1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là động lực của tăng trưởng, phát triển
kinh tế và tạo ra các tác động có lợi cho chính trị - xã hội. Một nền kinh tế sẽ không
thể tồn tại và phát triển nếu thiếu hoạt động đầu tư. Trong quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường thì đầu tư xây dựng cơ bản lại có
vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần tạo ra khối lượng lớn cơ sở vật chất và kỹ
thuật cho nền kinh tế. Chính vì vậy, việc sử dụng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ
bản như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng lãng phí, thất thoát
vốn là vấn đề được quan tâm hàng đầu.
Hòa Vang là huyện ngoại thành duy nhất của thành phố Đà Nẵng, với cơ cấu
kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Trong những năm qua, được sự quan tâm của các
cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương, tình hình đầu tư xây dựng cơ bản bằng
nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đang được khởi sắc. Đặc biệt là
từ khi chia chia tách huyện năm 2005 và đồng thời Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới được triển khai, có thể nói hệ thống cơ sở vật chất hạ
tầng kỹ thuật được cải thiện đáng kể góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân và thúc đẩy kinh tế - xã hội huyện phát triển.
Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà
nước còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế trong thời kỳ
mới, đặc biệt trong bối cảnh huyện Hòa Vang đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng
nông thôn mới. Tình trạng lãng phí nguồn vốn, ngân sách nhà nước vẫn còn xảy ra.
Do đó, việc phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng ngân sách
nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện giai đoạn 2009 – 2020
là nhu cầu cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn cao. Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đề
tài:
2
“ Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách
nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang – Thành phố Đà Nẵng ” để làm đề tài
dẫn nhiệt tình của cô Th.S Sử Thị Thu Hằng để em có thể hoàn thành tốt bài viết
này. Mặc dù vậy, do thời gian không nhiều, kỹ năng của bản thân còn yếu kém nên
bài làm không tránh khỏi những sai sót và khuyết điểm. Em rất mong nhận được
đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như các anh chị để bài khóa luận được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Quy Nhơn, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Mơ
4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Một số khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) bằng nguồn
vốn ngân sách nhà nước (NSNN)
*/ Đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn
lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động, trí tuệ và tài sản vật chất khác. Biểu hiện của tất cả nguồn lực bỏ ra nói trên
được gọi chung là vốn đầu tư (VĐT).
Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền
vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học…) và nguồn nhân
lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã
hội.
*/ Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản (XDCB) là các hoạt động cụ thể để tạo ra tài sản cố định
(TSCĐ) như khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt…Kết quả của hoạt động XDCB là
các TSCĐ, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định. Như vậy, XDCB là nột
trung vào NSNN nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, từng
bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu hồi vốn.
1.2. Đặc điểm của đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN
1.2.1. Đặc điểm của đầu tư XDCB
Là một bộ phận của đầu tư phát triển nên hoạt động đầu tư XDCB mang
những đặc điểm chủ yếu của đầu tư phát triển sau đây:
- Hoạt động đầu tư XDCB đòi hỏi một số vốn lớn và vốn này nằm khê đọng
trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vì thế, nhà đầu tư cần phải nghiên cứu để
6
quyết định xem sẽ bỏ vốn đầu tư vào đâu, phương thức huy động vốn như thế nào,
quản lý hoạt động đầu tư như thế nào.
- Hoạt động đầu tư thường kéo dài trong nhiều năm, huy động nhiều nguồn
lực kinh tế - xã hội nên nó thường mang tính rủi ro cao. Do đó, để đảm bảo cho mọi
công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác
chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư. Đối
với các dự án dài hạn thì đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng và dự tính được kết quả
xảy ra trong tương lai.
- Vì một trong các đặc trưng của hoạt động đầu tư là tính hiệu quả nên đòi
hỏi các kết quả thu được phải đảm bảo bù đắp được các chi phí đã bỏ ra và có lãi.
Muốn như vậy thì trước một hoạt động đầu tư, chúng ta phải chuẩn bị một cách
khoa học đầy đủ, chính xác để nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Việc chuẩn bị đó
được thể hiện thông qua quá trình lập các dự án đầu tư.
