HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU QUY TRÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC
THÚ Y TẠI TRANG TRẠI LỢN SIÊU NẠC CỦA ÔNG
ĐÀO VINH QUANG – THÔN DUYÊN TRANG
XÃ HỒNG THÁI – PHÚ XUYÊN – HÀ NỘI
Người thực hiện : THẠCH VĂN MẠNH
Lớp : TYD – K55
HÀ NỘI – 2014
2
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU QUY TRÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC
THÚ Y TẠI TRANG TRẠI LỢN SIÊU NẠC CỦA ÔNG
ĐÀO VINH QUANG – THÔN DUYÊN TRANG
XÃ HỒNG THÁI – PHÚ XUYÊN – HÀ NỘI
Người thực hiện : THẠCH VĂN MẠNH
Lớp : TYD – K55
Người hướng dẫn : TS. LÊ VĂN PHAN
Bộ môn : VI SINH VẬT – TRUYỀN NHIỄM
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập và rèn luyện tại Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam,
em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của các Thầy, Cô giáo, đặc biệt là các
Thầy, Cô giáo khoa Thú Y đã giúp đỡ em tích lũy được kiến thức cơ bản, kinh
Bảng 4.5. Tình hình bệnh trên đàn lợn nuôi từ năm 2011 đến năm 2013 Error:
Reference source not found
Bảng 4.6. Tình hình bệnh trên đàn lợn tại trại trong thời gian thực tập tháng
8,9,10 năm 2014 Error: Reference source not found
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn trong thời gian thực tập Error:
Reference source not found
ii
iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 4.1: Cơ cấu nhân sự trang trại chăn nuôi lợn của ông Đào Vinh Quang
Error: Reference source not found
Sơ đồ 4.2 : Tóm tắt hướng chăn nuôi lợn tại trại Error: Reference source not
found
Biểu đồ 4.1 Số lượng lợn nuôi từ tháng 9 năm 2011 - hết tháng 10 năm 2014
Error: Reference source not found
Biểu đồ 4.2. Tình hình bệnh trên đàn lợn nuôi từ năm 2011 đến năm 2013. Error:
Reference source not found
Biểu đồ 4.3. Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn qua các tháng 8,9,10 năm 2014 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 4.4. Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn trong thời gian thực tập Error:
Reference source not found
iv
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NXB : Nhà xuất bản
LMLM : Lở mồm long móng
PCV2 : Porcine Circovirus Diseases typ 2
PCR : Polymerase Chain Reaction – phản ứng chuỗi trùng hợp
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome – hội
chứng rối loạn sinh sản và hô hấp
nào, biện pháp phòng bệnh ra sao mới đẩy lùi được dịch bệnh? Đây là những
vấn đề vô cùng quan trọng được đặt ra cho những nhà khoa học cũng như các
1
cán bộ kỹ thuật và cả người sản xuất trực tiếp giúp ngành chăn nuôi lợn phát
triển bền vững.
Xuất phát từ những thực tiễn và tầm quan trọng đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu quy trình chăn nuôi và công tác thú y tại trang
trại lợn siêu nạc của ông Đào Vinh Quang – thôn Duyên Trang – xã Hồng
Thái – Phú Xuyên – Hà Nội”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Tìm hiểu được quy trình chăn nuôi của đàn lợn nuôi tại trại.
- Tìm hiểu công tác thú y tại trang trại.
- Tìm hiểu được tình hình dịch bệnh của đàn lợn nuôi tại trang trại từ đó
có các biện pháp phòng và điều trị bệnh hiệu quả.
2
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM THƯỜNG GẶP TRÊN LỢN
2.1.1. Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive
Respiratory Syndrome – PRRS)
Căn bệnh
Khi dịch bệnh PRRS xảy ra, lúc đầu người ta cho rằng một số virus như
Parvovirus, virus giả dại (Pseudorabies), virus cúm lợn (Porcine enterovirus),
đặc biệt virus gây viêm não – cơ tim (Encephalomyo carditis) gây nên. Tuy
nhiên, sự nhầm lẫn xung quanh vấn đề nguyên nhân bệnh học của PRRS đã
được giải quyết vào tháng 6 năm 1991, Wensvoort và các cộng sự của mình ở
Viện Thú Y Hà Lan đã phân lập được một loại virus trước đây chưa công nhận
từ những con lợn bị mắc bệnh PRRS. Họ đặt tên virus là “Lelystad”.
