Tài liệu ôn thi cao học môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật - Pdf 24

MỤC LỤC
Câu 1: Nguồn gốc của NN và PL
Câu 2: Bản chất của NN
Caâu 3 : Vị trí, Đặc Trưng của NN
Câu 4: Bản chất của NN XHCN
Câu 5: Bản chất + đặc tính cơ bản của NN CHXHCN VN
Câu 6: Chức năng của NN
Câu 7: Các chức năng cơ bản của NN XHCN
Câu 8 - Hình thức NN.
Câu 9: Các hình thức của NN XHCN
Câu hỏi 10: Bộ máy NN XHCN
Câu 11: Những nguyên tắc cơ bản của BM NN XHCN
Câu 12: KN và đặc điểm, đặc trưng của HTCT XHCN.
Câu 13 : Vai trò của NN XHCN trong HTCT
Câu 14 : Đảng trong HTCT, NN + ĐCS trong HTCT XHCN VN
Câu 15: Đảng và NN + các tổ chức XH trong HTCT XHCN
Câu 16 - Đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam
Câu 17: NN pháp quyền XHCN và ở VN
Câu 18: Bản chất của PL.
Câu 20: Bản chất và đặc trưng của PL XHCN
Câu 21 . Vai trò của pháp luật XHCN
Câu 22 - Khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, phân loại Quy phạm PL XHCN
Câu 23: Khái niệm, đặc điểm và cấu thành QHPL
Câu 24. Sự kiện pháp lý
Câu 25 - Khái niệm, đặc điểm, chức năng của YTPL
Câu 26 – Mối quan hệ giữa YTPL và PL XHCN, Giáo dục YTPL.
Câu 27- Điều chỉnh pháp luật, Cơ chế điều chỉnh pháp
Câu 28: Khái niệm, đặc điểm và căn cứ phân chia HTPL XHCN
Phần I: NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHUYÊN ĐỀ 1: BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC XHCN
CÂU 1: NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

* Đa số các học giả đều xem xét sự ra đời của NN tách rời những điều kiện vật chất
của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế. Theo họ NN không thuộc giai cấp
nào, NN là của tất cả mọi người và trong xã hội văn minh mãi mãi cần có NN.
- Nguồn gốc của NN theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác –Lênin:
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” của
Ph.Ăng-ghen và tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I.Lê-nin, theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, thì:
+ Nhà nước xuất hiện là mang tính khách quan, như không phải là hiện tượng xã hội
vĩnh cữu và bất biến. Nhà nước luôn vận động, phát triển và tiêu vong khi những điều
kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của chúng không còn nữa.
+ Nhà nước chỉ xuất hiện khi XH loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định,
với các tiền đề kinh tế (tư hữu tư nhân), tiền đề về xã hội (xã hội phân chia thành các
tầng lớp, các giai cấp khác nhau về lợi ích, mâu thuẫn về lợi ích không thể điều hòa
được).
=> Theo Lênin: Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẩn giai cấp
không thể điều hòa được. Bất cứ nơi đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách
quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì Nhà nước xuất hiện.
- Căn cứ khoa học cho các luận điểm này được hình thành trên cơ sở nghiên cứu và
phân tích toàn bộ hiện thực lịch sử của xã hội loài người
Xã hội loài người đã trải qua 5 phương thức sản xuất và ứng với mỗi phương thức
nhất định là một chế độ xã hội:
- Chế độ cộng sản nguyên thủy.
- Chế độ chiếm hữu nô lệ.
- Chế độ phong kiến.
- Chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Chế độ xã hội chủ nghĩa.
1. Chế độ cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc:
- Chế độ cộng sản nguyên thủy (CSNT) là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên trong lịch
sử nhân loại. Đây là xã hội không có giai cấp, chưa có NN và pháp luật.
- Cơ sở kinh tế của chế độ CSNT là sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao

