TÓM LƯỢC
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước đã chủ trương thực hiện
chính sách phát triển kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.
Đồng thời mở rộng đầu tư trên nhiều lĩnh vực kinh tế, vì có đầu tư mới có phát triển.
Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại nhiều loại hình đầu tư, trong đó, hình thức đầu tư theo hợp
đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư linh hoạt và hiệu quả,
được pháp luật đầu tư của hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận. Tuy nhiên, bất kỳ
hình thức đầu tư nào bên cạnh những ưu thế nổi trội cũng tiềm ẩn trong nó những điểm
hạn chế nhất định. Khi lựa chọn hình thức đầu tư, các nhà đầu tư cần phải tìm hiểu thật
kỹ những ưu thế cũng như hạn chế của từng hình thức đầu tư để lựa chọn hình thức đầu
tư phù hợp nhất đối với từng dự án đầu tư nhằm đảm bảo dự án đầu tư thu về được lợi
nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất. Hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC là hình thức
đầu tư ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam vì nó được đánh giá là dễ tiến hành, thích
hợp với các dự án cần triển khai nhanh mà thời hạn đầu tư ngắn.
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ
của quý thầy cô, gia đình và bạn bè để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp với đề tài:
“Pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh - Thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
Việt Nam”.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn:
- Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa Kinh tế- Luật, các thầy cô giáo bộ môn Luật
chuyên nghành, trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài
khóa luận này.
- Cô giáo hướng dẫn- ThS. Nguyễn Thị Nguyệt đã tận tâm hướng dẫn em và giúp
em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này em đã rất cố
gắng nhưng do kiến thức, kinh nghiệm của em còn hạn chế do vậy khó tránh khỏi những
thiếu sót. Em mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy giáo, cô giáo để bài
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, em xin kính chúc thầy cô Khoa Kinh tế - Luật và cô Nguyễn Thị Nguyệt
dồi dào sức khỏe, giữ vững niềm tin tiếp tục sự nghiệp nghề giáo cao đẹp để dìu dắt cho
nhân, mọi thành phần kinh tế đặc biệt là nguồn vốn nước ngoài.
Những cải cách kinh tế mạnh mẽ trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừa qua đã mang lại
cho Việt Nam những thành quả bước đầu rất đáng phấn khởi. Việt Nam đã tạo ra được
một môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động. Nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong việc huy động
các nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập cạnh tranh các doanh nghiệp đang từng bước hoàn
thiện mình để có thể tồn tại và phát triển. Hiện nay, ở nước ta hình thức đầu tư theo hợp
đồng BCC đang ngày càng được các nhà đầu tư trong và ngoài nước ưu tiên lựa chọn khi
tiến hành hoạt động đầu tư của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất
động sản tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, lĩnh vực cung cấp
dịch vụ viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí và các khoáng sản quý hiếm… Tuy nhiên,
tùy từng dự án đầu tư cụ thể, các nhà đầu tư cần phải tìm hiểu cả ưu điểm cũng như hạn
chế của từng hình thức đầu tư để lựa chọn được hình thức đầu tư phù hợp nhất nhằm hạn
chế tới mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ một dự án đầu tư nào. Mà rủi
ro thường xảy đến do sự thiếu hiểu biết về mặt pháp luật là chủ yếu, khi ký kết một hợp
đồng hợp tác kinh doanh nhưng không hiểu rõ hình thức đúng, thủ tục trình tự phải làm
thế nào, đáp ứng điều kiện ra sao thì hiển nhiên ký kết nhưng hợp đồng sẽ không có giá trị
dẫn đến sự khó khăn và tạo ra rủi ro. Vì thế bài nghiên cứu pháp luật về đầu tư theo hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh sẽ đi sâu vào tìm hiểu thực trạng, cũng như những
điểm mạnh, điểm yếu của hình thức đầu tư này để có thể giúp doanh nghiệp ngày càng
phát triển hơn trên thị trường Việt Nam nói riêng và quốc tế nói chung. Để tìm hiểu thêm
về vấn đề này, em xin mạnh dạn chọn đề tài “ Pháp luật về đầu tư theo hợp đồng hợp tác
kinh doanh – Thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam” để làm đề tài cho bài
khóa luận tốt nghiệp này.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Đến nay, đã có một số công trình khoa học đề cập đến hợp đồng hợp tác kinh:
Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Đỗ Nhất Hoàng về “ Sự hình thành và phát triển
của luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam”. Luận án này nghiên cứu
sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài, đánh giá thực trạng và dự
lực,… Sau đó so sánh với hợp đồng hợp tác kinh doanh có theo đúng quy trình của hợp
đồng trong kinh doanh, những điểm giống và điểm khác giữa hợp đồng khái quát và hợp
đồng riêng biệt theo lĩnh vực.