- Trong quá trình thực hiện đầu tư phải chịu tác động của rất nhiều yếu tố (tự
nhiên, pháp lý, yếu tố kinh tế,…) nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả đầu ra, đầu vào của
dự án. Do vậy kết quả và hiệu quả của hoạt đông đầu tư XDCB cũng theo đó mà
chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố không ổn định theo thời gian. Chính vì vậy,
cần phải xem xét, tính toán đầy đủ các vấn đề có liên quan đến dự án đầu tư trước
khi đầu tư. Từ đó, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đảm bảo cho dự án đầu tư có
hiệu quả. Đây chính là quá trình lập dự án đầu tư.
Thứ nhất, đầu tư XDCB từ NSNN gắn với hoạt động NSNN nói chung và
hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp về
chi NSNN cho đầu tư phát triển. Do đó, việc hình thành, phân phối, sử dụng và
thanh quyết nguồn vốn này được thực hiện chặt chẽ, theo luật định, được Quốc hội
phê chuẩn và các cấp chính quyền (chủ yếu là Hội đồng Nhân dân huyện) phê duyệt
hằng năm.
Thứ hai, đầu tư XDCB từ NSNN được sử dụng chủ yếu để đầu tư cho các
công trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạ tầng theo đối
tượng sử dụng theo quy định của Luật NSNN và các luật khác. Do đó, việc đánh giá
8
hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả về
kinh tế, xã hội và môi trường.
Thứ ba, đầu tư XDCB từ NSNN gắn với các quy định đầu tư và dự án,
chương trình đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến khâu
kết thúc đầu tư, nghiệm thu dự án và đưa vào sử dụng. Việc sử dụng nguồn vốn
NSNN này gắn với quá trình thực hiện và quản lý dự án đầu tư với các khâu liên
hoàn với nhau từ khâu quy hoạch, khảo sát thiết kế, chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự
án, kết thúc dự án. Các dự án này có thể được hình thành dưới nhiều hình thức như:
- Các dự án về điều tra, khảo sát để lập kế hoạch như các dự án quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, ngành, quy hoạch xây dựng đô thị
và nông thôn, quy hoạch ngành được Chính phủ cho phép.
- Dự án đầu tư xây dựng các công trình thiết kế kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội đường giao thông, mạng lưới điện, hệ thống cấp nước v.v…
- Dự án cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển một số ngành nghề, lĩnh
vực hay sản phẩm.
- Dự án hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia của
Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng. Căn cứ tính chất, nội dung,
đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trình đầu tư XDCB mà người ta phân thành
các loại vốn như: Vốn để thực hiện các dự án quy hoạch, vốn để chuẩn bị đầu tư,
quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa dự án đi vào sử dụng. Nó bao gồm:
- Các khoản đầu tư kiến thiết cơ bản được tính vào giá trị công trình như chi
phí cho vốn đầu tư, đền bù, chi phí cho quản lý dự án, bảo hiểm, dự phòng, thẩm
định,…
- Các khoản đầu tư kiến thiết tính vào tài sản lưu động bao gồm chi phí cho
mua sắm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định
hoặc chi phí cho đào tạo.
- Các khoản đầu tư kiến thiết cơ bản khác được nhà nước cho phép không
tính vào giá trị công trình (do ảnh hưởng của thiên tai, những nguyên nhân bất khả
kháng).
10
1.4. Vai trò của đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN
Với những đặc điểm như vậy, đầu tư XDCB là điều kiện trước tiên và cần
thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh
tế và với từng cơ sở sản xuất. Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau:
Một là, đầu tư XDCB có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi vì
nó tạo ra các TSCĐ. Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để sản xuất ra của cải vật
chất, đặc biệt là tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội. Tất cả các ngành
kinh tế chỉ tăng nhanh khi có đầu tư XDCB, đổi mới công nghệ, xây dựng mới để
tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Đầu tư XDCB nhằm xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế cho đất nước nói chung và trên địa bàn huyện nói riêng. Ở cấp
huyện, việc đầu tư XDCB bằng NSNN chủ yếu ở các công trình như giao thông,
thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế…Ngoài ra, nó còn có vai trò tạo điều kiện cho
các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thúc
đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Đầu tư
XDCB sẽ tạo điều kiện để phát triển mới, đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất ở các
doanh nghiệp.
