Trang 1
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ DANH
MỤC ĐẦU TƯ
1.1 Chứng khoán và rủi ro chứng khoán.
1.1.1 Cổ phiếu
Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối
với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu trở thành cổ đông. Cổ đông nắm giữ cổ
phiếu là một trong những người chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết
quả sản xuất kinh doanh cũng như lãnh chịu mọi rủi ro trong kinh doanh và do đó cổ
phiếu có những đặc điểm sau:
- Không có kỳ hạn và không hoàn vốn
- Cổ tức của cổ phiếu thường tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh nên
không cố định
- Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị
còn lại của tài sản thanh lý.
- Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy đặc biệt là trên thị trường thứ cấp.
1.1.2 Trái phiếu
Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành ( Chính
phủ hoặc doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả cổ tức định kỳ và
hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn. Trái phiếu có các đặc
điểm sau:
- Do chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài hạn, có kỳ hạn
nhất định, cuối kỳ phải trả lại vốn gốc cho trái chủ.
- Tỷ suất lãi trái phiếu được xác định trước và tính lãi trên mệnh giá.
- Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ
trước cổ đông nên mức độ rủi ro thấp hơn cổ phiếu.
1.1.3 Chứng chỉ quỹ
Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán là một loại chứng khoán dưới hình thức chứng
chỉ hoặc bút toán ghi sổ do công ty quản lý quỹ thay mặt Quỹ công chúng phát hành,
Trang 2
xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người đầu tư đối với một hoặc một số đơn vị quỹ
ứng được nhu cầu riêng của mỗi người là rất khó khăn, vì vậy sự ra đời của danh mục
đầu tư sẽ giải quyết vấn đề một cách dễ dàng hơn, đáp ứng được nhu cầu thị trường, và
làm thị trường chứng khoán phát triển một cách sôi động hơn..
1.2.3 Nguyên lý đa dạng hoá
Trong một danh mục đầu tư, mỗi loại chứng khoán có một mức độ rủi ro khác
nhau. Vì thế đa dạng hoá đầu tư là một nguyên tắc trong đầu tư chứng khoán và là giải
pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro cho toàn danh mục. Trong thực tế đã xảy ra rất
nhiều trường hợp khi thêm một tài sản có tính rủi ro vào danh mục đầu tư sẽ làm giảm
được rủi ro của toàn danh mục đầu tư.
Khi hai hay nhiều chứng khoán tham gia cấu thành một danh mục thì mỗi cặp hai
chứng khoán sẽ có những tương tác với nhau tạo ra một kết quả chung cho cả danh
muc. Và đây là cơ sở của nguyên lý đa dạng hoá danh mục đầu tư.
Rủi ro của những chứng khoán riêng lẻ trong danh mục đầu tư cần phải được đo
luờng trong hiệu quả tác động của chúng đối với danh mục đầu tư tổng thể.
Các chứng khoán có xu hướng rủi ro trái ngược với rủi ro ban đầu là những yếu tố
làm giảm thiểu rủi ro có hiệu quả. Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định thước đo
rủi ro của từng chứng khoán khi đưa chúng vào danh mục đầu tư và là mấu chốt để
xây dựng lý thuyết mô hình CAPM mà chúng ta đã biết.
Mỗi chứng khoán luôn tiềm ẩn hai loại rủi ro: rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ
thống, và cũng chính hai loại rủi ro này được dùng để đo lường rủi ro tổng thể của
danh mục. Trong đó, rủi ro hệ thống là rủi ro khó có thể tránh được khi nó đã xảy ra,
rủi ro không hệ thống là rủi ro có nguyên nhân từ đơn vị phát hành chứng khoán, do
vậy có thể hạn chế được bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư. Khi một chứng
khoán đưa vào danh mục đầu tư thì rủi ro của nó sẽ tương tác với các chứng khoán
khác trong danh mục để tạo nên rủi ro của cả danh mục. Mức độ rủi ro của toàn danh
mục cao hay thấp tuỳ thuộc vào sự tương tác này. Nếu trong danh mục càng có nhiều
Trang 4
chứng khoán thì sự tương tác bù trừ càng lớn và càng có nhiều khả năng giảm thiểu rủi
ro.