Nguyễn Thị Tuyết Vân (2013), Pháp luật về kinh tế, Nxb Lao động - Xã hội, Hà
Nội: Luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường là tổng hợp các quy phạm pháp
luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ
chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ
thể kinh doanh với nhau. Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế
vừa mang yếu tố tài sản vừa mang yếu tố tổ chức kế hoạch. Trong đó bao gồm các lĩnh
vực thương mại, đầu tư và các hợp đồng kinh tế là không thể thiếu, cũng với đó là hợp
đồng đầu tư chịu sự điều chỉnh của luật kinh tế nói chung.
Các luận án này đã đề cập một số vấn đề của hợp đồng hợp tác kinh doanh nhưng
còn chưa chuyên sâu. Một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập trên trước hết làm
cho các nhà đầu tư nước ngoài hiểu rõ hơn về pháp luật đầu tư trước tiếp nước ngoài tại
Việt Nam. Đồng thời thể hiên đúng bản chất của hợp đồng hợp tác kinh, trên cơ sở đó xây
dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ về hợp đồng hợp tác kinh doanh ở
Việt Nam.
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ cập đến một số vấn đề của hợp
đồng hợp tác kinh doanh mang tính chất bao quát, chung chung mà chưa chuyên sâu đến
từng vấn đề. Do vậy bài khóa luận này nghiên cứu đi sâu vào một số vấn đề hợp đồng hợp
tác kinh doanh.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Phân tích đặc điểm của hợp đồng BCC và so sánh với các hợp đồng BTO, BOT, BT.
Nghiên cứu về nội dung của hợp đồng hợp tác kinh doanh và một số quyền cơ bản
của các bên trong hợp đồng.
Đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh trên thực tế.
Đề ra một số kiến nghị một số hướng hoàn thiện trong các quy định của pháp luật
đầu tư Việt Nam theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp
Phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh
doanh trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau liên quan. So sánh quy định giữa
Luật đầu tư với Luật doanh nghiệp, giữa Luật đầu tư cũ và Luật đầu tư mới được sửa đổi
bổ sung.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận tốt
nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh
doanh.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hợp đồng hợp tác
kinh doanh
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ THEO HỢP ĐỒNG HỢP
TÁC KINH DOANH
1.1. Khái quát chung về đầu tư theo hợp đồng BCC
Hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC là hình thức đầu tư ngày càng trở nên phổ biến
ở Việt Nam vì nó được đánh giá là dễ tiến hành, thích hợp với các dự án cần triển khai
nhanh mà thời hạn đầu tư ngắn. Có thể hiểu hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới nhiều góc
độ khác nhau:
Dưới góc độ pháp lý hợp đồng hợp tác kinh doanh được hiểu là sự thỏa thuận bằng
văn bản giữa hai hay nhiều bên cùng nhau tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh
doanh chung và phân chia kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới. Theo
Khoản 16 Điều 3 Luật đầu tư năm 2005 (LĐT 2005) quy định: “Hợp đồng hợp tác kinh
doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư
nhằm hợp tác.
