Câu hỏi ôn tập và trả lời môn Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật Việt Nam - Pdf 22

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1. Câu 1: Phân tích những điểm đặc thù trong sự ra đời của nhà nước
Văn Lang – Âu Lạc(696 – 682 – 179TCN)
 Nhà nước ra đời trong trạng thái phân hóa xã hội chưa tới mức độ sâu sắc,
chưa mang tính đối kháng gay gắt như những nước khác. Hay nói cách khác, nhà
nước ra đời sớm, sớm cả về mặt thời gian và không gian là do 2 yếu tố tự vệ và trị
thủy-thủy lợi thúc đẩy .
− Cuối thời đại Hùng Vương, dân cư tràn xuống chinh phục các vùng đồng
bằng châu thổ của các con sông lớn và phát triển nông nghiệp trồng lúa nước nên
công cuộc trị thủy-thủy lợi (chống lũ lụt, tưới tiêu nước) giữ vai trò đặc biệt quan
trọng.
− Vị trí địa lí của nước ta nằm trên đầu mối của những luồng giao thông tự
nhiên nên yếu tố tự vệ chống lại mối đe dọa từ bên ngoài ngày càng trở nên bức
thiết.
− Vai trò thúc đẩy của tự vệ và trị thủy-thủy lợi được thể hiện cụ thể ở 2 mặt
sau:
+ Cơ cấu tổ chức trong chế độ công xã nguyên thủy không thể đảm đương
nổi công việc lớn lao trị thủy-thủy lợi và tự vệ mà đòi hỏi phải có 1 loại cơ cấu tổ
chức mới khác hẳn, đó là nhà nước. Bởi vì nhà nước có những ưu thế cơ bản hơn
hẳn tổ chức công xã nguyên thủy: Nhà nước là cơ cấu tổ chức rộng lớn bao trùm
toàn xã hội và chặt chẽ nhất, nhà nước có biện pháp đặc trưng là cưỡng chế, có
phương tiện tổ chức và quản lí đặc trưng là pháp luật. Vì vậy nhà nước có khả năng
huy động lực lượng lớn sức người sức của và tổ chức chỉ đạo 1 cách có hiệu quả
công cuộc đấu tranh để tự vệ , công cuộc trị thủy-thủy lợi.
+ Trên con đường hình thành nhà nước, các thủ lĩnh của các cộng đồng dân
cư lợi dụng địa vị, chức năng của mình để chiếm đoạt 1 phần của cải do các thành
viên đóng góp làm việc công ích thành tài sản riêng, nên việc huy động sức người
sức của tổ chức chỉ đạo đấu tranh tự vệ, trị thủy- thủy lợi trở thành cơ hội lớn thuận
lợi cho các thủ lĩnh chiếm đoạt tài sản công nâng cao địa vị, quyền hạn, qua đó
cũng thôi thúc sự ra đời sớm của nhà nước.
 Quá trình phân hóa xã hội và hình thành nhà nước diễn ra rất chậm chạp,

châu trên cấp quận. Đứng đầu các châu là Thứ sử, đứng đầu quận là thái thú, huyện
là Huyện lệnh. Tới thời Đông Hán, có thêm các Tào tòng giúp việc cho Thứ sử như
Công tào tòng, Bình tào tòng, Bạc tào tòng… phụ trách về tuyển bổ quan lại, quân
sự, tài chính… Bên cạnh đó, bổ nhiệm thêm chức Quận thừa để giúp việc khi Thái
thú đi vắng. Ngoài ra còn có một số chức quan chuyên việc thu thuế như Diêm
quan, Công quan, Thiết quan… Tuy nhiên, từ cấp huyện chở xuống vẫn do các
quan chức người Việt nắm giữ. Tới nhà Đường, cải cách địa chính lập ra các đô hộ
phủ đứng đầu là Tiết độ sứ; bỏ cấp quận lập lại các châu thuộc đô hộ phủ đứng đầu
là quan Thứ sử rồi dưới là huyện lệnh cai quản cấp huyện. Dưới huyện là hương,
xã do Hương trưởng, xã trưởng là người Việt quản lý. Nói tóm lại, sau các triều đại
thay nhau cai trị dù dưới hình thức nào, phương pháp, thủ đoạn nào, dù là sử dụng
đội ngũ quan chức người Hán hay người Việt thì chính quyền đô hộ cũng thất bại
trong việc đồng hóa người Việt, làng xã vẫn là cái gốc, là cơ sở văn hóa của nước
Việt.