Rủi ro hệ thống là rủi ro bên ngoài thị trường, mang tính khách quan, nó luôn tồn
Trong thực tế có rất nhiều dạng khác nhau có liên quan đến các giả thiết của thị
trường vốn hiệu quả hay nói khác đi, có nhiều mức độ hiệu quả khác nhau của thị
trường vốn. Tùy vào luồng thông tin có liên quan, nhà kinh tế học E.Fama đã phân
chia giả định thị trường hiệu quả thành ba dạng sau:
Giả định thị trường hiệu quả dạng yếu : giả định rằng giá chứng khoán hiện tại
phản ánh đầy đủ các thông tin thị trường chứng khoán bao gồm các mức giá, tỷ suất
sinh lợi và khối lượng giao dịch lịch sử, và các thông tin khác đã được tạo ra từ thị
trường như những giao dịch lô lẻ, giao dịch nguyên lô, và các giao dịch được thực hiện
bởi các chuyên gia sàn giao dịch.
Giả định thị trường hiệu quả dạng vừa phải : giả định thị trường hiệu quả dạng
vừa vuợt qua giả định dạng yếu, giả định rằng giá chứng khoán điều chỉnh nhanh
chóng để giải phóng tất cả các thông tin công khai, có nghĩa rằng giá chứng khoán
hiện tại phản ánh tất cả các thông tin công cộng. Thông tin công cộng cũng bao gồm
các thông tin phi thị trường như thu nhập, cổ tức, P/E, tỷ suất cổ tức D/P, tỷ số P/B,
chia tách cổ phần, các thông tin về nền kinh tế, và các thông tin có tính chất chính trị
khác.
Giả định thị trường hiệu quả dạng mạnh : giả định rằng giá chứng khoán phản
ánh đầy đủ các thông tin từ nguồn thông tin công cộng cho đến nguồn thông tin riêng.
Trang 6
Điều này có nghĩa rằng không có nhóm nhà đầu tư nào có thể độc quyền tiếp cận các
thông tin liên quan tới việc hình thành nên giá chứng khoán. Giả định thị trường hiệu
quả dạng mạnh vượt qua dạng yếu và dạng vừa phải hơn nữa nó còn mở rộng giả định
thị trường hiệu quả mà trong đó giá chứng khoán điều chỉnh nhanh chóng với sự giải
phóng các thông tin mới, với giả định thị trường hoàn hảo, tất cả các thông tin đều
không có chi phí và sẵn có cho tất cả mọi người là như nhau ở cùng thời gian.
Lý thuyết thị trường vốn hiệu quả đưa ra những hàm ý quan trọng về hoạt động đầu
tư trên thị trường chứng khoán như sau:
+ Do giá cả chứng khoán được điều chỉnh theo các thông tin mới một cách nhanh
chóng dù không hoàn hảo nhưng cũng không bị thiên lệch, nên thỉnh thoảng thị trường
sẽ điều chỉnh quá mức hay điều chỉnh yếu hơn thì chúng ta cũng chẳng thể nào đoán
trường, cả mức độ rủi ro và lợi nhuận mong đợi.
- Thứ tư, điều chỉnh danh mục đầu tư phù hợp với diễn biến của thị trường và mục tiêu
của người đầu tư.
1.3.2 Các chiến lược quản lý danh mục đầu tư
1.3.2.1 Quản trị danh mục đầu tư thụ động
Chiến lược quản trị danh mục đầu tư thụ động gắn chặt với quan điểm đầu tư theo
mô hình định giá tài sản vốn CAPM, và lý thuyết thị trường vốn hiệu quả. Nhà đầu tư
theo chiến lược thụ động cho rằng thị trường chứng khoán là hiệu quả tuy không hoàn
hảo nhưng các chứng khoán sẽ luôn được định giá một cách hợp lý. Mặt khác, họ cho
rằng mô hình CAPM phát huy tác dụng khi mà các nhà đầu tư đều có kỳ vọng thuần
nhất về các ước lượng của tỷ suất sinh lợi và rủi ro của các chứng khoán dẫn đến quan
điểm thống nhất về danh mục vốn đầu tư thị trường, về đường thị trường vốn, đường
thị trường chứng khoán. Do vậy sẽ không có nhà đầu tư nào đạt được mức tỷ suất sinh
lợi vượt trội hơn so với thị trường sau khi đã điều chỉnh rủi ro.