phạm xã hội.
- Quy phạm xã hội là những quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí chung của các thành
viên như các quy phạm mang tính chất tập quán, các tín điều tôn giáo đề điều chỉnh
các quan hệ xã hội trong chế độ CSNT, thể hiện ý chí của cả cộng đồng.
+ Nhu cầu khách quan của xã hội cần phải có một trật tự, trong đó mọi người phải
tuân thủ theo những chuẩn mực thống nhất phù hợp với điều kiện của xã hội và lợi ích
của tập thể và từ đó Tập quán xuất hiện một cách tự phát, dần dần được xã hội chấp
nhận và trở thành quy tắc xử sự chung.
+ Do trình độ thấp kém của con người lúc bấy giờ, nhiều tín điều tôn giáo cũng được
mọi người chấp nhận và nhiều khi còn được coi là những chuẩn mực tuyệt đối, thiêng
liêng cho xử sự của con người.
3. Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện NN.
Xã hội thị tộc - bộ lạc không có NN, nhưng chính trong lòng nó đã nảy sinh những
tiền đề vật chất cho sự ra đời của NN.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo tiền đề làm thay đổi phương thức sản xuất
cộng sản nguyên thủy và đòi hỏi phải thay thế sự phân công lao động tự nhiên bằng
phân công lao động xã hội.
Chế độ cộng sản nguyên thủy có 3 lần phân công lao động xã hội lớn.
- Lần 1: Ngành chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt.
Sau lần thứ nhất, của cải xã hội ngày càng nhiều, xuất hiện của cải dư thừa, xuất hiện
chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu làm thay đổi chế độ hôn nhân và gia đình, chế độ hôn
nhân một vợ một chồng xuất hiện thay cho chế độ quần hôn. Xã hội xuất hiện người
giàu, người nghèo; xuất hiện giai cấp và ngành thủ công nghiệp phát triển.
- Lần 2: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp.
Nô lệ xuất hiện trở thành một lực lượng xã hội có số lượng ngày càng tăng, mâu
thuẫn giai cấp năng, xuất hiện nền sản xuất hàng hoá và thương nghiệp phát triển dẫn
đến lần phân công lao động thứ ba.
- Lần 3: Thương mại phát triển, xuất hiện giai cấp không tham gia sản xuất nhưng
có quyền lãnh đạo sản xuất và bắt người sản xuất phải phụ thuộc (thương nhân). Đồng
tiền xuất hiện, sự tích tụ của cải vào người giàu làm mâu thuẫn xã hội càng cao.

những mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối
kháng.
* NN khác với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp.
NN khác các tổ chức xã hội trong xã hội có giai cấp ở những nội dung cơ bản sau:
+ NN thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhập vào dân cư
nữa. Chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị .
+ NN phân chia dân cư thành lãnh thổ, thành các đơn vị hành chính không phụ thuộc
vào dân tộc, nghề nghiệp, huyết thống.
+ NN có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia có nội đung chính trị, pháp lý thể
hiện quyền độc lập, tự quyết về đối nội, đối ngoại.
+ NN ban hành pháp luật và thể hiện sự quản lí bắt buộc đối với mọi công dân.
+ NN quy định và thực hiện việc thu thuế với các loại thuế, dưới các hình thức bắt
buộc với số lượng và thời hạn nhất định.
* Sự xuất hiện NN đầu tiên trong lịch sử:
-A Ten: NN A ten ra đời trực tiếp từ những mâu thuẩn giai cấp đối kháng phát sinh
trong lòng xã hội thị tộc, không có bất kỳ một sự tác động nào bên ngoài
-Rô Ma: NN La Mã cổ đại xuất hiện được thúc đẩy bởi sự đấu tranh của những người
thường dân (Plebêi) chống lại giới quý tôc của thị tộc La mã (Pátrisép). Plebêi những
người tự do, là những người tự do sống ngoài thị tộc La Mã. Khi chiếm hữu ruộng đất
họ cũng phải nộp thuế, cũng phải đi lính nhưng không hề giữ được chức vụ gì, họ
không thể sử dụng đất đai La Mã. Cuộc đấu tranh của những người Plebêi là lực lượng
cách mạng chủ yếu chống lại mọi đặc quyền quý tộc. Chiến thắng của họ trong cuộc
chiến đã phá vở chế độ thị tộc thúc đẩy quá trình hình thành thể chế NN vốn dựa trên
sự phân chia lãnh thổ và sự khác biệt về tài sản
- Giéc Manh: NN Giéc Manh được thành lập sa khi người Giéc Manh xâm chiếm
vùng lãnh thổ rộng lớn của đế chế La Mã cổ đại. NN Giéc manh ra đời dưới sự ảnh
hưởng của nền văn minh La mã và do nhu cầu thiết lập quyền thống trị trên đất đại La
Mã chứ không phải do nhu cầu đấu tranh giai cấp trong lòng xã hội Giéc manh. Khi
NN được thiết lập, trong xã hội Giécmanh vẫn còn chế độ thị tộc, bắt đầu có sự phân
hoá giai cấp nhưng chưa rõ nét. NN Giéc manh xuất hiện là sự chuyển hoá cơ quan thị