Năm 1992, Hội nghị Quốc tế về hội chứng này được tổ chức tại Minesota
(Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn
7/2007, dịch bệnh xảy ra ở trên 25/33 tỉnh với hơn 180.000 lợn mắc bệnh và
45.500 con chết. Trước diễn biến phức tạp của dịch PRRS, Bộ Nông Nghiệp
Trung Quốc đang thực hiện chương trình phòng chống bệnh rất quy mô, với
chương trình nghiên cứu, sản xuất vacxin đã cam kết chi khoảng 280 triệu Nhân
dân tệ tương đương với 36,5 triệu USD.
Ở Thái Lan đã có báo cáo dịch từ năm 2000 – 2003, các virus PRRS đã
phân lập từ nhiều địa phương thuộc nước này, bao gồm cả chủng Châu Âu và
Bắc Mỹ. Trong đó chủng virus thuộc dòng Châu Âu chiến 66,42%, còn các
chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ chiếm 33,58%.
4
Tình hình diễn biến dịch bệnh PRRS tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử vào năm 1997, PRRS được phát
hiện trong đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh Miền Nam. Kết quả cho thấy 10/51
lợn giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS. Toàn bộ số lợn này
đã được xử lý vào thời gian đó. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, các
nghiên cứu về PRRS ở những trại lợn giống tại các tỉnh phía Nam cho thấy tỷ lệ
lợn có huyết thanh dương tính với bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29%
(Báo cáo của Cục Thú y, 2008)
Tính từ đầu năm 2013 tới nay, tình hình bệnh diễn ra tương đối phức tạp,
bùng phát mạnh thành dịch ở 6 tỉnh thành: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Nam
Định, Bắc Ninh và Thái Bình. Cục Thú y cũng nhận định dịch tai xanh năm
2013 có diễn biến bất thường hơn so với năm 2012, tốc độ lây lanrất nhanh, số
lượng lợn mắc bệnh phải tiêu hủy cao, tỷ lệ lợn chết và lợn tiêu hủy đã lên đến
18.452 con. Ở nước ta, chủng virus tai xanh thuộc nhóm Bắc Mỹ (nhóm II) có
tên gọi là VR2332 xuất hiện từ năm 2007. Tới năm 2012, nước ta đã có mặt đầy
đủ cả 2 chủng virus PRRS, bao gồm cả nhóm Châu Âu (nhóm I) có tên gọi là
Lelystad. Đây là 1 loại virus dễ biến chủng. Năm 2013, từ các mầm bệnh thu
được tại các ổ dịch, qua xét nghiệm là virus PRRS nhóm II, có tính tương đồng
cao với các chủng gây bệnh tại Trung Quốc, là 1 chủng mới đột biến gần đây.
Sự xuất hiện của chủng virus PRRS mới làm cho virus có độc lực mạnh hơn
sinh. Ở một vài đàn, con số này có thể lên tới 30% tổng số lợn con sinh ra. Tỷ lệ
chết ở đàn con có thể lên tới 70% ở tuần thứ 3-4 sau khi xuất hiện triệu chứng.
Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng trước khi trở lại bình thường. Ảnh hưởng
dài lâu của PRRS tới sinh sản rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn có tình trạng
sức khỏe kém. Một vài đàn có biểu hiện tăng số lần phối giống lại, sảy thai.
Lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt, đờ đẫn hoặc hôn mê. Lợn giảm hưng phấn
hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh dịch kém (tinh trùng giảm
khả năng vận động và khiếm khuyết ở đầu thể đỉnh) và cho lợn con sinh ra nhỏ.
Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra và chết sau vài giờ. Sooso còn
sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh. Một số tiếp tục sống với thể
6
trạng gầy yếu, nhanh chóng rơi vào tình trạng giảm đường huyết do không bú
được. Mắt có dử màu nâu, trên da có những vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều.
Giảm số lợn con sống sót. Tăng nguy cơ mắc bệnh về hô hấp. Chân choãi ra, đi
run rẩy. Tỷ lệ chết có thể 12-15%.
Lợn con cai sữa và lợn choai (4-12 tuần tuổi) : Con vật chán ăn, ho nhẹ,
long xác xơ, ở một sô đàn có thể không có triệu chứng. Thể trạng gầy yếu, da xanh,
tiêu chảy, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh. Tỷ lệ chết có thể lên tới 15%.
Bệnh tích
Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám chắc, đặc trên
thùy phổi. Thùy phổi bị viêm có màu xám đỏ, có mủ và nhục hóa (đặc trưng).
Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô. Nhiều trường hợp viêm phế quản
phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh.
Về tổ chức phôi thai học: Trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực
bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân. Một bệnh tích
đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của phế nang loại II (pneumocyte) làm cho phế
nang nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào phân hủy trong phế nang.
Thận xuất hiện lấm tấm như đầu đinh ghim. Não xung huyết. Hạch hầu
họng, hạch amidan sưng, xung huyết. Gan sưng, tụ huyết. Lách sưng, nhồi
huyết. Hạch màng treo ruột xuất huyết. Loét niêm mạc van hồi manh tràng.
- Lợn nái không mang thai và nái hậu bị tiêm phòng trước khi cai sữa cho
lợn con hoặc trước lúc phối giống.
Vacxin phòng PRRS BSK – PS1000 là loại vacxin vô hoạt chứa chủng
virus PRRS dòng gây bệnh ở châu Âu, được dùng cho lợn con, nái hậu bị, nái
sinh sản và lợn đực giống. Tiêm bắp cổ với liều 2ml/con. Vacxin an toàn và gây
miễn dịch tốt.
- Lợn con: sử dụng lần đầu vào lúc 3-6 tuần tuổi.
- Lợn nái hậu bị: tiêm lúc 18 tuần tuổi, tiêm nhắc lại sau 3-4 tuần.
- Lợn nái sinh sản: tiêm 3-4 tuần trước khi phối giống.
- Lợn đực giống: tiêm lúc 18 tuần tuổi, sau 6 tháng lại tái chủng một lần.
Vacxin bảo quản ở 2-6
0
C.
8
2.1.2. Bệnh dịch tả lợn (Hog cholera suis, Swine Fever, Pestis suum)
Căn bệnh
Bệnh dịch tả lợn là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm của loài
lợn và gây chết nhiều lợn do virus thuộc họ Flavivirus, giống Pestisvirus gây
nên. Đây là một ARN virus, có vỏ bọc. Dưới kính hiển vi điện tử, virus dịch ả
lợn có đường kính khoảng 40-50 nm.
Nếu đem virus cường độc dịch tả lợn tiêm truyền nhiều đời qua thỏ (trên
150 đời) thì độc lực của virus giảm đi, không còn khả năng gây bệnh cho lợn
nhưng vẫn còn giữ được đặc tính kháng nguyên. Dựa vào đặc tính này chúng ta
sử dụng làm giống virus vacxin nhược độc dịch tả lợn qua thỏ.
Virus nhược độc dịch tả lợn không có khả năng gây bệnh cho lợn những
có khả năng gây bệnh cho thỏ, làm cho thỏ sốt và có thể chết (Nguyễn Bá Hiên
và cộng sự, 2009).
Nhờ áp dụng kĩ thuật kháng thể đơn dòng (MABs) có thể phân loại các
chủng đa dạng của virus dịch tả lợn thành hai nhóm (Van Oirrschot, 1992):
- Nhóm I: gồm các chủng cường độc Alfort, chủng C, chủng Thiverval.
C
và kéo dài từ 3-5 ngày.
Do virus tác động đến bộ máy tiêu hóa nên con vật có biểu hiện nôn mửa.