Vì vậy, nhà đầu tư thụ động chỉ cần đa dạng hóa danh mục đầu tư mà không cần
phân tích chứng khoán để gia tăng hiệu quả đầu tư so với mức trung bình của toàn thị
Trang 8
trường. Có hai phương pháp đầu tư thụ động chủ yếu đó là phương pháp mua và giữ
chứng khoán, và phương pháp đầu tư theo chỉ số chứng khoán.
Phương pháp mua và giữ: Nhà đầu tư sẽ mua và giữ các chứng khoán trong một
thời gian dài, chỉ điều chỉnh chút ít và hạn hữu trong suốt thời gian nắm giữ chứng
khoán với mục tiêu về tỷ suất sinh lợi và rủi ro phù hợp với mức bình quân của thị
trường trong dài hạn và do đó các biến động về rủi ro và tỷ suất sinh lợi trong ngắn
hạn sẽ không được xét đến.
Phương pháp đầu tư theo chỉ số chứng khoán: Trong phương pháp mua và giữ
chứng khoán, nhà đầu tư sẽ gặp phải hạn chế là nếu số lượng chứng khoán quá ít có
thể gây ra một lượng đáng kể rủi ro không hệ thống (có thể đa dạng hóa) trong khi nếu
gia tăng quá lớn số lượng chứng khoán trong danh mục sẽ gặp phải vấn đề giới hạn về
vốn đầu tư, về khả năng và thời gian dành cho việc quản lý cũng như chi phí quản lý
danh mục. Một phương pháp đầu tư thụ động khác là đầu tư theo chỉ số chứng khoán.
và các chứng khoán trên thị trường tiền tệ. Quyết định phân bổ vốn đầu tư tối ưu sẽ
phụ thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư và vào các ước lượng về rủi ro
và tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán. Với mục tiêu đạt được danh mục đầu tư hiệu
quả phù hợp với khẩu vị rủi ro của mình nhà đầu tư sẽ lựa chọn và phân bổ vốn đầu tư
vào các ngành kinh tế khác nhau mà mình am hiểu, có kinh nghiệm hoạt động hay chỉ
đơn thuần là theo sở thích cá nhân rồi sau đó mới lựa chọn các chứng khoán cụ thể để
đưa vào danh mục.
Định thời gian chuẩn : Nhà đầu tư năng động xác định thời gian chuẩn cho danh
mục vốn đầu tư năng động khi anh ta tin rằng giá cả hiện tại chưa phản ánh đầy đủ
thông tin, điều này có nghĩa là nhà đầu tư năng động không đồng nhất quan điểm của
mình với thị trường về danh mục vốn đầu tư thị trường. Nói cách khác, nhà đầu tư
năng động tin rằng giá chứng khoán sẽ lên cao hoặc xuống thấp hơn so với quan điểm
của thị trường.
Trang 10
Hình 2: Định thời gian chuẩn cho danh mục
Nhà đầu tư năng động tin rằng danh mục thị trường là A chứ không phải M như
đánh giá của thị trường, vì vậy đường thị trường vốn đối với nhà đầu tư năng động bây
giờ là CAN chứ không phải là CML. Nhà đầu tư năng động sẽ lựa chọn danh mục p
3
thay vì p
2
. Nếu dự đoán đúng thì rõ ràng nhà đầu tư sẽ đạt được lợi ích cao hơn (đường
cong hữu dụng Ū
3
cao hơn đường Ū
2
). Nhưng nếu dự đoán sai thì lợi ích của nhà đầu
tư sẽ bị giảm đi, danh mục tương đương với danh mục p
3
trên đường CML là danh
của
danh mục:
=
Trong đó : W
i
là tỷ trọng của chứng khoán i trong danh mục P
α
i
là α của chứng khoán i trong danh mục P.
