ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM HOÀNG GIANG
ĐẶC ĐIỂM CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 62 22 85 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2014
Công trình được hoàn thành tại
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phan Thanh Khôi
Người giới thiệu 1:
Người giới thiệu 2:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở,
họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
vào hồi: giờ, ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Tộc người là một trong những mối quan tâm lớn đặt ra cho các nhà
hoạch định chính sách, các đảng chính trị, các nhà nước và các nhà khoa
học. Sự bùng nổ vấn đề tộc người trong lịch sử thường kéo theo những
làn sóng ý thức tộc người, sự trỗi dậy của chủ nghĩa tộc người do sự
khác nhau về lối sống, tâm lý, tập quán, trình độ phát triển kinh tế - xã
hội. Nó đòi hỏi bất cứ một đảng chính trị, một nhà nước nào trong
người, đặc điểm các tộc người ở Việt Nam.
- Chỉ ra những yếu tố quy định sự hình thành đặc điểm các tộc
người ở Việt Nam
- Phân tích làm rõ biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm các tộc
người ở Việt Nam đối với công cuộc đổi mới đất nước.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm điều tiết những ảnh
hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam đối với công cuộc đổi
mới đất nước hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: những biểu hiện và ảnh hưởng của đặc
điểm các tộc người ở Việt Nam đối với công cuộc đổi mới đất nước
Phạm vi nghiên cứu: đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong
công cuộc đổi mới đất nước, từ 1986: Việt Nam tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, các
chính sách của Nhà nước Việt Nam về vấn đề tộc người. Ngoài ra,
luận án còn kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu liên
quan đến lĩnh vực này.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu như lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - so
sánh và các phương pháp nghiên cứu liên ngành khác,…
5. Những đóng góp mới của luận án
2
- Phân tích những biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm các tộc
người ở Việt Nam đối với công cuộc đổi mới đất nước.
- Đề xuất một số giải pháp điều tiết ảnh hưởng của đặc điểm các
tộc người ở Việt Nam đến công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Tiếp thu những quan điểm ở các công trình nghiên cứu nêu
trên, tác giả phân biệt sự khác nhau giữa hai thuật ngữ “tộc người”
và “tộc người”. Theo đó, trong luận án, tác giả bàn đến vấn đề dân
tộc theo nghĩa hẹp: tộc người (ethnie).
- Đặc điểm tộc người
Xét đến cùng, sự khác biệt và phức tạp của vấn đề định nghĩa
tộc người lại nằm ở việc xác định các đặc điểm cấu thành tộc người
hay tiêu chí để nhận diện tộc người. Đây chính là lĩnh vực giữa các
nhà khoa học vừa có sự gặp gỡ nhau nhưng cũng có sự khác biệt nhau
trong nhận thức, lập luận và quan điểm. Cho đến nay, người ta vẫn
chưa hoàn toàn thống nhất với nhau có bao nhiêu tiêu chí cần và đủ
cho việc xác định một tộc người; mối quan hệ giữa các tiêu chí đó; đâu
là tiêu chí cơ bản, đâu là tiêu chí chủ yếu và đâu là tiêu chí thứ yếu,
Qua các công trình nghiên cứu về những tiêu chí nhận diện tộc
người, tác giả đã kế thừa và vận dụng vào luận án của mình trong việc
đưa ra những yếu tố cấu thành đặc điểm tộc người.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về sự hình thành, biểu hiện và
ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam đối với công cuộc đổi
mới đất nước
Từ những năm 70 – 80 của thế kỷ XX đến nay, ở Việt Nam đã
thu hút nhiều nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau (dân
tộc học, sử học, khảo cổ học, triết học, văn hóa học, xã hội học,…)
tham gia nghiên cứu về tộc người, đặc điểm các tộc người ở Việt Nam,
…
Hàng loạt công trình đã góp phần làm sáng tỏ sự hình thành,
biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam đến
công cuộc đổi mới đất nước. Các nghiên cứu này đã phân tích một số
4
những yếu tố quy định sự hình thành đặc điểm dân tộc Việt Nam, chỉ
ra những biểu hiện của các đặc điểm đó như: dân số, cư trú, trình độ
công cuộc đổi mới đất nước
Đại hội VI của Đảng (tháng 12 – 1986) đã đưa ra đường lối đổi
mới toàn diện đất nước – từ đổi mới kinh tế là chủ yếu đến đổi mới
chính trị, văn hóa, xã hội; từ đổi mới tư duy, nhận thức tư tưởng đến
đổi mới hoạt động thực tiễn. Có thể nói, chính sách đổi mới toàn diện
kinh tế - xã hội ở nước ta là phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và của
xu hướng phát triển hiện nay. Tuy nhiên, để thực hiện những nội dung
đó, trước hết phải có cơ sở định hướng cho chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội đất nước.