Hai là, đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một
vai trò hết sức quan trọng, bởi vì vốn dành cho đầu tư XDCB bằng NSNN chiếm
đầu tư cho khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện nền tảng, tiền đề cho sự phát triển
theo hướng CNH – HĐH đất nước.
1.5. Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả đầu tư XDCB bằng
nguồn vốn NSNN
1.5.1. Chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu tư
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện
- Là tổng số tiền đã chi ra để tiến hành hoạt động của các công cuộc đầu tư
bao gồm: Chi cho công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng nhà cửa cấu trúc hạ tầng, mua
sắm thiết bị máy móc để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác
theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt.
- Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện bao gồm:
12
+ Đối với công tác đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện ngắn thì số vốn
đầu tư được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn bộ công việc của quá
trình thực hiện đầu tư kết thúc.
+ Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn, thời gian thực hiện kéo dài thì vốn
đầu tư được tính cho từng giai đoạn, từng hoạt động của một công cuộc đầu tư đã
hoàn thành.
+ Đối với công cuộc đầu tư do ngân sách tài trợ để tính số vốn đã chi để
được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trình thực
hiện đầu tư phải đạt tiêu chuẩn.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thực hiện vốn đầu tư của từng dự án.
Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
- Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng
xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng hóa, hoặc
tiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội được ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúc
quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng có thể đưa
vào hoạt động được ngay.
- Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản
phẩm phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động để sản xuất sản phẩm hoặc
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh giữa mức tăng của giá trị sản
xuất với toàn bộ vốn đầu tư trong kỳ của ngành, địa phương, vùng và của toàn bộ
nền kinh tế. Công thức:
( )IV GO
V
GO
H
I
∆
=
Trong đó:
∆GO: Giá trị sản xuất tăng thêm trong kỳ nghiên cứu của ngành, địa
phương, vùng và của toàn bộ nền kinh tế.
I
v
: Vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu của ngành, địa phương, vùng và toàn bộ
nền kinh tế.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này được sử dụng để tính hiệu quả đầu tư ở các ngành, địa
phương, vùng và của toàn bộ nền kinh tế. Nó cho biết 1 đồng vốn đầu tư trong kỳ
nghiên cứu làm tăng bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu cho các
ngành, địa phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế.
14
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt vì nó chính là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế
tăng trưởng hay giá trị sản xuất tăng lên mà hoạt động đầu tư đóng góp lớn vào sự
tăng thêm đó.
Mức tăng thu ngân sách so với vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ
nghiên cứu
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh giữa mức tăng thu ngân sách
so với toàn bộ vốn đầu tư trong kỳ của ngành, địa phương, vùng và của toàn bộ nền
kinh tế.
kiện làm việc, cải thiện môi trường sinh thái, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và
sức khỏe…
1.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư XDCB bằng nguồn
vốn NSNN
1.6.1. Điều kiện tự nhiên
Hoạt động XDCB thường được tiến hành ở ngoài trời. Hơn nữa, đầu tư
XDCB thường có khối lượng vốn lớn nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư và
các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình thường phát huy tác dụng ở
ngay tại nơi nó được xây dựng, do đó, quá trình đầu tư cũng như thời kỳ vận hành
các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên. Các nhân tố tự
nhiên đó bao gồm: Điều kiện khí hậu, sông ngòi, đất đai, bão, lũ lụt, hạn hán Ở
mỗi vùng, mỗi lãnh thổ sẽ có điều kiện tự nhiên khác nhau, từ đó mà nó cho phép
khai thác xây dựng các công trình sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, vừa tận
dụng được lợi thế tự nhiên của vùng vừa tránh được những tác động xấu của thiên
tai.