1.3.2.3 Sự khác biệt giữa hai chiến lược đầu tư thụ động và năng
động
Chiến lược đầu tư thụ động sử dụng đường thị trường vốn CML như là một
đường phân bổ vốn CAL tối ưu. Qui mô danh mục thị trường là kết quả các lệnh
“mua” và “bán” có mục đích lợi nhuận và các lệnh này sẽ dừng khi không mang lại lợi
nhuận nữa. Và trong thế giới đơn giản của mô hình CAPM tất cả các nhà đầu tư đều sử
dụng nguồn thông tin như nhau trong phân tích chứng khoán sẽ đưa đến cùng kết luận
về một danh mục thị trường hiệu quả và do thị trường là hiệu quả nên giá cả chứng
khoán đã phản ánh đầy đủ các thông tin trên thị trường cho nên việc phân tích để phát
hiện các chứng khoán bị định giá sai là việc không cần thiết và tốn kém. Do vậy nhà
đầu tư thụ động chỉ cần đầu tư vào danh mục thị trường mà không cần chú ý phân tích
chứng khoán để gia tăng hiệu quả đầu tư.
Trang 12
Trong đó:
R
i
: tỷ suất sinh lợi của danh mục i trong khoản thời gian xem xét
R
f
: tỷ suất sinh lợi tài sản phi rủi ro
Trang 13
β
i
: hệ số rủi ro thị trường của danh mục i
Như vậy đối với một nhà đầu tư bất kỳ nào với bất kể mức ngại rủi ro như thế
nào thì T càng lớn càng tốt. Tử số của công thức trên chính là mức đền bù rủi ro và
mẫu số là mức độ rủi ro, do đó toàn bộ công thức trên diễn tả mức lợi nhuận bù đắp rủi
ro trên một đơn vị rủi ro của một danh mục, và tất cả những nhà đầu tư ngại rủi ro đều
muốn tối đa hoá giá trị này.
Tuy nhiên khi đánh giá kết quả hoạt động của danh mục cần có một hệ số chuẩn
để so sánh. Treynor đã chọn hệ số Tm của danh mục thị trường làm chuẩn. Nếu hệ số
T của danh mục đầu tư đang được đánh giá lớn hơn Tm thì danh mục đó đạt hiệu quả
cao hơn mức bình quân của thị trường và ngược lại. Hệ số Tm được tính như sau:
=
−
σ
i
: độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi danh mục trong cùng một khoản thời gian.
Phương pháp đánh giá hiệu quả danh mục này tương đối giống phương pháp
Treynor. Tuy nhiên, có một sự khác biệt là nó sử dụng mức rủi ro tổng thể của danh
mục thông qua độ lệch chuẩn σ
i
thay vì chỉ sử dụng rủi ro hệ thống β
i
.
Phần tử số của công thức Sharpe cũng là mức đền bù rủi ro của danh mục, cách
thức định lượng này có ý nghĩa là đo lường mức đền bù rủi ro đạt được trên một đơn vị
rủi ro tổng thể của một danh mục. Do vậy, nếu S càng lớn thì danh mục càng hiệu quả.
Vì thước đo rủi ro ở đây là độ lệch chuẩn nên phương pháp này đánh giá kết quả quản
lý danh mục trên cơ sở tỷ suất sinh lợi đầu tư lẫn mức độ đa dạng hoá.
1.3.3.3 Phương pháp Jensen
Phương pháp đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư của Jensen cũng được triển
khai căn cứ trên mô hình định giá tài sản vốn – CAPM. Công thức:
(
)
=
+
[
(
Nếu: R
j
= R
f
+ β
j
(R
M
– R
f
)
Khi đó nhà quản lý danh mục I phải đạt được kết quả trung bình, xếp hạng
ngang với danh mục thị trường. Tuy nhiên, ở đây có vấn đề cần lưu ý là khi nói danh
mục i có kết quả xếp hạng ngang với danh mục thị trường không có nghĩa tỷ suất sinh
lợi của hai danh mục này là bằng nhau mà chỉ có nghĩa hai danh mục được đánh giá
Trang 15
ngang nhau. Rõ ràng, nếu danh mục i có độ rủi ro lớn hơn danh mục thị trường thì yêu
cầu tỷ suất sinh lợi đạt được cũng lớn hơn tỷ suất sinh lợi thị trường theo một tỷ lệ
tương ứng thoả mãn phương trình cơ bản của mô hình CAPM và ngược lại.
Trong trường hợp 2 danh mục có thứ tự xếp hạng khác nhau, ta có các tình
huống cụ thể sau:
Nếu R
j
> R
f
+ β
j
(R
M
– R
−
)
Hệ số Alpha càng lớn thì hiệu quả của danh mục đạt được càng cao.