− Các chính quyền độc lập song song và tiến đến đan xen tồn tại Trong thời
Bắc thuộc có 2 hệ thống chính quyền tồn tại song song và đan xen nhau đó là:
chính quyền đô hộ của Trung Quốc và chính quyền người Việt, trong đó làng Việt
tồn tại bền vững cùng với các chính quyền tự chủ. Các triều đại Trung Quốc không
ngừng thực hiện đồng hoá người Việt nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện
của Trung Quốc. Dưới thời kỳ này người Việt phải đóng sưu thuế cho triều đình
phía Bắc. Ngoài một số thuế của Nhà nước một số quan cai trị địa phương vì ở xa
nên cũng bòn vét thêm của dân. Dưới ách thống trị tàn khốc của các để chế phong
kiến lớn Trung Hoa, nhân dân ta đã kiên cường, bền bỉ đấu tranh để bảo tồn dân
tộc và giành độc lập đất nước. Tiêu biểu: cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào mùa
xuân năm 40 lật đổ chính quyền đô hộ ở 65 thành trì, sau đó xưng vương làm chủ
TRỊNH VIỆT HÀ – LUẬT TC K5 2
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc cũ. Như vậy, chính quyền Hai Bà Trưng là chính quyền
độc lập đầu tiên ở nước ta sau hơn 200 năm bắc thuộc. Năm 43, chính quyền Hai
Bà Trưng sụp đổ. Đầu năm 544, khởi nghĩa Lý Bí nổ ra và giành thắng lợi. Lý Bí

sử hơn 10 thế kỉ Bắc thuộc đối với lịch sử phát triển của nhà nước Việt Nam mà
chúng ta không thể phủ nhận. Triều đình trung ương với các quan cao cấp và 2 ban
văn võ, với lục bộ và các cơ quan chức năng, cách phân chia đơn vị hành chính địa
phương theo thừa tuyên, phủ, huyện… Đều mô phỏng Trung Hoa. Ngay cả tên gọi,
chức danh của các cơ quan nhà nước và hệ thống quan lại cũng theo cách gọi của
Trung Hoa. Trong suốt thời kì bị đô hộ nhân dân ta vừa đấu tranh chống Bắc thuộc
chống đòng hóa để giành độc lập dân tộc và giữ gìn bản sắc dân tộc đồng thời vừa
tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hóa chính trị của Trung Hoa đẻ xây dựng
nhà nước độc lập dân tộc của mình, sự tiếp thu đó là tất yếu của lịch sử.
TRỊNH VIỆT HÀ – LUẬT TC K5 3
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
 Tóm lại, thời kì chính quyền phong kiến phương Bắc đô hộ Việt Nam kéo dài
hơn 1000 năm với những đặc điểm khái quát như trên đã để lại nhiều di tồn, tác
động sâu rộng tới nhiều lĩnh vực trong đời sống nhân dân ta, thậm chí cho đến
ngày hôm nay. Việc nhìn nhận khách quan và có hệ thống về thời kì này chính là
điều kiện để chúng ta rút ra những bài học quá khứ cho tương lai, hình thành một
nền tảng tư tưởng vững chắc đưa việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
được thực hiện có hiệu quả hơn, sâu rộng và thiết thực hơn nữa.
3. Phân tích địa vị và quyền lực của Nhà vua trong Nhà nước Phong
kiến Việt Nam.
 Trả lời:
Trong gần chín thế kỷ (939-1858), đất nước ta đã trải qua các triều đại như:
Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn… với rất nhiều
các vị vua nổi tiếng như: Tiền Ngô Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý
Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Gia Long, Minh
Mạng… Bên cạnh đó, cũng đã xuất hiện không ít các vị vua hoang tàn, bạo ngược
như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực…
a. Địa vị của nhà vua trong nhà nước Phong kiến Việt Nam :
Trong chế độ Phong kiến, đặc biệt là quan điểm của Nho giáo, vua được coi
là “Thiên Tử” (con Trời). Về địa vị của nhà vua, thuyết "Mệnh Trời" (Thiên Mệnh)

nước. Những điều đó được thể hiện ở các điểm sau:
- Về mặt lập pháp: nhà vua chính là người duy nhất có quyền đặt ra pháp luật.