Là một quốc gia đa tộc người, việc giải quyết vấn đề dân tộc là
một trong những nhiệm vụ chiến lược của công cuộc đổi mới. Có thể
thấy, mỗi tộc người trong quá trình hình thành và phát triển đều có
những đặc điểm riêng, góp phần tạo nên lực cố kết của tộc người, sức
mạnh tiềm tàng và giúp tộc người đó vượt qua mọi thử thách của lịch
sử, làm chủ mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Sự nghiệp đổi
mới là một đòi hỏi tất yếu khách quan, một quá trình của sự phát triển
kinh tế - xã hội. Trong quá trình đó, mỗi tộc người phải phải huy động
tối đa mọi sức mạnh tiềm năng của mình, tiềm năng về văn hóa, về
trình độ học vấn, tiềm năng trong ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật, trong
bảo vệ môi trường nhân văn và môi trường sinh thái. Nhờ đó, các tộc
người khắc phục được những mặt trái của những yếu tố tác động từ
bên ngoài do công cuộc đổi mới mang lại.
Do vậy, trong một quốc gia đa tộc người như nước ta, nghiên
cứu đặc điểm các tộc người trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội,… là căn cứ để hoạch định nội dung quan trọng của công cuộc
đổi mới đất nước, đồng thời là cơ sở để có những biện pháp cụ thể cho
mỗi tộc người, từng vùng tộc người trong quá trình phát triển. Khai
thác tối đa sức mạnh bản thân các tộc người với sự ủng hộ, giúp đỡ
của cả nước trên cơ sở nhận thức tính tất yếu giữa cái chung và cái
riêng, tính thống nhất và tính đặc thù, nhằm xóa bỏ khoảng cách chênh
(thể hiện trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống, văn
7
học dân gian), đặc biệt cùng chung một ý thức tự giác dân tộc. Loại
thứ hai là dân tộc bao gồm nhiều tộc người đa số và tộc người thiểu số
hình thành trong lịch sử, ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường
lấy ngôn ngữ của tộc người đa số làm ngôn ngữ quốc gia, đồng thời có
chung một lãnh thổ (lãnh thổ quốc gia – dân tộc), cùng chung một vận
mệnh lịch sử quốc gia dân tộc, gắn bó vận mệnh các tộc người riêng
với vận mệnh chung của quốc gia dân tộc, cùng chung lợi ích về chính
trị, kinh tế, một nền văn hóa thống nhất vừa đa dạng của quốc gia đa
tộc người.
Thứ hai, dân tộc được hiểu là tộc người hay còn gọi là cộng
đồng tộc người (ethnie). Tộc người thường được dùng như khái
niệm công cụ của các ngành dân tộc học, nhân chủng học, xã hội
học, văn hóa học, lịch sử,… Ví dụ, khi nói đến dân tộc Kinh, dân
tộc Mường, dân tộc Thái, dân tộc Tày, là để chỉ một cộng đồng
tộc người có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc
(nation) được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn
hóa và nhất là có một ý thức tự giác tộc người.
Trong luận án, tác giả tiếp cận khái niệm dân tộc theo nghĩa tộc người
(ethnie).