Trong thời gian sốt con vật đi táo, khi thân nhiệt hạ con vật ỉa chảy nặng: phân
loãng, nhiều nước, thối khắm, có khi có cục máu và các mảng tế bào thượng bì
niêm mạc ruột bong ra.
Do virus tác động đến bộ máy hô hấp nên con vật có biểu hiện: Viêm
niêm mạc mũi, chảy nước mũi, nước mũi lúc đầu trong, loãng; về sau đục đặc
dần, có khi đóng lại ở khóe mũi làm cho vành mũi nứt nẻ. Con vật ho, lúc đầu
ho ít, ho khan; về sau ho nhiều, ho ướt.
Virus tác động đến hệ thần kinh, đặc biệt là não nên con vật có triệu
chứng thần kinh: đi đứng siêu vẹo, loạng choạng, liệt 2 chân sau hoặc liệt nửa
thân sau. Viêm kết mạc và giác mạc mắt, chảy nước mắt (lúc đầu trong, loãng;
10
về sau đục và đặc dần). Virus tác động phá hủy thành mạch nên quan sát trên da
có các điểm xuất huyết to nhỏ không đều bằng đầu mũi kim, đầu đinh ghim. Có
trường hợp điểm xuất huyết nhỏ li ti, tập trung lại thành từng mảng, từng đám
giống như vừng cháy. Có trường hợp nốt xuất huyết to bằng hạt ngô, tím bầm,
nằm lặn sâu ở tổ chức liên kết dưới da.
Lợn chết trong vòng 1 tuần sau khi biểu hiện triệu chứng bệnh, tỷ lệ chết
có thể 100%.
Thể mạn tính
Kéo dài khoảng vài tuần hoặc vài tháng. Do các chủng có độc lực thấp
hoặc do thể cấp tính chuyển sang. Con vật gầy mòn dần, ỉa chảy liên mien kết
hợp với viêm phổi, sau đó tử vong trong vòng 1-3 tháng.
Bệnh tích
Biểu hiện bên ngoài
Xác chết gầy, phân bết xung quanh hậu môn. Trên da con vật có nhiều
điểm, nốt xuất huyết hoặc ở những vùng da mỏng. Niêm mạc miệng, lợi viêm
xuất huyết, có khi có mụn loét nông hay sâu, phủ bựa màu trắng xám hoặc màu
nhằm nhanh chóng dập tắt ổ dịch.
Phòng bệnh
Vệ sinh phòng bệnh:
Khi chưa có dịch
Tiêm phòng triệt để bằng vacxin nhược độc dịch tả lợn cho những con lợn
thuộc diện tiêm phòng, tổ chức tiêm phòng bổ sung cho những lợn chưa được
tiêm trong đợt đại trà. Cho lợn ăn uống tốt, đầy đủ dinh dưỡng. Chuồng nuôi
hợp vệ sinh, định kì tẩy uế, tiêu độc. Tăng cường kiểm dịch động vật ở chợ, lò
mổ và các đường vận chuyển mua bán. Lợn mới mua về phải cách ly theo dõi 15
ngày nếu khỏe mạnh mới cho nhập đàn.
12
Khi có dịch xảy ra
Chẩn đoán chính xác, công bố dịch. Cách ly lợn ốm hoặc nghi lây lan
bệnh, tốt nhất là giết mổ, luộc chín, rán mỡ. Cấm vận chuyển lợn ra vào ổ dịch.
Cấm bán chạy lợn ốm hoặc mổ thịt bừa bãi. Xác lợn chết phải trôn sâu giữa 2
lớp vôi. Tiêu độc kỹ vàng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng nước vôi 10%
hoặc xút… Xử lý triệu để thức ăn thừa, phân rác, chất bài xuất của lợn ốm và
lợn chết. Tiêm thẳng vacxin vào ổ dịch.
Công bố hết dịch 15 ngày sau khi con ốm cuối cùng chết hoặc khỏi bệnh
và sau khi đã thực hiện đầy đủ các biện pháp vệ sinh tiêu độc.