Ý chí của nhà vua dưới mọi hình thức đều trở thành pháp luật: Nếu là lời nói thì
mệnh lệnh đó sẽ được sứ giả truyền đi khắp nơi và thực thi (“Vua truyền rằng” hay
“Vua ban rằng”), nếu là bằng văn bản thì trở thành thánh chỉ, thánh ý…
- Về mặt hành pháp: Nhà vua có toàn quyền bổ nhiệm, thăng giáng, thưởng
phạt, thuyên chuyển, quy định quyền hạn, trách nhiệm, lương bổng đối với quan lại
trong cả nước (Năm 971, Đinh Tiên Hoàng phong cho Lê Hoàn làm Thập đạo
tướng quân; Lê Thánh Tông bãi bỏ chức Đại hành khiển). Như vậy, nhà vua chính
là người đứng đầu nền hành chính quốc gia, có quyền lực rất lớn.
- Về mặt tư pháp: Nhà vua chính là người giữ tài phán quyết cao nhất. Thế
hiện ở việc vua là người có quyền quyết định cuối cùng đối với bất cứ một vụ án
nào. Các bản án vua đã xét xử (dù là sơ thẩm hay phúc thẩm) đều không ai có
quyền xét xử lại, không được thụ lý các vụ án mà triều vua trước đã xử… Bên
cạnh đó, vua là người duy nhất có quyền đại xá hay đặc xá cho các can phạm.
- Về mặt quân sự: Vua chính là người đứng đầu quân đội, là Tổng tư lệnh
quân đội, có quyền bổ nhiệm, bãi miễn các chức trong bộ máy quân sự; ban hành
các chính sách quân sự (nhà Lý - chính sách Ngụ binh ư nông)
- Về mặt ngoại giao: Nhà vua là người đại diện hợp pháp duy nhất trong các
quan hệ bang giao. Việc đón tiếp hay cử các sứ thần đi bang giao, ký tên các hiệp
ước… đều phải do nhà vua trực tiếp hay cử người đi thực hiện, không một cá nhân
hay cơ quan nào có quyền hành thay thế được.
- Về mặt kinh tế: Nhà vua là người chủ sở hữu tối cao đối với ruộng đất công
của các làng xã trong cả nước, là người duy nhất được phép ban hành các chính
sách kinh tế trong nước (nhà Lê Sơ – chính sách Lộc điền, Quân điền)
 Nhà vua nắm thần quyền:
Ngoài vương quyền, với tư cách là con của Trời, nhà vua còn nắm trong tay cả
thần quyền, biểu hiện như:
- Trong các lễ nghi tôn giáo, nhà vua luôn là chủ tế. Chỉ duy nhất nhà vua mới
có quyền tế Trời, còn thần dân chỉ được thờ cúng tổ tiên mình và thần thánh, quỷ

rất cao với chủ nghĩa "tôn quân". Theo đó, nhà vua là "con Trời". Người giữ mệnh
Trời, thay Trời trị dân ; các ấn tín của vua đều khắc chữ "Thuận thiên thừa vận",
"Đại thiên hành hóa". Điện Kính Thiên được xây trong Hoàng thành Thăng Long.
Hoàng đế là người chủ tế duy nhất trong các buổi tế lễ (tế Trời, tế Tôn miếu, tế
Khổng Tử), là Tổng chỉ huy quân đội (Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đi đánh
Champa). Thời Lê Thánh Tông, chức Tướng quốc (Tể tướng) đầu triều và một số
chức danh đại thần khác đã bị bãi bỏ. Hoàng đế trực tiếp điều khiển triều đình.
Quyền lực của các quý tộc tôn thất cũng bị hạn chế, không được lập quân vương
hầu, phủ đệ, Lê Thánh Tông bỏ lệ ban Quốc tính. Thời Lê sơ, một số công thần có
uy tín và quyền lực cao đã bị nghi kỵ và lần lượt bị giết hại, như Trần Nguyên Hãn,
Phạm Văn Xảo, Lê Khả, Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Nguyễn Trãi.
