theo luật định hoặc là quyền đưa ra các kiến
nghị sáng kiến trưng cầu dân ý của các cơ quan, tổ chức, các nhân và công dân
đề nghị tới cơ quan có thẩm quyền. Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế- xã hội ở
mỗi quốc gia, mà pháp luật các nước cũng có những quy định khác nhau về vấn
đề này. Ở Cộng hoà Pháp, Chính phủ và Quốc hội là hai chủ thể có quyền sáng
kiến trưng cầu dân ý, khi hai chủ thể này có sáng kiến trưng cầu dân ý về một
vấn đề nào đó thì buộc Tổng thống phải xem xét và quyết định có nên tổ chức
trưng cầu dân ý hay không, ở Armenia, sáng kiến trưng cầu dân ý thuộc về Quốc
hội. Ở một số nước khác, lại quy định nhân dân cũng có quyền nêu sáng kiến
trưng cầu dân ý. Ở Macedonia, người dân muốn tổ chức trưng cầu dân ý thì phải
thu thập được 150.000 chữ ký của cử tri vào bản kiến nghị (khoản 3, Điều 73,
Hiến pháp Macedonia 1991). Ở Italia, sáng kiến trưng cầu dân ý của công dân
được công nhận khi có 500.000 chữ ký ủng hộ của cử tri. Ở Hungary, sáng kiến
trưng cầu dân ý được quy định cho các chủ thể như chủ tịch nước, Hội đồng bộ
trưởng, Nghị sĩ nếu như có 50 chữ ký đề nghị và cử tri nếu thu thập được ít nhất
50.000 chữ ký (Hiến pháp Hungary năm 1949, bổ sung năm 1990). Ở Việt Nam
hiện nay chưa có quy định về chủ thể có quyền sáng kiến trưng cầu dân ý.


Trích đoạn Trưngcầu dân ýở Thụy Sỹ Trưngcầu dân ýở Pháp Trưngcầu dân ýở Nga Trưngcầu dân ýở Nhật Bản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status