- Đặc điểm tộc người
Mỗi tộc người không chỉ có những đặc trưng riêng mà cả các đặc
điểm chung với tộc người khác. Khi nghiên cứu về các tộc người cần
làm rõ một số tiêu chí được coi là những thành tố cấu thành tộc người:
Thứ nhất, lịch sử của tộc người
Lịch sử tộc người là quá trình hình thành và phát triển của mỗi
tộc người qua nhiều giai đoạn khác nhau. Nghiên cứu lịch sử tộc
người, có thể qua những ký ức lịch sử (truyền thống, lịch sử, huyền
thoại, những điều kiêng cữ, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, của tộc
Những đặc trưng về nguồn gốc lịch sử, lãnh thổ, các mối liên hệ
kinh tế bên trong và đặc biệt là đặc trưng văn hóa hoàn toàn tồn tại
trong đặc tính của bất kì tộc người nào. Ý thức tự giác tộc người bao
gồm tất cả các yếu tố nói trên. Ý thức đó nhất thiết cần phải được xem
xét trong việc xác định tộc thuộc của mỗi con người riêng biệt hay là
9
của cả một nhóm người trọn vẹn, nghĩa là trong việc xác định họ thuộc
thành phần của tộc người này hay tộc người khác. Bởi vậy, trong điều
tra dân số của nhiều nước, thành phần tộc thuộc của một người nào đó
được ghi nhận chủ yếu trên cơ sở tự báo.
2.1.2. Đặc điểm các tộc người ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu đặc điểm tộc người là căn cứ quan
trọng để xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới và
hội nhập của đất nước. Nghiên cứu đặc điểm của các tộc người ở Việt
Nam cần làm rõ một số yếu tố được coi là bộ phận cấu thành tạo nên
những đặc điểm đó:
Thứ nhất, nguồn gốc lịch sử của các tộc người ở
Việt Nam
Đây là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa to lớn trong xác định
đặc điểm các tộc người Việt Nam. Khi tìm hiểu nguồn gốc của các tộc
người ở nước ta, thường xem xét trên những phương diện như những
huyền thoại, lịch sử cư trú, nhân chủng.
Thứ hai, cơ sở kinh tế - xã hội của các tộc người ở Việt Nam
Yếu tố kinh tế - xã hội là cơ sở để đánh giá những tiến bộ xã hội
và phát triển tộc người. Việc xem xét, làm rõ những vấn đề kinh tế - xã
hội gồm nhiều phương diện: sản xuất - kinh tế, các quan hệ xã hội,
những biến đổi của các tộc người trong những năm gần đây. Đó không
chỉ là những vấn đề có ý nghĩa lý luận mà còn mang tính thực tiễn cao.
Thứ ba, sinh hoạt văn hóa của các tộc người ở Việt Nam
Ở nước ta, mỗi một tộc người, dù đa số hay thiểu số, dù mức độ
cật bảo vệ giang sơn, Tổ quốc.
2.2.2. Lao động sản xuất
Ở Việt Nam, từ nhiều thế kỷ nay, hoạt động lao động sản xuất ra
của cải vật chất của các tộc người nước ta rất đa dạng, nhiều hình thái
kinh tế sản xuất như: hình thái kinh tế chiếm đoạt, kinh tế sản xuất, sản
xuất ruộng nước, tạo nên tính đa dạng của các tộc người nước ta.
Quá trình lao động với những hình thái sản xuất đa dạng đã tạo
nên diện mạo các tộc người nước ta, đồng thời, chính trong sự tiếp
xúc, trao đổi lao động sản xuất, làm cho các tộc người Việt Nam xích
11
lại gần nhau, góp phần hình thành nên cộng đồng quốc gia dân tộc
thống nhất trong đa dạng.
2.2.3. Hoàn cảnh lịch sử
Lịch sử hình thành các tộc người Việt Nam gắn liền với quá
trình đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc. Vị trí địa lý chiến
lược của Việt Nam và số phận lịch sử của tộc người Việt Nam sinh ra
và lớn lên bên cạnh các đế chế phương Bắc lớn, mạnh đã trở thành
nhân tố quan trọng tạo ra những hoàn cảnh lịch sử thường xuyên tác
động đến Việt Nam. Trong hoàn cảnh chống chọi với thiên nhiên và kẻ
thù bên ngoài, để tồn tại và phát triển các cư dân Việt Nam đã vượt
qua những khác biệt về nguồn gốc, tiếng nói, văn hóa để quần tụ nhau
lại, dựa vào nhau mà sinh tồn
Lịch sử chống giặc ngoại xâm, cùng với quá trình thống nhất
quốc gia đã trở thành nhân tố tác động trực tiếp đến toàn bộ tiến trình
lịch sử nước ta, đến cuộc sống của cộng đồng các tộc người góp phần
tạo nên những đặc điểm riêng của mỗi tộc người, đồng thời hình thành
những giá trị tốt đẹp của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam: tinh
thần đoàn kết, chủ nghĩa yêu nước, lòng nhân ái, bao dung, tương trợ,
giúp đỡ lẫn nhau giữa các tộc người.