Với tư cách là một hình thức đầu tư nước ngoài: Hợp đồng BCC là một hình thức
đầu tư trực tiếp nước ngoài mà các bên liên kết với nhau thực hiện một hoặc một số hoạt
động kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới và kết quả kinh doanh được phân
chia cho các bên tham gia hợp đồng. Đây là hình thức đầu tư được quy định trong pháp
luật của nhiều quốc gia. Mục đích của hợp đồng BCC là tạo nên sự hợp tác giữa các nhà
Thứ tư, nội dung của hợp đồng: là những thỏa thuận hợp tác kinh doanh bao gồm
các thỏa thuận cùng góp vốn kinh doanh, cùng phân chia lợi nhuận và cùng chịu rủi ro.
Thứ năm, phương thức thực hiện hợp đồng: nhà đầu tư không phải thành lập pháp
nhân, không có bộ máy tổ chức, quản lý doanh nghiệp chung mà thực hiện dự án thong
qua các thỏa thuận đã ký.
Thứ sáu, lợi ích nhà đầu tư được hưởng: hình thức đầu tư dễ tiến hành, dự án triển
khai nhanh và thời hạn đầu tư ngắn, sớm thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh do
không mất thời gian thực hiện thủ tục thành lập pháp nhận và đầu tư xây dựng cơ sở sản
xuất mới.
Hiện nay, ở nước ta hình thức đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC đang ngày càng
được các nhà đầu tư trong và ngoài nước ưu tiên lựa chọn khi tiến hành hoạt động đầu tư
của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản, do những ưu điểm
nổi trội của nó mà các hình thức đầu tư khác không có.
Thứ nhất, hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC có thể giúp các nhà đầu tư tiết kiệm
rất nhiều thời gian, công sức cũng như tài chính trong việc thành lập pháp nhân mới cũng
như chi phí vận hành doanh nghiệp sau khi nó được thành lập, khi dự án đầu tư kết thúc,
các nhà đầu tư cũng không phải tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp. Vì vậy, hình thức
này luôn được chọn lựa. Ngoài ra, trong các dự án đầu tư, khi các nhà đầu tư đã lựa chọn
hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC thì ngay khi dự án hoàn thành, các bên có thể ngay
lập tức bán phần của mình như thỏa thuận phân chia mà không phụ thuộc vào các đối tác
còn lại.
Thứ hai, với hình thức đầu tư này, các bên có thể hỗ trợ lẫn nhau những thiếu sót,
yếu điểm của nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ví dụ như đối với những thị
trường đầu tư còn mới mẻ, nhà đầu tư nước ngoài sẽ dễ dàng tiếp cận thông qua những
đối tác trong nước am hiểu thị trường. Còn các nhà đầu tư trong nước thì có thể được các
đối tác nước ngoài hỗ trợ về vốn, nhân lực, công nghệ hiện đại.
Thứ ba, trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư nhân danh tư cách pháp lý
độc lập của mình để chủ động thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Do đó, nhà đầu tư
sẽ rất linh hoạt, độc lập, ít lệ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề của dự án đầu tư.
Nếu như đối với các hình thức đầu tư phải thành lập một pháp nhân mới, các nhà đầu tư
này.
Như vậy, có thể thấy hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC hiện nay trở nên phổ biến
do tính chất linh hoạt, hiệu quả. Tuy nhiên, tùy từng dự án đầu tư cụ thể, các nhà đầu tư
cần phải tìm hiểu cả ưu điểm cũng như hạn chế của từng hình thức đầu tư để lựa chọn
được hình thức đầu tư phù hợp nhất nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy
ra đối với bất kỳ một dự án đầu tư nào.
1.2. Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh hợp đồng BCC
1.2.1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng BCC
Pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh là danh từ pháp lý dùng để chỉ tập hợp
các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh về bản chất của hợp đồng
BCC, thủ tục giao kết hợp đồng, quan hệ giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và vấn đề giải quyết tranh chấp.