Mục tiêu cơ bản của cuộc cải tổ bộ máy Nhà nước của Lê Thánh Tông là
nhằm tập trung tuyệt đối quyền lực Nhà nước vào trong tay nhà vua theo nguyên
tắc “Tôn quân quyền” của Nho giáo và tăng cường hiệu lực của bộ máy quan liêu,
cũng tức là nâng cao sự thể hiện và hiệu quả quyền lực của Hoàng đế.
TRỊNH VIỆT HÀ – LUẬT TC K5 6
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
 Biện pháp chủ yếu mà cuộc cải tổ này thực hiện là:
− Bỏ bớt một số chức quan, cơ quan và chính quyền trung gian để đảm bảo
sự tập trung quyền lực vào nhà vua.
− Các cơ quan giám sát, kiểm soát lẫn nhau để loại trừ sự lạm quyền và
nâng cao trách nhiệm.
− Không tập trung quá nhiều quyền hành vào một cơ quan mà tản ra cho
nhiều cơ quan để ngăn chặn sự tiếm quyền.
Đầu tiên là việc chia, tách, đổi lại các đơn vị hành chính. Biện pháp này không
những có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức lại công tác quản lí thành một hệ thống quy củ
và thống nhất mà còn có tác dụng xóa bỏ, thay đổi địa giới và địa phận cũ của các thế lực
quý tộc phong kiến. Kế đến ở mỗi cấp hành chính, Lê Thánh Tông thực hiện việc phân
tán quyền lực ra cho các cơ quan và cá nhân khác nhau để tránh tập trung quyền lực quá
lớn vào tay một người. Cụ thể như ở cấp đạo, Tam Ty được thành lập để thay nhiệm vụ

chuyên môn như thuyên chuyển tuyển bổ và khảo sát quan lại được trao cho một
cơ quan đặc trách là Thuyên khảo Thanh lại ty.
Còn những công việc thường nhật của bộ thì giao cho Tư vụ sảnh, có quan
tư vụ đứng đầu.Ví dụ: Nhiệm vụ của bộ Hộ: coi sóc ruộng đất, tài chính, nhân
khẩu, tô thuế, kho tàng, thóc tiền và lương của quan quân.
Riêng bộ Hộ và bộ Hình còn thêm Chiếu ma sở có quan Chiếu ma phụ trách
việc ghi chép văn thư vào sổ.
Tuy nhiên, công việc của 6 bộ rất nhiều, có nhiều công việc không thể đảm
trách hết được, do đó vua Lê Thánh Tông lập ra 6 tự phụ trách công việc phụ của 6
bộ. Điều đáng lưu ý là 6 tự (Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự,
Hồng lô tự, Thường bảo tự) là cơ quan độc lập với 6 bộ và chịu sự chỉ đạo trực tiếp
của nhà vua.Phụ trách ở mỗi tự có chức quan Tự khanh trật Chánh ngũ phẩm và
phụ giúp là quan Thiếu khanh Chánh lục phẩm.
Để bảo đảm 6 bộ hoạt động có hiệu quả, các quan lại có trách nhiệm hơn thì
vua Lê Thánh Tông thành lập ra 6 khoa (Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa,
Hình khoa, Công khoa) có chức năng giám sát tương ứng với 6 bộ. Quan phụ trách
cao nhất của mỗi khoa là quan Đô cấp sự trung với trật Chánh nhất phẩm, dưới là
quan Chấp sự trung trật Chánh bát phẩm. Lục khoa không phải là cơ quan cấp dưới
của Lục bộ mà là cơ quan giám sát Lục bộ và báo cáo trực tiếp lên Vua, cho nên
mặc dù quan phụ trách ở khoa tuy phẩm trật không lớn nhưng rất có thực quyền.
Ngoài ra, các cơ quan chuyên môn khác được cải cách phù hợp với chức
năng nhiệm vụ tương ứng với một đối tương, và đảm trách từng công việc cụ thể
hơn.
Từ sự cách cải theo nguyên tắc tản quyền như đã nêu trên ta thấy có nhiều cơ quan
mới được thành lập nhưng bộ máy nhà nước trung ương trở nên tinh gọn hơn, hoạt
động hiệu quả hơn; nhiều chức quan mới xuất hiện tuy phẩm trật khác nhau nhưng
thực quyền như nhau và có trách nhiệm hơn.