của nhiều bộ môn khoa học, học thuyết Mác-lênin về nhà nước và pháp luật đã
giải thích được một cách đúng đắn vấn đề bản chất và ý nghóa của nhà nước nói
chung cũng như của nhà nước xã hội chủ nghóa nói riêng.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” của
Ph.Ăng-ghen và tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I.Lê-nin, theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, thì:
+ Nhà nước xuất hiện là mang tính khách quan, như khơng phải là hiện tượng xã hội
vĩnh cữu và bất biến. Nhà nước ln vận động, phát triển và tiêu vong khi những điều
kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của chúng khơng còn nữa.
+ Nhà nước chỉ xuất hiện khi XH lồi người phát triển đến một giai đoạn nhất định,
với các tiền đề kinh tế (tư hữu tư nhân), tiền đề về xã hội (xã hội phân chia thành các
tầng lớp, các giai cấp khác nhau về lợi ích, mâu thuẫn về lợi ích khơng thể điều hòa
được).
=> Theo Lênin: Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẩn giai cấp
khơng thể điều hòa được. Bất cứ nơi đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách
quan, những mâu thuẫn giai cấp khơng thể điều hòa được thì Nhà nước xuất hiện.
b.
Bản chất của NN:
** Tính giai cấp của nhà nước:
Xuất phát từ việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước, các nhà kinh điển của chủ
nghóa Mác-lênin đi đến kết luận "Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những
mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được". Nghóa là, nhà nước chỉ sinh ra và tồn
tại trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc.
Bản chất giai cấp đó thể hiện trước hết ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng chế
đặc biệt nằm trong tay của giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất để thực
hiện sự thống trò giai cấp, thiết lập và duy trì trật tự xã hội.
NN là bộ máy do giai cấp thống trị lập ra, có nhiệm vụ bảo vệ cho lợi ích của giai

chung bản chất là bộ máy để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột: Nhà
nước chủ nô là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô, nhà nước phong kiến là
công cụ chuyên chính của giai cấp đòa chủ phong kiến, nhà nước tư sản là công cụ
chuyên chính của giai cấp tư sản.
. Nghiên cứu về NN tư bản chủ nghĩa, nhận thấy tồn tại mâu thuẫn đối kháng giữa
hai giai cấp: giai cấp tư sản và giai cấp cơng nhân, bên cạnh đó còn có nhiều giai cấp
khác trong xã hội. NN tư bản chủ nghĩa là NN của giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản
lập ra, tổ chức một bộ máy bao gồm các cơ quan NN và ban hành hệ thống các quy
phạm PL quy định mọi hành vi của mọi cơng dân trong xã hội. Hệ thống quy phạm PL
này được hình thành là dựa vào ý chí của giai cấp tư sản, phục vụ cho giai cấp tư sản,
bảo vệ quuyền lợi và các lợi ích của họ. Các cơ quan NN (bao gồm Cơng an, Tồ án,
nhà tù…) có chức năng, thẩm quyền và sức mạnh trấn áp, bắt buộc mọi người dân
trong xã hội phải chấp hành hệ thống các quy phạm PL một cách triệt để.
. Khác với điều đó, nhà nước xã hội chủ nghóa với bản chất chuyên chính vô sản,
là bộ máy để củng cố đòa vò thống trò và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động chiếm đa số trong xã hội, để trấn áp những lực lượng thống trò
cũ đã bò lật đổ và những phần tử chống đối cách mạng.
Vd Đ2 “NN CHXHCN VN là NN PQXHCN của ndân do ndân, vì ndân, tất cả qlực
NN thuộc về ndân”, Đ4 “ĐCSVN,đội tiền phong của g/ccn VN là ll lđạo NN và XH”
+ Quyền lực về tư tưởng:
Để thực hiện sự chuyên chính giai cấp không thể chỉ đơn thuần dựa vào bạo lực
và cưỡng chế mà còn cần đến sự tác động về tư tưởng nữa. Giai cấp thống trò đã
thông qua nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng
thống trò trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải lệ thuộc mình về mặt tư tưởng.
Chẳng hạn, giai cấp thống trị thường nắm bộ máy thơng tin, các phương tiện thơng
tin đại chúng. Trấn áp các tư tưởng đối lập. Thực hiện sự kiểm duyệt ngặt nghèo. Ni
dưỡng đội ngũ lý luận lớn phục vụ cơng tác tư tưởng.
Ví dụ: Tư tưởng Nho giáo là tư tưởng thống trị trong xã hội phong kiến Việt Nam,
Đối với NN ta, tư tưởng thống trị XH là “Chủ nghĩa Mác-Lênnin và tư tưởng
HCM”D4 HP “NN và XH bảo tồn, phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đạm đà bản