2.2.4. Tiếp xúc và giao lưu văn hóa
3.1.1. Biểu hiện của sự chênh lệch số lượng dân cư giữa các
tộc người
Do vị trí địa lý tự nhiên và điều kiện lịch sử, ngay từ thời kỳ đầu
dựng nước, Việt Nam đã là nơi tụ cư của nhiều nhóm cư dân. Tới nay,
Việt Nam có 54 tộc người với hàng trăm nhóm địa phương, hàng trăm
tên gọi thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, có sự chênh lệch rất lớn về
dân số, giữa tộc người đa số (Kinh) với các tộc người thiểu số, giữa
các tộc người thiểu số với nhau, giữa các tộc người ở miền xuôi và các
tộc người ở miền núi.
Nghiên cứu đặc điểm dân số các tộc người, chỉ ra những ảnh
hưởng của nó đến công cuộc phát triển đất nước, giúp các nhà quản lý
13
xây dựng chính sách hợp lý vì sự phát triển của các tộc người trong
giai đoạn mới của đất nước – thời kì đổi mới.
3.1.2. Ảnh hưởng của sự chênh lệch số lượng dân cư giữa các
tộc người
Thứ nhất, sự chênh lệch số lượng dân cư giữa các tộc người là
cơ sở để phân bổ dân cư, sắp xếp nguồn nhân lực cho các vùng tộc
người
Dân số không đồng đều giữa các tộc người hiện đang là vấn đề
đặt ra đối với chính phủ Việt Nam trước yêu cầu giải quyết hợp lý số
dân cho từng tộc người. Sự chênh lệch này làm cho việc sắp xếp
nguồn nhân lực tại các vùng tộc người và miền núi còn nhiều bất cập.
Nhìn chung, lực lượng lao động nơi đây tuy có sự phát triển không
ngừng, song so với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, lực lượng này
còn nhiều hạn chế. Hiện nay, lực lượng lao động, đặc biệt là đội ngũ
lao động có trình độ còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Hầu hết
các tỉnh miền núi chưa thể tự cân đối được lực lượng lao động tại
chỗ. Nguồn nhân lực chất lượng cao hầu như phải nhờ vào sự điều
động, tăng cường từ các ngành ở Trung ương và các địa phương khác
gia tăng dân số giữa các tộc người, cho phép sử dụng nguồn lao động
một cách hợp lý, tránh mất cân bằng về trình độ dân trí giữa các tộc
người, khai thác tài nguyên một cách hợp lý. Có như vậy mới đảm bảo
sự phát triển bền vững của cả quốc gia dân tộc, cũng như sự đi lên của
từng tộc người trong quá trình phát triển.
3.2. Đặc điểm về cư trú xen kẽ giữa các tộc người ở Việt Nam
3.2.1. Biểu hiện của cư trú xen kẽ giữa các tộc người
Về tính chất cư trú, cư dân các tộc người ở Việt Nam theo phân
bố tự nhiên sống phân tán và xen kẽ nhau trên các địa bàn dân cư,
không có lãnh thổ riêng biệt cho một tộc người như một số nước trên
thế giới.
Về địa bàn cư trú, những biến động lịch sử, những cuộc di cư do
chiến tranh, loạn lạc,… đã làm cho hầu hết các cư dân cho dù sinh tụ ban
đầu ở một khu vực nhất định, nay không còn địa bàn cư trú riêng của mình.
Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du;
15
người Hoa sống tập trung ở một số nơi thuận tiện cho làm ăn, buôn bán; các
tộc người thiểu số khác đa số sống ở miền núi phía Bắc, vùng núi Thanh -
Nghệ Tĩnh, Trường Sơn - Tây Nguyên, đồng bằng Nam Bộ.
Trong khoảng thời gian vài chục năm trở lại đây, do nhiều
nguyên nhân, đặc biệt là do sự chuyển cư hàng loạt bao gồm cả di
dân có tổ chức, di dân tự phát của người Kinh và các tộc người khác
làm cho mức độ cư trú xen kẽ của các tộc người có chiều hướng ngày
càng tăng.