5. Câu 5: Ba biện pháp cải cách bộ máy nhà nước Lê Thánh Tông ở cấp
đạo xứ thừa tuyên và cấp xã dưới triều vua Lê Thánh Tông.
Về mặt hành chính, trước đó, Lê Thái Tổ chia nước thành 5 đạo. Lê

phương nào có thể ngoi lên được.
Chia tách và quy định rõ rõ từng loại xã( 3 loại: xã lớn (500 hộ) , xã vừa (trên
300 hộ) và xã nhỏ (trên hộ)) và người đứng đầu của từng xã.Bỏ chế độ xã quan và
đổi thành xã trưởng. Phân định rõ số lượng xã trưởng cho từng loại xã: đại xã thì
dùng 5 người, trung xã thì dùng 4 người, xã nhỏ thì 2 người và nhỏ dưới 60 hộ thì
một người. Quy định rõ về người làm xã trưởng: không cho phép những người là
anh em ruột, anh em con chú, bác, cô, cậu, dì già cùng làm xã trưởng. Trông bộ
máy chính quyền xã gồm các chức: xã trưởng, xã sử, xã tư. Mỗi chức vụ có một
nhiệm vụ triêng biệt. Mỗi xã có thêm nhiều thông nên có thêm chức trưởng thôn để
cùng xã trưởng giải quyết công việc.Nguyên tắc tản quyền ở địa phương mục đích
tránh trình trạng cát cứ địa phương ảnh hưởng đến chính quyền trung ương.
6. Câu 6: Phân tích và chứng minh hệ thống ngũ hình trong Quốc triều
Hình luật (QTHL) đã tiếp thu chọn lọc và sáng tạo ngũ hình trong pháp luật
phong kiến Trung Hoa.
Hình phạt Ngũ hình được các triều đại PKVN áp dụng gồm:
TRỊNH VIỆT HÀ – LUẬT TC K5 9
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
 Xuy: Hình phạt này được nêu rất rõ trong QTHL là có 5 bậc từ 10 đến 50
roi. Phạm nhân sẽ bị đánh bằng roi mây nhỏ vào mông.Trong QTHL hình phạt
này không hề có sự thay đổi so với pháp luật phong kiến Trung Hoa và được coi là
một hình phạt nhẹ với các cấp độ cũng là 5 bậc từ 10 roi đến 50 roi.
Với hình phạt này nhằm mục đích làm cho người phạm tội cảm thấy đau
đớn, xấu hổ và không có ý định phạm tội lần nữa, hình phạt này vừa có thể áp
dụng độc lập(điều 570, 572…QTHL) vừa có thể là hình phạt áp dụng bổ sung cùng
với hình phạt tiền và biếm (điều 295,374…QTHL).
 Trượng: Trong pháp luật Phong kiến Trung Hoa quy định trượng có 5
cấp độ song hình phạt này còn được áp dụng với cả nữ giới chỉ trừ trường hợp
phạm ngoài tội thập ác, thông gian, trộm cắp thì mới được đổi trượng thành xuy.
Còn trong QTHL quy định trượng có 5 cấp độ từ 60 đến 100 roi. Ở bộ
luật này, hình phạt trượng chỉ áp dụng đối với nam giới còn nữ giới thì được đổi

hình là giảo và trảm, chém bêu đầu và lăng trì. Các hình thức này đều khiến cho
mọi người phạm tội đau đớn về thể xác.
7. Câu 7: Phân tích chế định kết hôn trong Quốc triều Hình luật và
Hoàng Việt Luật lệ (HVLL) (phân tích chế độ kết hơn trong Pháp luật phong
kiến VN):
a. Điều kiện kết hôn :
− Pháp luật phong kiến VN quy định các điều kiện để có thể kết hôn là : có
sự đồng ý của cha mẹ (Điều 314 – QTHL, điều 94,điều 109 HVLL) và không vi
phạm các trường hợp cấm kết hôn như : Không được kết hôn giữa những người họ
hàng thân thích (Điều 319 – QTHL, điều 100 và 102 HVLL);Cấm kết hôn khi đang
có tang cha mẹ hay tang chồng (Điều 317, QTHL);Cấm kết hôn khi ông ,bà,cha,mẹ
đang bị giam cầm ,tù tội (Điều 318, QTHL);một số trường hợp khi cuộc kết hôn đó
có thể gây ảnh hưởng đến vương quyền ,trật tự đẳng cấp xã hội ,xâm phạm những
nguyên tắc đạo đức chủ yếu và trật tự xã hội (Điều 324,316,323,334,338,339 của
QTHL, điều 96, 103, 183, 107, 106 , 105, 104, 94,95,98 của HVLL).