1.6.2. Cơ chế phân bổ và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN
Chi đầu tư XDCB là khoản chi chủ yếu và lớn nhất trong chi đầu tư phát
triển của NSNN. Hằng năm, NSNN phải dành một khoản vốn lớn để thực hiện đầu
tư xây dựng những công trình, dự án theo kế hoạch đầu tư được duyệt của Nhà
nước. Sự vận động của vốn đầu tư XDCB chịu ảnh hưởng của đặc điểm XDCB và
công tác XDCB. Cụ thể:
- Sản phẩm của các công trình XDCB được tạo ra trong thời gian dài, giá trị
công trình lớn, người sử dụng không thể xây dựng được công trình một lúc mà phải
xây dựng từng phần (từng hạng mục hay bộ phận công trình hoàn thành có thể đưa
vào sử dụng). Vì vậy, việc cấp phát vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm
này để đảm bảo vốn được cấp phát đúng thời điểm, một cách liên tục và việc sử
dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả.
- Sản phẩm XDCB mang tính chất riêng lẻ, giá cả công trình XDCB không
thể xác định đơn giản mà phải xây dựng giá dự toán riêng cho từng công trình với
16
17
thực hiện chiến lược đó. Do vậy, nếu quy hoạch sai thì sẽ dẫn đến những sai lầm mà
đất nước phải gánh chịu, đặc biệt phải hạn chế tối đa những quy hoạch sai mà nhiều
năm không khắc phục được hoặc khắc phục được thì lại quá tốn kém. Nếu quy
hoạch tốt, thì sẽ bố trí hợp lý, bền vững về các công trình, hiệu quả phù hợp với
điều kiện của đất nước, địa phương và ngành. Ngược lại, nếu quy hoạch không tốt,
thiếu sự thực hiện đồng bộ giữa quy hoạch ngành, quy hoạch phát triển địa phương,
quy hoạch tổng thể cộng thêm sự phát triển cục bộ, thực hiện chồng chéo sẽ dẫn đến
sự lãng phí rất lớn, không đem lại được hiệu quả của VĐT.
Thực tế đầu tư XDCB trong những năm qua cho thấy, nếu quy hoạch yếu thì
tình trạng các công trình không đưa vào sử dụng được hoặc thua lỗ kéo dài phải phá
sản như nhà máy đường, cảng cá, chợ đầu mối…Quy hoạch dàn trải sẽ làm cho việc
đầu tư XDCB manh nhún không hiệu quả. Nhưng nếu không có quy hoạch thì hậu
quả lại càng nặng nề hơn. Vì vậy khi đã có quy hoạch cần phải công khai quy hoạch
để người dân có quyền được biết. Trên cơ sở quy hoạch, về đầu tư XDCB Nhà
nước, Nhà nước cần phải đưa vào đầu tư, khuyến khích các khu vực vốn khác tham
gia đầu tư để tránh tình trạng quy hoạch “treo”.
1.6.4. Chính sách bồi thường, đền bù, giải phóng mặt bằng khi quy
hoạch
Dự án đầu tư XDCB phải diễn ra ở một địa điểm nhất định với quy mô sử
dụng đất nhất định. Đối với những dự án đã có sẵn mặt bằng “sạch” thì không đặt ra
vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng, công cuộc đầu tư về cơ bản là thuận lợi,
không bị vướng mắc liên quan đến đất đai. Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các dự án
đầu tư nói chung và dự án đầu tư XDCB bằng NSNN nói riêng đều gặp vướng mắt
trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch để triển khai thực hiện dự
án và thường kéo dài trong nhiều năm.