1.4 Lý thuyết lựa chọn danh mục tối ưu
1.4.1 Lý thuyết Markowitz
Vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, các nhà đầu tư đã bàn về rủi ro. Họ
muốn xây dựng một mô hình danh mục đầu tư nhưng trước hết phải xác định được
lượng rủi ro có thể có. Markowitz đã phát hiện ra phương sai của tỷ suất sinh lợi là
một ước lượng có ý nghĩa của rủi ro danh mục, với một tập hợp những giả định, Ông
đã tìm ra công thức để tính toán phương sai của danh mục, qua đó chỉ ra sự quan trọng
của việc đa dạng hóa đầu tư để giảm thiểu rủi ro tổng thể và cách thức để đa dạng hoá
đầu tư hiệu quả.
Các giả định của lý thuyết Markowitz :
v Các nhà đầu tư xem mỗi khoản đầu tư khác nhau được đại diện cho một
phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi mong đợi lên một vài thời kỳ nắm giữ.
v Các nhà đầu tư luôn tối đa hoá lợi ích mong đợi trong một thời kỳ nhất
định.
Trang 16
v Các nhà đầu tư đánh giá rủi ro của danh mục đầu tư trên cơ sở phương
sai của tỷ suất sinh lợi mong đợi.
v Các nhà đầu tư căn cứ trên những quyết định độc lập của tỷ suất sinh lợi
và rủi ro mong đợi, vì vậy đường cong hữu dụng của họ là một phương trình của tỷ
suất sinh lợi mong đợi và phương sai của tỷ suất sinh lợi.
v Các nhà đầu tư ưa thích một tỷ suất sinh lợi cao hơn với một mức độ rủi
ro cho trước, tương tự với một mức độ tỷ suất sinh lợi mong đợi cho trước các nhà đầu
tư thích rủi ro ít hơn.
đo lường rủi ro thông qua phương sai hay độ lệch chuẩn. Phương sai hay độ lệch
chuẩn của tỷ suất sinh lợi đối với một khoản đầu tư cụ thể :
ươ
(
)
=[
−
(
)
]
.
Độ ệ ẩ
(
)
=
[
−
(
]
ü Rủi ro của một danh mục tài sản :
Hiệp phương sai của những tỷ suất sinh lợi là một ước lượng để hai mức độ
khác nhau tiến lại gần nhau nhằm tạo thành một giá trị có ý nghĩa.
Hiệp phương sai thực nghiệm tỷ suất sinh lợi của hai tài sản A,B được tính như
sau:
=
[
−
(
)]
.[
−
(
=
,
w
i
: tỷ trọng của chứng khoán i
w
j
: tỷ trọng của chứng khoán j
σ
i
: Độ lệch chuẩn của chứng khoán i
σ
j
: Độ lệch chuẩn của chứng khoán j
Trang 18
ρ
ij
: Hệ số tương quan của những tỷ suất sinh lợi i,j
Đường biên hiệu quả : Là tập hợp những danh mục đầu tư có tỷ suất sinh lợi
lớn nhất cho mỗi mức độ rủi ro, hoặc rủi ro thấp nhất cho mỗi mức tỷ suất sinh lợi.
động của một nhân tố (F). Nhân tố này thường được xem là nhân tố thị trường và nhà
đầu tư không thể đa dạng hoá, với β
i
là mức độ nhạy cảm của chứng khoán i đối với
nhân tố F. Như vậy mô hình một nhân tố được biểu diễn dưới dạng:
r
i
= α
i
+ β
i
F + ε
i
Trong đó:
α
i
là tỷ suất sinh lợi mong đợi của chứng khoán i (tỷ suất sinh lợi phi rủi ro r
f
)
Trang 20
ε
i
là nhân tố đặc trưng riêng có của chứng khoán i và có thể đa dạng hoá được.
F: nhân tố có tác động nhiều nhất đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán i
β
i
: độ nhạy cảm của nhân tố F đối với chứng khoán i
Ta có thể biểu diễn mô hình một nhân tố qua đồ thị sau:
Hình 5: Đồ thị mô hình một nhân tố
Khi chúng ta quyết định đầu tư vào một ngành cụ thể thì việc lựa chọn các nhân
i2
F
2
+ β
i3
F
3
+ … + β
ik
F
k
+ ε
i
Với:
α
i
là tỷ suất sinh lợi mong đợi của chứng khoán i (tỷ suất sinh lợi phi rủi ro r
f
)
ε
i
là nhân tố đặc trưng riêng có của chứng khoán i và có thể đa dạng hoá được.