trong xã hội, có sự ưu tiên cho những đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên và miền tây
Nam Bộ, có chính sách khuyến khích nhiều thành phần kinh tế phát triển, ưu đãi với
các nhà đầu tư nước ngoài…
Ví dụ: trong đối nội: NN giải quyểt các vấn đề nảy sinh từ đời sống XH như: đói
nghèo, bệnh tật, chiến tranh, các vấn đề về môi trường, phòng chống thiên tai, địch
hoạ, về dân tộc, tôn giáo và các chính sách XH khác.v.v…Trong đối ngoại: NN bảo
vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, bảo về công dân nước mình đang sinh hoạt công tác ở
nước khác
Tóm lại, mặc dù mỗi kiểu NN có bản chất riêng nhưng các NN đều có một số đặc
điểm chung đó là: NN là bộ máy để thực hiện sự thống trị giai cấp. Lênin định nghĩa:
“+NN là một bộ máy để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác.
NN XHCN cũng có một số đặc điểm chung như các kiểu NN khác, nhưng với bản chất
là chuyên chính vô sản nó không còn là NN theo đúng nghĩa nữa mà chỉ là "nửa NN"
+.NN là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là sản phẩm của một chế độ kinh tế nhất
định. Sự phát triển của NN là do cơ sở hạ tầng quyết định.
+NN là một bộ máy đặc biệt để trấn áp các giai cấp khác và thực hiện sự quản lý về
kinh tế-xã hội.
+Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của NN. Tuy nhiên, bên cạnh đó NN
còn thể hiện rõ nét tính xã hội. Dù trong xã hội nào, NN cũng một mặt bảo vệ lợi ích
của giai cấp ( lực lượng) cầm quyền, nhưng đồng thời cũng phải chú ý đến lợi ích
chung của toàn xã hội.
Từ những kết luận trên có thể đi đến khái niệm sau: NN là một tổ chức đặc biệt của
quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện
các chức năng quản lý đặc biệt nhằm thực hiện những mục đích và bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đổi kháng.
c.Liên hệ với bản chất NN XHCN:
Chủ nghĩa Mác - Lê nin khẳng định, bản chất giai cấp là đặc trưng cơ bản của NN.
NN là một bộ máy để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, tức là
công cụ để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp
thống trị. Do đó, khi xem xét bản chất giai cấp của một NN phải xem xét NN đó do

Câu 3 : Vị trí, Đặc Trưng của NN trong xã hội có giai cấp
NN ra đời là một quá trình phát triển của XH loài người đến một giai đoạn nhất
đònh. Cụ thể là: sau khi trải qua 3 lần phân công lao động trong xã hội (trồng trọt
tách khỏi chăn nuôi, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và thương nghiệp,
đồng tiền ra đời). Trong Cộng xã nguyên thủy chua có Nhà nước là vì các quan hệ
xã hội được được quảnlý bằng các quy phạm xã hội của thò tộc, bộ tộc, bộ tộc…
Nhưng sau khi thương nghiệp ra đời, do di chuyển trao đổi hàng hóa từ nhiều vùng
miền (từ đông sang tây, ngược lại…) vì vậy đã nãy ra nhu cầu cần có một tổ chức
đứng ra quản lý thống nhất. Đó là NN.
Có thể khẳng đònh, NN ra đời là một tất yếu khách quan, một cách tự nhiên chứ
không phải gượng ép.
Ta có thể hiểu NN là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có một bộ máy
chun làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm
thực hiện những mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai
cấp đổi kháng.
Vị Trí của NN
* NN so v

ới Xã hội:
Để xác đònhvò trí của nhà nước trong xã hội có giai cấp trước hết cần tìm hiểu
mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội có giai cấp nói chung. Nhà nước và xã hội có
giai cấp là hai hiện tượng có quan hệ qua lại với nhau; giữa chúng vừa có sự thống
nhất lại vừa có sự khác biệt.
- Sự thống nhất thể hiện ở chỗ xã hội có giai cấp không thể tồn tại thiếu nhà
nước đồng thời nhà nước chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai
cấp.
- Mặt khác, nhà nước và xã hội không đồng nhất với nhau.
+ Khái niệm xã hội rộng hơn khái niệm nhà nước.
+ Về mặt cơ cấu, xã hội được hình thành từ các giai cấp và đẳng cấp khác nhau,
còn nhà nước được cấu thành từ những chế đònh pháp lý và thiết chế nhà nước.