Đối với các nước khác thì có những khái niệm về pháp luật hợp đồng hợp tác kinh
doanh riêng. Theo học thuyết pháp lý của Hoa Kỳ, theo quy định tại luật Hoa Kỳ thì một
nhà đầu tư (cá nhân, pháp nhân) khi đầu tư trực tiếp có thể lựa chọn một trong các hình
thức kinh doanh sau:
1. Độc lập kinh doanh, tự bỏ vốn, tự quản lý hoạt động kinh doanh, tự thuê lao động
và tự chịu trách nhiệm cá nhân. Đây chính là hình thức công ty tư nhân, công ty chi
nhánh.
2. Liên kết với người khác bằng cách góp vốn chung, góp sức, cùng thuê lao động,
cùng chịu trách nhiệm.
Theo án lệ Hoa Kỳ, Cuốn Black’s law dictionary định nghĩa thì Joint Venture (Công
ty liên doanh) là một hình thức kinh doanh được thực hiện bởi hai hoặc nhiều người thực
hiện một dự án chung được xác định, là quan hệ pháp lý giữa hai hay nhiều người trong
một số hoạt động kinh doanh cụ thể, liên kết tìm kiếm lợi nhuận mà không thành lập bất
kỳ một Partnership (Công ty). Các Toà án Hoa kỳ đều xác định Joint Venture và
Partnership là hai liên kết kinh doanh tương tự nhau. Các qui định điều chỉnh Partnership
được áp dụng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến Joint Venture, chỉ có khác một
điểm là bên tham gia Partnership có quyền đại diện đương nhiên cho Partnership, còn bên
Để xúc tiến và thực hiện các hoạt động thương mại với bên ngoài thì mỗi quốc gia
phải chấp nhận ràng buộc với “luật chơi” chung trong thương mại quốc tế, trong đó đặc
biệt là theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.
1.2.2. Nội dung pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh
Quy phạm về chủ thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh: Theo LĐT 2005, chủ thể
hợp đồng hợp tác kinh doanh là các nhà đầu tư, bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài., số lượng chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đã không còn bị giới
hạn, có thể bao gồm hai hay nhiều nhà đầu tư có quan hệ hợp tác kinh doanh với nhau
(song phương hoặc đa phương).
Mỗi loại hợp đồng kinh doanh lại quy định chủ thể của hợp đồng có nét đặc trưng
riêng để có sự khác biệt nhận biết với từng loại hợp đồng trong thương mại. Ở đây, chủ
thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh có những đặc trưng riêng như các nhà đầu tư bao
gồm trong nước và nước ngoài, còn đối với hợp đồng BOT, BTO, BT thì chủ thể lại có
quy định khác đối với từng hạng mục đầu tư chủ thể là các nhà đầu tư trong nước.
Do đặc trưng của hợp đồng hợp tác kinh doanh nội dung với các mối quan hệ mở
rộng, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư cho hoạt động trong nước nhiều hơn,
mà với loại hình hợp đồng này thì các bên không bị giới hạn về số lượng, quyền lợi với
nghĩa vụ của các bên được hiểu một cách rõ ràng, ít sự ràng buộc.
Tuy nhiên để trở thành chủ thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh thì cần phải đáp
ứng một số điều kiện của pháp luật Việt Nam, như đáp ứng về giấy đăng ký kinh doanh,
làm thủ tục đăng ký đầu tư, thủ tục thẩm tra… tùy thuộc vào từng hạng mục đầu tư dự án
(Điều 3; Điều 13 LĐT 2005)
Quy phạm về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng: Khi đã xác định
được chủ thể của hợp hợp đồng hợp tác kinh doanh thì tiếp theo cần phải biết đến hình
thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) phải
được thành lập bằng văn bản và do người đại diện có thẩm quyền ký tất vào từng trang và
ký đầy đủ vào cuối trang ( nếu có nhà đầu tư nước ngoài ) được quy định tại Điều 55-
Nghị định 108/2006/ NĐ- CP.