F
1
, F
2
,…, F
k
: các nhân tố có tác động đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i.
β
Tương tự như trường hợp tổng quát thì F
1
, F
2
là 2 nhân tố có tác động mạnh
nhất đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i.
Nếu như ở mô hình một nhân tố, thì một điểm trên đồ thị thể hiện mối quan hệ
giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán i với nhân tố F và nó được tập hợp thành một đường
thẳng thể hiện mối quan hệ này, thì ở mô hình 2 nhân tố một điểm trên đồ thị sẽ thể
hiện mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán với 2 nhân tố F
1
, F
2
. Đồ thị của
Trang 22
những điểm này sẽ được điều chỉnh trên một mặt phẳng bởi việc sử dụng những kỹ
thuật thống kê và phân tích hồi quy đa biến
Hình 6: Đồ thị mô hình 2 nhân tố
Bốn tham số cần đuợc ước tính cho mỗi chứng khoán trong mô hình 2 nhân tố
là: α
i
, β
i1
, β
i2
, và độ lệch chuẩn của sai số ngẫu nhiên
εi
. Ứng với mỗi nhân tố, 2 tham
số cần được ước tính là giá trị mong đợi của mỗi nhân tố (F
i2
Phương sai của chứng khoán i:
=
+
+ 2
COV(F
1
, F
2
) +
1
, F
2
)
1.4.4 Cách thức xây dựng danh mục tối ưu trong phạm vi ngành dựa vào
các mô hình nhân tố kết hợp với phương pháp Markowitz.
Để xây dựng một danh mục tối ưu cho ngành cụ thể bằng các mô hình nhân tố,
ta thực hiện các bước sau:
ü Lựa chọn phương pháp ước lượng các nhân tố.
Trong thực tế có ba phương pháp chủ yếu để ước lượng các nhân tố phổ biến
trong mô hình nhân tố:
- Bằng cách sử dụng các phương pháp thống kê - như phân tích nhân tố - để xác
định danh mục nhân tố, là những danh mục các chứng khoán sao cho có thể mô phỏng
lại các nhân tố
- Sử dụng các biến vĩ mô như là những chỉ báo cho các nhân tố.
- Sử dụng những đặc thù riêng của công ty có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi cao
hơn hoặc thấp hơn để tạo ra các danh mục như là các chỉ báo cho các nhân tố.
Trong bài nghiên cứu này, chúng ta chỉ chú ý tập trung vào cách ước lượng thứ 2
là sử dụng các biến kinh tế vĩ mô có khả năng giải thích tốt nhất mẫu hình đã được
quan sát. Hầu hết tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán trong từng ngành đều chịu ảnh
hưởng rất nhiều của các nhân tố vĩ mô, đồng thời việc sử dụng cách ước lượng còn lại
là tương đối phức tạp và có nhiều hạn chế khi thực hiện.
ü Tìm kiếm và sử lý các chuỗi số liệu
Trong bước này trước tiên ta phải chọn lọc một số chứng khoán trong từng
ngành mà chúng ta muốn đầu tư để thiết lập nên một danh mục, sau đó ta sẽ tìm số liệu
tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán trong từng ngành riêng biệt và một số nhân tố vĩ
mô theo thời gian tương ứng. Sau đó ứng dụng kinh tế lượng để xem xét sự phụ thuộc
các nhân tố đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán để có thể tìm ra được 1 hoặc 2 nhân tố thể
hiện sự phụ thuộc nhiều nhất đến các chứng khoán trong ngành.
Trang 24
Để xây dựng đường cong Markowitz ta cần nắm một số định đề sau:
Một vài khái niệm
Giả sử ta có N chứng khoán có rủi ro, mỗi một chứng khoán có tỷ suất sinh lợi
mong đợi là E(r
i
). Ma trận cột R là ma trận hướng của các giá trị tỷ suất sinh lợi của
các chứng khoán này:
R =
(
)
(
)
…
(
)
Và S là ma trận phương sai, hiệp phương sai N×N:
S =
…
;
∑
=1
; mỗi một thành tố x
i
thể hiện tỷ trọng vốn đầu tư vào danh
mục chứng khoán i.