hiện các nhiệm vụ chính trò của giai cấp cầm quyền. Các chủ trương chính sách
của nhà nước bao giờ cũng thể hiện một cách trực tiếp lợi ích kinh tế, chính trò của
các giai cấp.
Chẳng hạn:
+ Chính sách của nhà nước tư sản luôn luôn xuất phát từ chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất tư bản chủ nghóa, phản ánh và bảo vệ các lợi ích chung của giai cấp tư
sản.
+ Chính sách của nhà nước xã hội chủ nghóa dựa trên chế độ sở hữu xã hội chủ
nghóa về tư liệu sản xuất luôn phản ánh và bảo vệ lợi ích chung của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động.
Nhà nước giữ vai trò quyết đònh trong việc thực hiện những lợi ích cơ bản của giai
cấp cho nên sự tham gia của nhà nước vào việc xác đònh nhiệm vụ chính trò, kinh
tế, xã hội, xác đònh phương hướng, hình thức và nội dung hoạt động của nhà nước
là yếu tố quan trọng trong chính sách của nhà nước.
Đặc trưng của NN:
Trong xã hội có giai cấp, để bảo vệ và thực hiện những lợi ích của giai cấp mình,
ngồi NN ra, giai cấp thống trị còn thiết lập nhiều tổ chức chính trị xã hội khác, trong
đó có các đảng phái chính trị. Trong các tổ chức chính trị xã hội này, NN nằm ở vị trí
trung tâm, vì: NN có các cơ cơ quan đặc biệt và các phương tiện vật chất khác kèm
theo mà các tổ chức chính trị xã hội khác khơng có được.
- So với các tổ chức khác trong XH có giai cấp, NN có một số

đặc

trưng

sau đây:
+ NN thiết lập một quyền lực cơng cộng đặc biệt khơng còn hồ nhập vào dân cư
nữa. Chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị. NN là một tổ chức đặc biệt có
nhiệm vụ quản lý xã hội.

của NN.
Nếu thiếu đặc trưng này thì khơng được gọi là NN.
Ví dụ: Trên thế giới có một số vùng lãnh thổ dân cư rất đơng đúc và có tiềm lực kinh
tế rất mạnh, điển hình là Đài Loan hiện nay hay Hồng Kơng, Macao trước kia, khơng
được gọi là NN. Để được xác định là một quốc gia hay một NN thì NN đó phải đảm
bảo 3 yếu tố: lãnh thổ - dân cư – chủ quyền. Trước năm 1945, trên bản đồ thế giới
khơng có nước Việt Nam mà chỉ là xứ An Nam vì còn đang nằm dưới ách đơ hộ của
thực dân Pháp. Pháp chia xứ An Nam thành 3 kỳ: bắc kỳ, Trung kỳ và nam kỳ. Mọi
vấn đề đối nội, đối ngoại do người Pháp quyết định.
- NN ban hành PL và thể hiện sự quản lý bắt buộc của mình đối với mọi cơng dân.
Với tư cách là người đại diện chính thức của tồn bộ xã hội, NN là chủ thể duy nhất
có quyền ban hành PL và quản lý xã hội trênc ơ sở hệ thống PL do mình ban hành. PL
do NN ban hành có tính bắt buộc chung, mọi cơng dân đều phải tơn trọng và thực hiện
theo PL.
Các tổ chức khác trong xã hội chỉ được quyền ban hành các thể lệ, điều lệ, quy chế,
… và những thể lệ đó chỉ có hiệu lực điều chỉnh trong nội bộ tổ chức đó.
Ví dụ: Điều lệ Đảng CSVN chỉ có hiệu lực điều chỉnh đối với trên 3 triệu đảng viên,
còn những người khác trong xã hội thì khơng điều chỉnh được. Thế nhưng, khi một
quy phạm xã hội ban hành (chẳng hạn như: “người nào giết người trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái PL nghiêm trọng của nạn nhân đối với
người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến
ba năm”) thì bất kỳ ai, có xuất xứ như thế nào, thuộc dân tộc nào,… cũng phải tn
theo. Điều 12 - HP 1992 đã quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng PL, khơng
ngừng tăng cường pháp chế XHCN. Các cơ quan NN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cơng dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến Pháp,
PL, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và PL. Mọi
hành động xâm phạm lợi ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của
cơng dân đều bị xử lý theo PL”.
NN nào thì có PL của NN ấy. Tất cả những người vi phạm phải chịu những chế tài
tương ứng theo quy định của PL. PL của NN CHXHCN Việt Nam tn thủ ngun tắc

Ngay từ khi mới ra đời, NN cộng hòa non trẻ đã phải tiến hành cuộc kháng chiến
chín năm chống thực dân Pháp, năm 1954 miền Bắc được giải phóng, miền Nam vẫn
tiếp tục cuộc kháng chiến chống xâm lược và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Trong điều kiện đó chính quyền dân chủ nhân dân ở nước ta đã làm
nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản.
Tháng 4/1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, Việt Nam bước sang một giai đoạn
phát triển mới - giai đoạn cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, trước
những thử thách lớn lao của thời đại, với đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng
đề ra và được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992, NN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã và đang từng bước đổi mới, vượt qua khủng hoảng, vững chắc đi lên
theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh.
2. Bản chất của NN.CHXHCNVN
NN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những mô hình đã được tìm
tòi, sáng tạo dựa trên cơ sở của lý luận khoa học nói trên. Nhưng đồng thời, bên cạnh
những “cái chung”, bản chất NN Việt Nam còn thể hiện những nét riêng
Điều 2 Hiến pháp 1992 được sửa đổi theo nghị quyết 51/QH quy định về bản chất
của NN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam: “NN CHXH CNVN là NN pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấp
công nhân với cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Bản chất của NN ta là:
- NN CHXH CNVN là NN pháp quyền XHCN:
Từ khi ra đời đến nay, tính nhân dân và tính quyền lực nhân dân là cái cơ bản, xuyên
suôt thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cho đến trước khi đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền, mặc
dù trong các bản Hiến pháp 1946,1959,1980 đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong
xây dựng pháp luật và tổ chức Bộ máy nhà nước. Bắt đầu từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ
khóa VII (1-1994) Đảng ta dùng khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong nội dung phần 2 về những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới đã nêu nhiệm
vụ thứ 7: « xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân ». Tiếp
theo các Đại hội VIII, IX, Đảng đã khẳng định tinh thần quan điểm này. Văn kiện đại