− Bộ Quốc triều hình luật không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên
Nam dư hạ tập (phần Lệ Hồng Đức hôn giá )có viết : “Con trai 18 tuổi,con gái 16
tuổi mới có thể thành hôn” Còn trong HVLL quy định “Nếu con trai dưới 20 tuổi
và con gái chưa chồng thì không có quyền tự chủ trong việc cưới xin …” (điều
109)
b. Hình thức và thủ tục kết hôn :
− Được quy định tại các điều 314, 315, 322 QTHL và điều 94 HVLL .Hình
thức và thủ tục kết hôn có hai giai đoạn là đính hôn và thành hôn .Trong quốc triều
hình luật quy định cho thấy cuộc hôn nhân chỉ có giá trị pháp lí từ sau lễ đính hôn.
Ví dụ điều 315 quy định : “Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa
thì phải phạt 80 trượng …còn người con gái phải gả cho người hỏi trước” .Tuy
nhiên ,nếu trong thời gian từ lễ đính hôn đến khi thành hôn mà một trong hai bên
bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.Cuộc hôn nhân có giá trị thực tế
sau lễ thành hôn
− Trong HVLL cũng quy định điều kiện về hình thức gồm có lễ đính hôn và

nhân đối với tài sản ruộng đất của riêng mình .Còn tài sản ruộng đất của hai vợ
chồng cùng làm nên trong thời kỳ hôn nhân được chia làm 2 phần bằng nhau,vợ và
chồng mỗi người một phần.Phần của người chết được chia cho những người thừa
kế cùng với tài sản ruộng đất riêng của người chết .Vấn đề tài sản giữa vợ và
chồng sau khi ly hôn không được Bộ Quốc triều hình luật quy định một cách rõ
ràng.
− Còn trong HVLL thì không quy định về tài sản riêng của vợ, người vợ phụ
thuộc vào chồng và gia đình nhà chồng, cũng không có quy định quyền thừa kế của
người vợ như trong QTHL
8. Câu 8: Phân tích chế độ hôn nhân không tự do, nam nữ bất bình
đẳng trong Pháp luật phong kiến Việt Nam.
− Hôn nhân hầu hết xuất phát từ quyền lợi của gia đình và dòng họ với mục
đích duy trì sự giao kết giữa các dòng họ ;thờ phụng tổ tiên và kế truyền dòng dõi
TRỊNH VIỆT HÀ – LUẬT TC K5 12
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
tông tộc .Nội dung của nguyên tắc hôn nhân không tự do là vấn đề hôn nhân được
đặt dưới sự xem xét của người gia trưởng ,loại trừ sự tự do cá nhân của hai bên
tham gia hôn nhân .Việc ly hôn bị coi là bắt buộc khi quyền lợi của gia đình ,dòng
họ bị đe dọa (thất xuất:không có con , ác tật ,ghen tuông,lắm lời ,dâm đãng ,trôm
cắp ,không kính cha mẹ hoặc tam bất khứ : đã để tang nhà chồng ba năm ,khi lấy
nhau nghèo mà sau giàu ,khi lấy nhau có bà con mà nay bỏ thì không có bà con để
trở về )Đề cao tuyệt đối uy quyền của người chồng và thừa nhận vị trí lệ thuộc của
người vợ. Tinh thần của hàng loạt các quy định PL, đặc biệt là các điều 333,
Đ477,418,482,221,401… QTHL hay Đ164 Hồng đức thiện chính thư… đã cho
thấy rằng, trong quan hệ vợ chồng, người vợ phải thực hiện nghĩa vụ nhiều hơn
thực hiện quyền. Người vợ không có quyền hành động như chồng, do đó trong
trường hợp phạm lỗi giống nhau thì trách nhiệm áp dụng cho vợ và chồng lại khác
nhau theo xu hướng nhẹ hoen đối với chồng.