3.2.2. Ảnh hưởng của cư trú xen kẽ giữa các tộc người
Thứ nhất, cư trú xen kẽ giữa các tộc người góp phần tăng
cường sự hiểu biết và xích lại gần nhau giữa các tộc người
Ở nước ta, do tình trạng cư trú xen kẽ, không kể tộc người đa số
hay thiểu số, đều chịu tác động của xu thế hợp nhất và xu thế phân ly. Sự
phân ly làm cho các tộc người bị xé lẻ, tách rời nhau. Ngược lại, quá trình
đồng đều giữa các tộc người
Ở nước ta, có thể nhận thấy, các tộc người có những thang bậc
phát triển lịch sử khác nhau, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan, tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển giữa các tộc người
còn rất lớn trên các lĩnh vực của đời sống. Về kinh tế, cho đến khi
bước vào chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở
nước ta có những tộc người đã tiến tới trình độ nhất định của nền kinh
tế sản xuất hàng hoá, vận động theo cơ chế thị trường, nhưng còn có
những tộc người mới chỉ vượt qua trình độ của nền kinh tế hái lượm,
bước đầu chuyển sang nền kinh tế sản xuất tự cấp, tự túc với công cụ
thô sơ, kỹ thuật lạc hậu. Về văn hoá, Việt Nam là một quốc gia đa tộc
người, mỗi tộc người có bản sắc văn hoá riêng. Tuy thế, trình độ văn
hoá, trình độ dân trí nói chung giữa các vùng miền, giữa các tộc người
còn chênh lệch lớn. Nhiều tộc người mới chỉ đạt tới trình độ một nền
văn hoá dân gian, chỉ một số tộc người đạt tới trình độ của một nền
văn hoá bác học. Về xã hội, nước ta có sự phân hóa về trình độ phát
triển giữa các tộc người. Sự phát triển không đồng đều đó là một đặc
điểm lớn, tác động ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình công nghiệp
17
hoá, hiện đại hoá đất nước, quá trình thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới.
3.3.2. Ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế - xã hội
không đồng đều giữa các tộc người
Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều
giữa các tộc người là cơ sở để các tộc người phát triển cao hơn giúp
đỡ các tộc người phát triển thấp hơn
Sự không đồng đều của trình độ phát triển đặt ra một thực tế
trong mối quan hệ giữa các tộc người là giải quyết quan hệ giữa các
tộc người phát triển cao hơn và các tộc người còn phát triển ở trình độ
thấp. Việt Nam là một quốc gia có nhiều thành phần tộc người, giữa
Thực tiễn đã chứng minh rằng, xuất phát từ sự đa dạng, phong
phú về bản sắc văn hóa các tộc người ở nước ta, sự đan xen, giao thoa
đa văn hóa không những giúp cho văn hóa các tộc người thiểu số giữ
gìn được bản sắc, đổi mới và phát triển theo yêu cầu của thời đại, mà
chính tộc người Kinh, qua giao lưu cũng làm giàu thêm vốn từ vựng
tiếng Việt, tiếp nhận âm nhạc truyền thống, y học cổ truyền, kinh
nghiệm sản xuất miền núi, những giá trị văn hóa tốt đẹp trong đời sống
cộng đồng các tộc người thiểu số. Nếu biết phát huy đúng hướng tính
đa dạng của văn hóa không những không phương hại đến tính thống
nhất của văn hóa mà ngược lại, còn củng cố, bồi đắp cho tính thống
nhất đó ngày thêm bền vững.
Thứ hai, sự đa dạng văn hóa các tộc người có khả năng làm suy
giảm, đánh mất bản sắc văn hóa truyền thống của các tộc người
Sự tồn tại đa dạng đan xen các sắc thái văn hóa ở các vùng tộc
người, dưới tác động của cơ chế thị trường, sự biến đổi trong văn hóa
của các tộc người diễn ra có phần nhanh chóng và mạnh mẽ hơn so với
thời kỳ trước đổi mới. Sự tác động mạnh mẽ đó giúp cho các tộc người
có thể tiếp thu những tinh hoa văn hóa làm phong phú thêm vốn văn
hóa của mình. Mặt khác, chính sự khác biệt về văn hóa giữa các tộc
người dường như đang là nhân tố góp phần làm mai một giá trị văn
hóa truyền thống tộc người, thậm chí, là nguyên nhân dẫn tới việc
đánh mất bản sắc văn hóa của các tộc người.