Do chính sách bồi thường, đền bù, di dời chưa thực sự rõ ràng, không đảm
bảo được một cách hài hoà quyền lợi, lợi ích của các bên có liên quan dẫn đến kéo
dài thời gian, làm chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án gây thiệt hại lớn về tài sản
và tiền bạc cho nhà đầu tư do bị ứ đọng vốn đầu tư từ đó làm giảm hiệu quả đầu tư.
dung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phù hợp với chiến lược
19
phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ nhất định để chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng CNH – HĐH đất nước. Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn
VĐT do Nhà nước quản lý, chống thất thoát lãng phí, bảo đảm dự án được xây
dựng đúng quy hoạch, mỹ quan, bền vững, đảm bảo môi trường sinh thái, môi
trường cạnh tranh lành mạnh trong đầu tư XDCB, áp dụng công nghệ tiên tiến với
chi phí hợp lý, tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự XDCB đối với dự án
thuộc nguồn vốn NSNN. Chất lượng của công tác quản lý đầu tư sẽ tạo điều kiện
cho việc tiết kiệm và thất thoát, lãng phí VĐT, cũng như tạo điều kiện cho các kết
quả đầu tư mang lại nhiều hay ít các lợi ích kinh tế – xã hội khi khai thác sử dụng
có kết quả đầu tư.
1.6.6. Nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho công tác đầu tư XDCB
Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến công tác XDCB, hoạt động đầu tư rất
phức tạp và đa dạng, vừa liên quan đến nhiếu ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực. lại
vừa diễn ra trong thời gian dài, giá trị công trình lớn, người sử dụng không thể xây
dựng được công trình một lúc mà phải xây dựng từng phần (từng hạng mục hay bộ
phận công trình hoàn thành có thể đưa vào sử dụng). Vì vậy, đội ngũ cán bộ của các
nhà thầu, những người kỹ sư, giám sát công trình cũng như công nhân lao động…là
những người phục vụ, tác động trực tiếp trong XDCB cần phải có năng lực, được
đào tạo kỹ, làm việc đúng chuyên môn, bộ phận và có tinh thần trách nhiệm cao, có
lương tâm nghề nghiệp để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.
1.6.7. Cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý vốn đầu tư XDCB từ
nguồn vốn NSNN
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hoạt động đầu
tư. Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: Chính
sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu tư và các chính sách
làm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô và vi mô. Các chính sách kinh tế tác động đến
việc quản lý vốn đầu tư góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp
lý, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực,
để Hoà Vang khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho phát
triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn cũng như lâu dài.
Trong số 11 xã của huyện có 4 xã vùng núi (Hoà Bắc, Hoà Ninh, Hoà Phú và
Hoà Liên), 4 xã trung du (Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Sơn, Hoà Nhơn) và 3 xã
đồng bằng (Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước).
2.1.2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình, đất đai
Hoà Vang có 3 loại địa hình là miền núi, trung du và đồng bằng:
21
* Vùng đồi nú i : Phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha, bằng
79,84% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Bốn xã miền núi, bao gồm Hoà Bắc,
Hoà Ninh, Hoà Phú và Hoà Liên, có độ cao khoảng từ 400 – 500m, cao nhất là đỉnh
núi Bà Nà (1.487m), độ dốc lớn >40
0
, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn có ý
nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đà Nẵng. Đất đai có nguồn gốc
chủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng, phát triển trên các đá mẹ như mắc-ma, gra-phit…
Địa hình đất đai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nông
nghiệp và du lịch.
* Vùng trung du: Chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 50 đến 100
m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà
Sơn, Hoà Nhơn với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74 % diện tích toàn huyện; phần
lớn đất đai bị bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, chỉ có rất ít đất phù sa bồi tụ hàng năm
ven khe suối. Địa hình và đất đai ở vùng này phù hợp cho việc trồng các cây cạn, có
nhu cầu nước ít, chịu được hạn.
* Vùng đồng bằng : Bao gồm ba xã Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước vớí tổng
diện tích là 3.087 ha, chiếm 4,37% diện tích tự nhiên. Đây là vùng nằm ở độ cao
thấp 2-10 m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng. Đất phù sa ven sông và đất cát là hai
loại đất đặc trưng của vùng, thích hợp cho việc trồng rau, lúa màu. Tuy nhiên, có
yếu tố không thuận lợi là do địa hình thấp, khu vực này thường bị ngập lụt trong
Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6,
trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; lớn nhất là vào tháng 12 và tháng 1 trung bình
từ 58 đến 122 giờ/tháng.