− Biểu hiện của chế độ hôn nhân gia trưởng trong PLPK
+ Duy trì và bảo vệ chế độ đa thê. điều nàyđược xác lập và duy trì cả bằng

hiện ở chỗ quyền định đoạt tài sản gia đình thuộc về người chồng, cha mẹ chồng.
+ Trong việc li hôn : Nhà làm luật quy định các duyên cớ li hôn là do lỗi của
vợ hoặc chồng
+ Có sự phân biệt đối xử với vợ lẽ: vợ cả mà phạm lỗi thì bị xử phạt nhẹ hơn
vợ lẽ, con của vợ lẽ thì được hưởng phần tài sản thừa kế ít hơn con của vợ cả.
+ Quan hệ cha mẹ và con được điều chỉnh trên cơ sở mệnh lệnh phục tùng và
có sự phân biệt đối xử giữa các con.
9. Phân tích chế độ tài sản giữa vợ và chồng và phân tích chế định thừa
kế trong Quốc triều Hình Luật triều Lê.
a. Chế định tài sản:
Trong suốt 360 năm dài tồn tại, triều đại nhà Lê đã để lại cho hậu thế
những thành tựu to lớn trên lĩnh vực pháp luật và điển chế. Trong số các thành tựu
đó phải kể đến Quốc triều hình luật – Bộ luật quan trọng, chính thống nhất của
Triều Lê. Quốc triều hình luật cũng chính là bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn
lưu giữ được đầy đủ cho đến ngày nay. Mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết lí
Nho giáo – hệ tư tưởng thống trị trong xã hội thời Lê cũng như ảnh hưởng của các
bộ luật Trung Quốc (luật nhà Đường, luật nhà Minh) nhưng nhà làm luật thời Lê
đã biết tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo pháp luật Trung Quốc đồng thời kết hợp với
các phong tục, tập quán đặc thù của xã hội Việt Nam, hòa nhập chúng với hệ thống
pháp luật, tạo nên nét riêng biệt độc đáo của bộ luật. Trong đó phải kể đến chế độ
tài sản giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân – một chế định đặc sắc được quy
định quy định tương đối cụ thể thể hiện gián tiếp thông qua các điều 374, 375, 376
ở chương Điền sản.
Theo như các quy định tại các điều 374, 375, 376 thì tài sản vợ chồng bao
gồm tài sản riêng của mỗi người được thừa kế từ gia đình và tái sản chung vợ
chồng cùng làm ra trong thời kỳ hôn nhân. Sự quy định rõ thành phần khối tài sản
chung, riêng rõ ràng của vợ chồng là điểm rất tiến bộ và độc đáo của pháp luật nhà
Lê và nó vẫn được tiếp thu trong việc xây dựng pháp luật hiện nay. Phản ánh một
cách khá trung thực và điều chỉnh một cách hợp lí mối quan hệ giữa vợ và chồng
phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam, địa vị pháp lí của người vợ được cải thiện

Quốc triều hình luật có những quy định rất rõ ràng về chế định thừa kế
Trong chương Điền sản nói trên, các nhà làm luật thời Lê đã quy định một cách cụ
thể về cách thức làm các loại văn tự và chúc thư về chế độ tài sản của vợ chồng khi
goá bụa, về các trường hợp nảy sinh quan hệ thừa kế và phương thức chia tài sản
được thừa kế. Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá
gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Quốc triều hình luật quy định hai
trình tự thừa kế như sau:
Thừa kế theo di chúc:
Về hình thức di chúc: có di chúc miệng và di chúc viết (chúc thư). Theo tinh
thần và nội dung của Điều 366, người làm chúc thư (cha, mẹ) phải tự viết lấy (nếu
không biết chữ thì nhờ quan viên nào đó trong làng xã viết hộ) và phải có sự chứng
kiến cũng của quan viên trong làng xã thì chúc thư mới hợp pháp. Nguyên tắc tự
do lập di chúc của người tôn trưởng được tôn trọng. Những người con nào được
hưởng quyền thừa kế bao nhiêu là tùy thuộc vào người lập di chúc quy định. Ngoài
hình thức viết, pháp luật còn cho phép lập di chúc miệng, đó là “lệnh” của ông bà.