cao nhất của dân và cũng là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước cộng
hoà XHCN Việt Nam)
. Các cơ quan Xét xử của nhà nức pháp quyền Việt Nam được tổ chức theo
nguyên tắc Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. (Đảng và nhà
nước ta luôn đổi mới hệ thống tư pháp, đào tạo cán bộ tư pháp nhất là chuyển
Thẩm phán từ chế độ bầu sang chế độ bổ nhiệm. Bộ luật tố tụng hình sự quy đònh
trong nguyên tắc tố tụng là trong hoạt động xét xử có Hội thẩm nhân dân tham
gia, khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân ngang quyền nhau …
+ Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật, đảm bảo cho
Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Nhà nước tơn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền cơng dân; nâng cao trách
nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và cơng dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường
kỷ cương, kỷ luật.
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng cộng sản VN lãnh đạo
đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận
- Quyền lực NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp
cơng nhân, giai cấp nơng dân và trí thức làm nền tảng:
Bên cạnh ghi nhận Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp
ghi nhân NN ta là NN của dân, do dân và vì dân. Điều này thể hiện bản chất nhân dân
và tính quyền lực nhân dân sâu sắc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
+ Nhà nước của nhân dân là Nhà nước mà ở đó tất cả hoạt động của các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội cũng như của các cơng dân đều do nhân dân quyết định (nhân
dân là người làm chủ đất nước). Thể hiện qua những phương diện cụ thể sau:
. Nhà nước là NN của đại đa số dân cư trong XH bao gồm giai cấp công nhân và
nhân dân dân lao động. Sứ mạng của NN là chuyên chính vô sản. NN thực sự dân chủ
với đại đa số nhân dân lao động và trấn áp đối với g/cấp bóc lột và là tàn dư trước đây.
NN không chỉ là bộ máy cưỡng chế mà nó còn là một t/chức thay mặt nhân dân quản

toàn XH.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX một lần nữa khẳng định :
“ NN ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là NN pháp
quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp giữa các cơ quan NN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. NN quản lý xã hội bằng pháp luật”.
Như vậy, tính nhân dân và quyền lực nhân dân là cái cơ bản, xuyên suất, thể hiện bản
chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài ra, bản chất NN ta còn được biểu hiện cụ thể ở những đặc trưng cơ bản sau
đây:
3. Đặc tính cơ bản của NN CHXHCN Việt Nam:
- NN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một NN dân chủ thực sự, có tính xã
hội rộng rãi:
Dân chủ: thường dùng trong chế độ chính trị, tức là quyền lực tối cao thuộc về nhân
dân, do nhân dân thực thi. (nhân dân là chủ thể của quyền lực )
Xuất phát từ mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, nhân đạo, đảm bảo cơng bằng
xã hội, NN Việt Nam đã quan tâm một cách đặc biệt và tồn diện tới việc giải quyết
các vấn đề của tồn xã hội. Ví dụ: Xây dựng cơng trình phúc lợi, giải quyết vấn đề
bức xúc nhất của xã hội… và khơng ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Điều 3 Hiến pháp nước ta đã chỉ rõ ‘NN bảo đảm và khơng ngừng phát huy quyền
làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
cơng bằng, dân chủ văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển tồn diện; nghiêm từ mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ
quốc và của nhân dân".
Trở lại lịch sử hình thành và phát triển của nước CHXHCN VN có thể nhận thấy:
Những thiết chế nhà nước đầu tiên ra đời đã dựa trên cơ sở của dân chủ: Các hình thức
Quốc dân đại hội để bầu ra chính phủ lâm thời; tổng tuyển cử để bầu Chủ tịch nước và
đại biểu Quốc hội những năm đầu tiên sau khi cách mạng tháng Tám thành cơng; sự
ghi nhận chính thức trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980, và 1992 về xác định quyền lực
tối cao thuộc về nhân dân đã khẳng đính rõ mục tiêu và những bước phát triển của