Vacxin phòng bệnh: Vacxin nhược độc dịch tả lợn qua thỏ tiêm dưới da
liều 1ml/con, miễn dịch 1 năm.
Vacxin Pestiffa
2.1.3. Bệnh suyễn lợn (Swine Enzootic Pneumoniae – SEP)
Căn bệnh
Bệnh suyễn lợn hay còn gọi là dịch viêm phổi địa phương của lợn là một
bệnh truyền nhiễm thường ở thể mạn tính và lưu hành ở một địa phương.
Nguyên nhân chính là do Mycoplasma hyopneumonia gây ra với triệu chứng,
bệnh tích đặc trưng tập trung ở bộ máy hô hấp bao gồm ho, khó thở, tần số hô
hấp tăng cao, viêm hạch lympho phổi, viêm có tính chất đối xứng.
C. Con vật chỉ sốt khi có các vi khuẩn kế phát
xâm nhập gây viêm nhiễm. Lợn thường chết nhiều ở đàn lợn mới mắc bệnh lần
đầu, qua được giai đoạn này, bệnh chuyển sang thể mạn tính.
Ở thể mạn tính, con vật ho kéo dài vài tuần hoặc vài tháng, ho khan có khi
co giật từng cơn rồi nôn mửa, khi ho, lợn đứng một chỗ, lưng cong lên, cổ vươn
dài ra, cúi mõm xuống để ho cho đến khi long đờm ra thì cơn ho mới dừng. Lợn
khó thở nặng. Lợn con mắc bệnh ở thể mạn tính thường kém ăn hoặc bỏ ăn, gầy
yếu, đi lại chậm chạp, siêu vẹo, da khô, lông xù, niêm mạc tái nhợt (Nguyễn Bá
Hiên và cs, 2009)
14
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, lợn mắc bệnh ở thể cấp tính có tỷ lệ chết
không quá 5 – 10%, tỷ lệ này tăng lên nếu thời tiết lạnh, ẩm ướt điều kiện vệ
sinh kém và chăm sóc nuôi dưỡng không tốt. Ở thể mạn tính tỷ lệ chết cao hơn
và rõ rệt hơn từ 20 – 80%.
Bệnh tiến triển vài tháng, có khi nửa năm. Nếu điều kiện chăn nuôi không
thuận lợi, lợn thường không khỏi mà chuyển sang thể ẩn tính. Thể này thường
thấy ở lợn đực và lợn trưởng thành các triệu chứng không thể hiện rõ, chỉ thỉnh
thoảng có ho nhẹ.
Bệnh tích
Lợn mổ khám cho thấy xác gầy, mỡ mỏng, thịt nhão có màu hồng nhạt,
xoang ngực và xoang bụng tích nước ngoại xuất.
Bệnh tích chủ yếu tập trung ở bộ máy hô hấp, viêm phổi đặc trưng có tính
chất đối xứng, nhìn trên phổi thấy cả 2 thùy và 2 bên lá phổi bệnh tích đặc trưng:
gan hóa, tụy tạng hóa, nhục hóa. Hạch phổi, kể cả hạch khí, phế quản và rốn
phổi thường sưng to hơn bình thường, Tích nhiều nước trong xoang ngực. Nếu
có vi khuẩn kế phát có thể quan sát thấy hiện tượng viêm dính giữa màng phổi
với thành lồng ngực hoặc giữa thành phổi và màng bao tim.
Biện pháp phòng trị
Điều trị
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, khô ráo; dùng thuốc trợ sức, trợ lực; dùng
Nguyên nhân
Có 3 nhóm nguyên nhân gây ra bệnh phân trắng lợn con là: bản thân gia
súc non, gia súc mẹ và ngoại cảnh.
Bản thân gia súc non
Do sự phát dục của bào thai kém.
Do những đặc điểm sinh lý bộ máy tiêu hóa của gia súc non như dạ dày và
ruột của gia súc non trong 3 tuần đầu chưa có khả năng tiết dịch vị, thức ăn kích
16