Thừa kế theo pháp luật
Bộ luật quy định khi cha mẹ chết mà không có chúc thư hoặc chúc thư vô
hiệu thì di sản được chia theo pháp luật. Các Điều 374, 375, 376, 380, 388 và một
số điều khoản khác cho biết có hai hàng thừa kế: hàng thừa kế thứ nhất là các con;
hàng thừa kế thứ hai là cha mẹ hoặc người thừa tự.
TRỊNH VIỆT HÀ – LUẬT TC K5 15
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Quan hệ ở hàng thừa kế thứ nhất chỉ phát sinh khi cha mẹ đều chết. Các con
trong hàng này bao gồm cả con trai, con gái, con vợ cả, con vợ lẽ, con nàng hầu
(Điều 388). Con nuôi cũng được thừa kế khi trong văn tự nhận nuôi con có ghi rõ
cho thừa kế điền sản (Điều 380) và không thất hiếu với cha nuôi. Theo tinh thần
Điều 374, 388 thì phần của con vợ cả đều bằng nhau, phần của con vợ lẽ kém phần
của con vợ cả và cũng đều bằng nhau. Con nuôi được thừa kế bằng nửa phần của
con đẻ, nếu không có con đẻ mà con nuôi ở cũng cha mẹ nuôi từ bé thì được hưởng
cả, không ở cùng từ bé thì được hưởng gấp hai lần người thừa tự của cha mẹ nuôi

hưởng và chi phối cả lĩnh vực lập pháp. Bộ QTHL – tinh hoa của luật pháp thời Lê
sơ đã tiếp thu tư tưởng truyền thống dân tộc, ý thức tự tôn dân tộc về một nền văn
TRỊNH VIỆT HÀ – LUẬT TC K5 16
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
hoá phát triển không thua kém Trung hoa. Chính vì thế, tính dân tộc được thể hiện
rất rõ trong QTHL.
Biểu hiện của tính dân tộc:
− Phong tục tập quán là nguồn luật rất quan trọng của QTHL. Các hương
ước là phong tục tập quán được Nhà nước thừa nhận và ghi nhận trong pháp luật
thành văn. Các nhà làm luật triều Lê đã tiếp thu các giá trị văn hoá của dân tộc
thông qua các phong tục tập quán vốn có từ lâu đời và đang được thực hiện trong
cuộc sống của quần chúng nhân dân, đưa chúng vào hệ thống PL của triều đình.
Việc áp dụng các phong tục tập quán như vậy đã làm cho các điều khoản của bộ
luật phù hợp, sát với thực tế đời sống, dễ hiểu, dễ thực hiện do đó có tính khả thi
cao.
− QTHL là pháp luật hướng Nho nhưng có sự biến đổi linh hoạt phù hợp
với hoàn cảnh của nước ta. PLPKVN đã áp dụng nhiều phong tục tập quán của dân
tộc. Sở dĩ như vậy là do triều đình đã nhận thức rõ sức mạnh của quần chúng nhân
dân đối với sự vững mạnh của xã tắc, sự thịnh suy của triều đình. Việc áp dụng các
phong tục tập quán trong nhiều trường hợp là có lợi cho sự vững mạnh của triềi
đình. Mặt khác, đối với các phong tục truyền thống liên quan đến kinh tế, sở hữu,
thừa kế thì sự thay đổi không hề đơn giản. Những nhân tố đó ảnh hưởng, chi phối
đời sống hằng ngày của dân chúng và gắn vó chặt chẽ với các phong tục tập quán
khác như hôn nhân, thờ cúng tổ tiên. Việc thay đổi các phong tục đó có thể vấp
phải sự chống đối mạnh mẽ từ các tầng lớp nhân dân và đó là điều không có lợi
cho sự vững mạnh của triều đình. Phong tục tập quán được áp dụng trong nhiều
trường hợp. VD: điều 314 QTHL quy định việc đính hôn rất phù hợp với phong tục
tập quán của nước ta. Sự đính hôn chỉ coi là có hiệu lực khi nhà người gái nhận đồ
sính lễ mà nhà trai mang sang gọi là lễ nạp trưng. Lễ trao và nhận dẫn cưới phải
thực hiện một cách trọng thể với sự có mặt của cha mẹ trong khi đó PL nhà Đường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status