trong sinh hoạt chính trị, bảo đảm cho người dân được làm chủ về mặt chính trị. Ví
dụ: Hiến pháp quy định các quyền tự do, dân chủ cơ bản của cơng dân; Luật bầu cử…
. NN xác lập và thực hiện cơ chế dân chủ đại diện thơng qua chế độ bầu cử và bãi
miễn đại biểu nhân dân vào các cơ quan dân cử. Đ6 HP “Nhân dân sdụng qlực NN
thơng qua Quốc hội và HĐ ND là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng
của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm truớc nhân dân”.
. Bên cạnh đó, nhà nước chú trọng thiết lập và bảo đảm thực hiện đầy đủ chế độ dân
chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia thực sự vào cơng việc quản lý NN,
quản lý xã hội; tham gia đóng góp ý kiến, kiến nghò, thảo luận một cách dân chủ,
bình đẳng vào các vấn đề thuộc đường lối, chủ trương, chính sách, các dự thảo văn
bản pháp luật quan trọng làm cho nhân dân thực sự là chủ thể của những chủ
trương, chính sách, pháp luật đó chứ không phải chỉ là những người phục tùng một
chiều.
. Hiến pháp của Việt Nam ghi nhận tồn bộ các quyền chính trị, xã hội và quyền tự
do cá nhân, tự do ngơn luận, báo chí, hội họp, mít tinh, lao động, học hành, nghỉ ngơi,
tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, tự do đi lại và bảo đảm
cho tất cả cơng dân được hưởng các quyền đó. Điều đó phù hợp với bản chất của nhà
nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, coi mục đích và động lực chính của sự phát triển dân
chủ là vì con người, do con người. Ví dụ: Đ69 “CD có q tự do ngơn luận, tự do báo
chí, có q được thơng tin; có quyền hội họp, lập hội Đ70 “ CD có q tự do tín ngưỡng
tơn giáo, theo họăc ko theo 1 tơn giáo nào Kơ ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng
tơn giáo hoặc lợi dụng tín ng tơn giáo để làm trái PL và CS của NN”
. Nhà nước Việt Nam là nhà nước gần dân và thân dân. Nhà nước ln coi trọng
việc lắng nghe ý kiến của nhân dân, chú trọng việc xem xét, giải quyết các đơn thư
khiếu nại, tố cáo của nhân dân, tổ chức để nhân dân tham gia góp ý kiến xây dựng đất
nước.
. Nhà nước kiên quyết ngăn chặn và xử lý mọi biểu hiện dân chủ cực đoan, gây rối
làm mất ổn định tình hình chính trị, xâm hại đến lợi ích quốc gia và các quyền chính
trị của nhân dân.
Ví dụ: Một số tội danh được quy định trong BLHS năm 1999 như Lạm dụng chức

của một NN thống nhất. Nhà nước ta là nhà nước thống nhất của 54 dân tộc anh em.
Chính sách đại đồn kết dân tộc thể hiện dưới bốn hình thức cơ bản của Nhà nước
Việt Nam:
+ Một là, xây dựng một cơ sở pháp lý vững vàng cho việc thiết lập và củng cố khối
đại đồn kết dân tộc, tạo điều kiện cho mỗi dân tộc đều có thể tham gia một cách tích
cực nhất vào việc thiết lập, củng cố và phát huy sức mạnh và quyền lực nhà nước.
Điều này được thể hiện rõ trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và các văn
bản pháp luật quan trọng khác, như Đ5 “NN CH XHCN VN là NN thống nhất của các
dân tộc cùng sinh sống trên đất nước VN. NN thực hiện chính sách bình đẳng, đồn
kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, chia rẽ dân tộc”
+ Hai là, NN tổ chức thực hiện trong các hoạt động cụ thể của mình và của tồn bộ
hệ thống chính trị để đảm bảo ngun tắc đồn kết dân tộc.Tất cả các tổ chức Đảng,
NN, Mặt trận tổ quốc, Cơng đồn, Đồn thanh niên. . . đều coi việc thực hiện chính
sách đồn kết dân tộc, xây dựng NN Việt Nam thống nhất là mục tiêu chung, là
ngun tắc hoạt động của tổ chức mình.
Ví dụ: Tất cả các tổ chức của hệ thống chính trị đều coi viêc thực hiện chính sách
đồn kết dân tộc, xây dựng NN thống nhất là mục tiêu chung, là ngun tắc hoạt động
của tổ chức mình.
+ Ba là, trong khi tổ chức thực hiện, nhà nước ln chú trọng việc ưu tiên đối với
các dân tộc ít người, các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để các dân tộc
tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, cùng tồn tại và phát triển trên cơ sở hòa hợp, đồn kết, vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng văn minh. Đ5 “NN thực hiện CS
phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống VC và TT của đồng bào dân tộc
thiểu số”
+ Bốn là, chú ý tới điều kiện, hồn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, tơn
trọng các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống của mỗi dân tộc, xây dựng bản sắc
riêng của dân tộc Việt Nam với đầy đủ tính phong phú mà vẫn bảo đảm sự nhất qn
và thống nhất.
Ví dụ: Các chính sách xây dựng miền núi, ưu tiên đầu tư, ưu tiên chính sách đi học.
- NN VN thể hiện tính xã hội rộng rãi:

Đương nhiên, để có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu, đòi hỏi để bảo đảm giữ vững
và phát huy bản chất của "nhà nước của dân, do dân và vì dân", Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam còn cần phải tiếp tục đổi mới nhiều mặt, cải tổ sâu
sắc từ cơ cấu tổ chức đến hình thức và phương pháp hoạt động phù hợp với các quy
đònh của luật pháp để từng bước xây dựng và phát triển thành nhà nước pháp
quyền Vìệt Nam.
(cần thì lấy)
NN cộng hồ XHCN việt Nam là NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân. Tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai
cấp cơng nhân với cấp nơng dân và tầng lớp trí thức.
Trong giai đoạn hiện nay để phát huy quyền làm chủ của nhân dân thể hiện được bản
chất nhân dân sâu sắc, Nhà nước “cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo
đảm ngun tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân cơng phối hợp giữa các cơ quan trong quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp. Hồn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy
định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Xây dựng và hồn thiện thể chế giám sát,
kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan
công quyền” (Văn kiện Đại hội X)
*Ý nghĩa của quy định trên trong việc đảm bảo nền dân chủ XHCN:
Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và
nhân dân. Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ
chức và thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân
dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các
chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Chúng ta chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và
công chức phải thật sự là công bộc của nhân dân, đặt mình dưới sự kiểm tra, giám sát
của nhân dân.
-Đây là cơ sở pháp lý để nhân dân thực hiện quyền lực của mình

với chức năng của nhà nước bóc lột cả về nội dung và phương pháp tổ chức thực
hiện.
+ Chức năng của NN do các cơ quan NN–bộ phận hợp thành của BMNN thực hiện.
+ Các chức năng NN có quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành một hệ thống thống
nhất
- Phân loại chức năng

: Trong khoa học pháp lý, việc phân loại cac chức năng cụ thể của NN được thực hiện
theo nhiều cách khác nhau, với những căn cứ khác nhau. Như:
Căn cứ vào cách thức thực hiện quyền lực NN, ta có: chức năng lập pháp, chức
năng hành pháp, chức năng tư pháp.
Căn cứ vào vị trí vai trò từng hoạt động của NN ta phân chia chức năng NN thành
hai loại: chức năng cơ bản và chức năng khơng cơ bản.
Căn cứ vào thời gian hoạt động có chức năng lâu dài và chức năng tạm thời (trước
mắt).
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của NN, ta có: chức năng kinh tế, chức năng XH…
Có thể phân loại chức năng NN thành nhiều loại nhưng thơng thường căn cứ vào đối
tượng tác động của chức năng là trong nội bộ của quốc gia (Đối nội) hay đối với các
quốc gia hay tổ chức nước ngồi (đối ngoại) mà chức năng chia thành hai loại: Đối
nội và đối ngoại
+ Chức năng đối nội: là những mặt hoạt động chủ yếu của NN trong nội bộ đất
nước. Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp phần tử chống đối …
+ Chức năng đối ngoại: Thể hiện vai trò của NN trong quan hệ với các NN và dân
tộc khác. Vdụ: chống ngoại xâm bên ngồi; hợp tác quốc tế…
Chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết, hỗ trợ, tác động lẫn nhau.
Trong đó chức năng đối nội giữ vai trò chủ đạo, có tính chất quyết định đối với chức
năng đối ngoại. Việc xác định và thực hiện chức năng đối ngoại ln phải xuất phát từ




c n

ă

ng c



a b



máy NN và ch



c n

ă

ng c



a m



thể.

Trích đoạn PLXHCN do NN XHCN, NN dân chủ, thể hiện quyền lực của đơng đảo nhân dân lao động ban hành và bảo đảm thực hiện, vì vậy, nĩ là phương tiện để phản ánh PLXHCN cĩ quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. PLXHCN cĩ quan hệ qua lại với các quy phạm xã hội khác trongCNXH. Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện cĩ hiệu quả chức năng tổ chức và quản lý kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Pháp luật bảo đảm thực hiện nền dân chủ XHCN phát huy quyền lực nhân dân, bảo đảm cơng bằng xã hội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status