Hệ thống sông ngòi của Hòa Vang bao gồm các sông chính là sông Cu Đê,
sông Yên, sông Túy Loan, sông Vĩnh Điện; một số sông nhỏ là sông Tây Tịnh, Quá
Giáng,…và hệ thống nhiều ao hồ tự nhiên. Nhìn chung, chất lượng nước các sông
đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương, trừ sông Cẩm Lệ và
sông Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô từ tháng 5 đến tháng 6.
Về nước ngầm: Theo đánh giá sơ bộ, Hoà Vang có trữ lượng nước ngầm lớn,
mực nước ngầm cao. Trong tương lai có thể sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ sản
xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Tại Phước Nhơn (xã Hoà Khương) có
nguồn nước khoáng nóng nhưng hiện tại chưa được khai thác với quy mô công
nghiệp.
23
Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hoà Vang có nhiều
thuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như hạn hán, lũ lụt gây ảnh hưởng không
nhỏ đối với sản xuất, đời sống của nhân dân; gây hư hại các công trình kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội.
Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê năm 2007, tổng diện tích đất huyện Hoà Vang là
73.691 ha. Hai nhóm đất có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp là
nhóm đất phù sa ở khu vực đồng bằng thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoa
quả và nhóm đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với cây công nghiệp dài ngày,
cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi đại gia súc. Trong đó, đất nông lâm nghiệp
61.923,8 ha, chiếm 84,0% diện tích tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 6.201,1 ha
chiếm 8,4% và đất chưa sử dụng 5.566,1 ha chiếm 7,6%. Diện tích đất đã được sử
dụng của huyện chiếm 93,3% cho các mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản và cho các mục đích phi nông nghiệp khác.
Tài nguyên rừng
Huyện Hòa Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một trong các
Hoà Phú với tổng công suất dự kiến 4.300 KW (tổng vốn đầu tư khoảng 67 tỷ đồng)
và cụm dự án thuỷ điện sông Nam - sông Bắc tại xã Hoà Bắc với tổng công suất dự
kiến 12 MW (tổng vốn đầu tư khoảng 877 tỷ đồng).
Tài nguyên du lịch
Huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch đa
dạng: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở khu vực Bà Nà - Núi Chúa, Đồng Nghệ,
Ngầm Đôi (Hoà Phú), du lịch trên sông (dọc sông Cu Đê), du lịch đồng quê, vườn
đồi (thuận lợi cho khách từ thành phố Đà Nẵng đi nghỉ cuối tuần). Nhiều hồ, đầm tự
nhiên như Bàu An Ngãi Tây ở Hòa sơn, Hồ Hóc Khế ở Hoà Phong có thể cải tạo
thành các công viên du lịch mặt nước. Nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khách sạn, nhà
hàng, điểm vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển được đầu tư xây dựng tốt sẽ
thu hút rất nhiều khách du lịch đến và sẽ tạo nên thu nhập rất lớn cho huyện và cả
thành phố Đà Nẵng. Việc huy động các nguồn vốn của các thành phần kinh tế cũng
như tìm các giải pháp tối ưu để khai thác các tiềm năng du lịch là một trong các
nhiệm vụ quan trọng của huyện trong thời gian tới.
25
2.1.3. Tình hình kinh tế - xã hội huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013
Trong những năm qua, việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng nông thôn mới đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn của
huyện. Với đường lối đúng đắn của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả của
thành phố, sự phối hợp của các Sở, Ban, Ngành, sự đồng thuận nhất trí cao trong
toàn thể nhân dân trên địa bàn huyện đã góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai xây
dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến cuối năm 2015, huyện Hòa Vang có 8 xã hoàn
thành 19 tiêu chí trong Chương trình nông thôn mới.
Nhìn chung, trong giai đoạn này kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch đúng theo hướng tăng dần tỷ trọng Công nghiệp – Xây dựng và
Dịch vụ, giảm tỷ trọng Nông nghiệp. Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng đồng bộ, bộ mặt nông thôn đổi thay đáng
kể, phát triển theo hướng CNH – HĐH. Ngành Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ
có tốc độ tăng trưởng ổn định, trong đó, ngành Công nghiệp – Xây dựng tăng mạnh,