Nếu hợp đồng được ký kết giữa 1 bên là nhà đầu tư Việt Nam với 1 bên là nhà đầu
tư nước ngoài thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm được cấp Giấy chứng
của hợp đồng BCC so với các hợp đồng khác trong thương mại (ở các hợp đồng khác,
thời điểm chuyển giao rủi ro được các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định là cơ sở
xác định rõ lợi nhuận hay rủi ro thuộc về một trong các bên của hợp đồng).
Do một bản hợp đồng được ký kết thì cần phải hiểu do nội dung được ký kết là nội
dung về vấn đề nào, có những điều khoản nào mà các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan
để thực hiện. Chính vì vậy, nội dụng của các loại hợp đồng có sự khác nhau chứ không
đồng nhất về mọi vấn đề được đưa ra, như hợp đồng BOT nội dung quy định về quyền và
nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam và nhà đầu tư liên quan đến ba
việc xây dựng, kinh doanh và chuyển giao công trình cho nhà nước Việt Nam.
Quy phạm về tranh chấp: tranh chấp là điều không muốn khi hợp tác kinh doanh
nhưng cũng không thể tránh khỏi, chính vì vậy cần có những biện pháp đưa ra để giải
quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Tranh chấp diễn ra có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau tạo nên, như do tranh
chấp trong nội bộ, tranh chấp giữa các nhóm hợp tác kinh doanh với nhau, về vấn đề
quyền lợi và rủi ro giữa các bên trong khi thực hiện hợp đồng. Những tranh chấp đó xảy
ra cần có biện pháp giải quyết kịp thời để tiếp tục hợp tác hoặc có thể xử lý một cách
công bằng cho các bên ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Tranh chấp được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án.
Tùy theo mức độ tranh chấp xáy ra mà phù hợp với từng cách thức giải quyết.( Điều 14-
Luật đầu tư 2014).
1.2.3. Quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về đầu tư theo
hợp đồng BCC
Pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh trải qua các giai đoạn khác nhau có sự
thay đổi các quy định cho phù hợp với từng thời kỳ.
Pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh trong giai đoạn từ năm 1977 đến năm
1987:
Thể chế hoá đường lối của Đảng, ngày 18/4/1977, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính
phủ) đã ban hành Điều lệ đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP
ngày 18/4/1977 (sau đây gọi là Điều lệ đầu tư nước ngoài năm 1977). Đây là văn bản
pháp lý đầu tiên của nước ta về đầu tư nước ngoài qui định các nguyên tắc cơ bản về đầu
Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 18-12-1987 của Chính phủ qui định chi tiết
thi hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tiếp đó Chính phủ lại ban hành Nghị định
số 24/2000/NĐ- CP ngày 19/3/2003 qui định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam. Để phù hợp với tình hình mới Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2003/NĐ-
CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2000/NĐ- CP ngày 31/7/2000 quy
định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên các qui định về hợp
đồng hợp tác kinh doanh không có nhiều thay đổi. Chỉ có hai thay đổi sau:
- Các bên được thành lập ban điều phối;
- Bên nước ngoài được thành lập văn phòng điều hành ở Việt Nam
Từ năm 2005 đến nay:
Luật Đầu tư 2005, lần đầu tiên hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC được quy định
một cách hoàn chỉnh nhất, và được cụ thể hóa tại Nghị định của Chính phủ số
108/2006/NĐ- CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của LĐT. Theo đó, hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC là quan hệ đầu tư được thiết lập
trên cơ sở hợp đồng. Các nhà đầu tư tuy góp vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh, song
không thành lập bất kỳ một tổ chức kinh tế mới nào.Mọi quyền và nghĩa vụ của các bên
được quy định và thực hiện thông qua thỏa thuận.
Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2014, có hiệu lực
kể từ 01/7/2015. So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có
10 chương, 213 điều, tăng 41 điều. Chương IV quy định về Doanh nghiệp nhà nước với
22 điều là chương mới hoàn toàn. Điều 10 quy định về tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của
doanh nghiệp xã hội cũng mới hoàn toàn. Luật Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế
thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh
nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ
những hạn chế, bất cập của Luật cũ, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận
lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1. Quy định điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh
2.1.1. Về bản chất hợp đồng
Hợp đồng hợp tác kinh doanh lần đầu tiên được quy định tại Luật đầu tư nước ngoài
Thông tin Điện tư hàng hải Việt Nam, công ty TNHH Thương mại Bình Minh và
Universal Telecom Service thì công ty Thông tin Điện tử hàng hải không góp vốn mà
đóng góp công sức là thực hiện việc điều hành toàn bộ mạng dự án. Còn hai công ty còn
lại có góp vốn và công sức mà các bên có quyền ngang nhau trong hoạt động quản lý và
điều hành hoạt động kinh doanh của thực thể kinh doanh được hình thành từ hợp đồng
hợp tác kinh doanh.
Để phân biệt hợp đồng hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp liên doanh cần chú ý
vào đặc điểm: Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập so với các bên liên
doanh còn thực thể được tạo ra bởi hợp đồng hợp tác kinh doanh không hoàn toàn độc lập
với các bên hợp doanh. Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh ( các bên hợp
doanh ) còn được gọi là nhóm hợp tác kinh doanh với nghĩa chỉ thực thể được tạo bởi sự
hợp doanh của các bên. Nhóm hợp tác kinh doanh tuy không có tư cách pháp nhân nhưng
lại được thực hiện hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp. Điều này được thể hiện ở
những điểm sau:
Nhóm hợp tác kinh doanh có thẩm quyền kinh doanh do giấy phép đầu tư cấp cho
hợp đồng hợp tác kinh doanh, ví dụ công ty A, công ty B ký hợp đồng hợp tác kinh doanh
kinh doanh trong lĩnh vực chế biến thực phẩm. Nhóm hợp tác kinh doanh hình thành bởi
A, B có thẩm quyền chế biến thực phẩm chứ không phải là riêng A hay B. Trong các giao
dịch liên quan đến thẩm quyền kinh doanh của cả nhóm thì A hoặc B thực hiện giao dịch
trên cơ sở đại diện của cả nhóm.
Nhóm hợp tác kinh doanh có quyền thuê tổ chức quản lý, mở chi nhánh, văn phòng
đại diện, bị áp dụng thủ tục thanh lý như một doanh nghiệp, có quyền tuyển dụng lao
động, có thể bị kiện, có quyền khởi kiện ( Điều 29- 30, 37- 44, 83 Nghị định số
24/2000/NĐ- CP, Nghị định 27/2003/NĐ- CP và Điều 24 Luật đầu tư nước ngoài năm
1996).
Nhóm hợp tác kinh doanh không phải là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
và các loại thuế khác mà mỗi bên hợp doanh độc lập chịu trách nhiệm nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp cho nhà nước theo quy định của pháp luật áp dụng cho từng bên. Đây chính
là lợi thế của hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh so với hình thức doanh nghiệp liên
doanh.
Cho thấy, chủ thể của hợp đồng BCC không nhất thiết phải là tổ chức, cá nhân kinh
doanh.
Với nhà đầu tư trong nước thì pháp luật không quá can thiệp, được tự do thỏa thuận
và trong hợp đồng tồn tại 3 nội dung là bỏ vốn, phân chia lợi nhuận và phân chia rủi ro.
Với nhà đầu tư trong nước hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài thì hợp đồng phải
nhiều nội dung hơn về quyền lợi, trách nhiệm, phân chia kết quả kinh doanh… Ngoài ra