19
Tiểu kết chương 3
Luận án phân tích những biểu hiện và tác động nhiều chiều của
từng đặc điểm tộc người đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Hiện
nay, khi đất nước tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa, đời sống
các tộc người nước ta có sự biến đổi mạnh mẽ. Những đặc điểm của
tộc người ở Việt Nam có sự thay đổi theo vận động của thực tiễn. Từ
đó, tác động trở lại quá trình phát triển của đất nước theo cả chiều tích
hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách là khâu cơ bản
thể hiện trình độ, năng lực quản lý. Khi xây dựng chính sách phải huy
động được sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành, của cán bộ tộc
người, đồng bào các tộc người. Do đó, cần tránh tình trạng một chính
sách được ban hành chỉ đơn thuần là kết quả của cơ quan chủ quản
nghĩ ra theo ý tưởng chủ quan của mình, không phù hợp với thực tế,
với phong tục, tập quán, đời sống của đồng bào các tộc người.
Phương hướng khắc phục thực trạng trên cần phải được tính
toán cụ thể trên cơ sở hiểu biết đầy đủ những đặc điểm, yếu tố đặc thù
ở các vùng tộc người, thực hiện sự thống nhất biện chứng giữa các đa
dạng và cái thống nhất, cái riêng và cái chung ở nước ta hiện nay. Phải
tuân theo quy luật sự phát triển tự thân của mỗi tộc người với sự hợp
tác, hữu nghị, giúp đỡ của các tộc người anh em trong cả nước.
4.3. Phát huy nội lực của các tộc người trong quá trình phát triển
đất nước
Điều tiết những ảnh hưởng của đặc điểm tộc người đến công
cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi phát huy sức mạnh nội lực
của các tộc người. Khi nhân dân các tộc người biết tận dụng và phát
huy được sức mạnh nội tại của bản thân, lúc đó mới tạo ra những
điều kiện để nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết về tộc người
mình, đồng thời, những tri thức đó lại thành nguồn lực để các tộc
người vươn lên trong quá trình hội nhập và phát triển.
Sự nghiệp đổi mới gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa tạo ra bước chuyển đổi quan trọng trong cách sống của đông đảo
cư dân các tộc người nước ta. Sự thay đổi hình thái cuộc sống đó sẽ tác
21
động sâu sắc đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lý con người.
Trước sự biến động đó, các tộc người phải phát huy được sức nội sinh
của chính mình để tạo nên lực cố kết cộng đồng. Nếu bỏ qua hay coi
nhẹ lực cố kết đó chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả xã hội xấu như sự
Trên cơ sở phân tích dấu hiệu nhận biết các tộc người, các
yếu tố hình thành đặc điểm tộc người và những biểu hiện, ảnh
hưởng của nó đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, luận án
đi đến những kết luận sơ bộ như sau:
- Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người anh
em chung sống với nhau từ lâu đời trong lịch sử. Tuy có tập quán, tâm
lý, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau nhưng các
tộc người nước ta đoàn kết, gắn bó, tương trợ, giúp đỡ nhau trong suốt
quá trình dựng nước và giữ nước.
- Các tộc người ở Việt Nam gắn với nhiều hình thái sản xuất
kinh tế khác nhau, trong đó, sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước là
chủ yếu. Do nằm ở vị trí ở ngã ba đường của khu vực Đông Nam Á, là
nơi thông thương đi lại thuận lợi từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình
Dương và ngược lại, trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam luôn phải
đương đầu với những kẻ thù hùng mạnh nhất. Trên những yếu tố, các
tộc người ở Việt Nam hình thành nên những đặc trưng rất riêng, vừa
mang tính phong phú, đa dạng sắc thái các tộc người, vừa thể hiện tính
thống nhất của một cộng đồng quốc gia dân tộc.
- Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, các Nhà nước Việt
Nam đặt vấn đề tộc người và quan hệ tộc người như là một nhiệm vụ
then chốt của hoạt động của quốc gia dân tộc, giải quyết quan hệ tộc
người luôn gắn với thực tiễn đất nước, không thoát ly đặc điểm tộc
người. Từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi việc giải
quyết quan hệ tộc người là một nhiệm vụ xuyên suốt của cách mạng
Việt Nam. Sở dĩ, chúng ta giành thắng lợi qua hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chính là ở chỗ chúng ta đã thực
hiện một chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau giữa các tộc
người anh em, qua đó huy động được sức mạnh tiềm năng của tất cả các
23