Mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và xã hội phân tích vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở VIỆT NAM - Pdf 24

phần Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trái Đất này là của chúng mình, quả bóng xanh bay giữa trời xanh. Trái Đất
của chúng ta sự sống đã bắt đầu từ những thành phần nhỏ bé nhất. Sự sống ấy đã
phát triển lên ngày một lớn mạnh. Thế rồi con ngời xuất hiện. Kể từ lúc ấy sự sống
trên Trái Đất đã thực khác trớc. Con ngời đã làm biến đổi thế giới xung quanh họ
một cách mạnh mẽ hơn bất kì sinh vật nào khác cùng tồn tại trên Trái Đất này. Điều
gì đã làm cho họ có đợc khả năng đó - đó là t duy để hành động.
Một trong số những vấn đề làm cho con ngời phải t duy nhiều nhất, có lịch sử
lâu dài nhất là mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội. Tự nhiên và xã hội là hai khái
niệm lớn nhất và gần gũi nhất với con ngời. Con ngời đồng thời tồn tại và là sản
phẩm của tự nhiên và xã hội do đó con ngời quan tâm đến hai thực thể này là lẽ đ-
ơng nhiên.
Kể từ khi ra đời quan điểm về mối quan hệ này đã thay đổi khá nhiều. Trong
một thời gian rất dài hai khái niệm này đã đợc đem đối lập nhau, theo quan điểm đó
tự nhiên và xã hội hoàn toàn tách rời nhau, không liên quan đến nhau. Quan điểm
này ngày nay vẫn còn tồn tại trong quan điểm nhiều ngời đã dẫn đến nhiều hành vi
phá hủy thiên nhiên mà họ không biết rằng đang phá hủy tơng lai chính con em
mình.
Quan niệm này quả là một sai lầm lớn, thc tế và lí luận khoa học đều chứng tỏ
rằng tự nhiên và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó cùng nằm trong một
tổng thể bao gôm tự nhiên, con ngời và xã hội.
Con ngời và xã hội đã dựa trên nền tảng tự nhiên mà tồn tại và phát triển, nhng
chính trong quá trình tồn tại và phát triển ấythì nền tảng tự nhiên lại bị phá hủy, đặc
biệt là trong thời đại hiện nay khi khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ va dân số
toàn cầu đang bùng nổ thì tự nhiên và môi trờng càng bị phá hủy mạnh mẽ hơn. Các
nhà bác học nhìn xa trông rộng nh Z.Lamark, 1820 đã viết: "Mục đích của con ngời
dờng nh là tiêu diệt nòi giống mình, trớc hết là làm cho Trái Đất trở thành không
thích hợp với sự c trú".
Nếu chúng ta không muốn tiên đoán oan nghiệt này trở thành sự thật thì đã đến
lúc để hành động trớc khi quá muộn. Đã đến lúc con ngời cần xác định rõ mối quan

phần nội dung
1. Cơ sở lí luận:
Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội đã đợc con ngời quan tâm từ rất sớm, cho
đến nay quan niệm về vấn đề này đã trở nên hoàn thiện hơn bao giờ hết.
1.1. Các khái niệm:
Để bắt đầu chúng ta hãy làm rõ các khái niệm:
Tự nhiên: theo nghĩa rộng tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất vô cùng vô tận. Theo
nghĩa này thì con ngời và xã hội loài ngời cũng là một bộ phận của tự nhiên.
Xã hội: xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, hình, thái này lấy mối
quan hệ của con ngời và sự tác động lẫn nhau giữa ngời với ngời làm nền tảng. Theo
Mác: "Xã hội không phải gồm các cá nhân ngời. Xã hội biểu hiện tổng số mối liên
hệ và những quan hệ của các cá nhân với nhau".
1.2. Mối quan hệ biên chứng giữa tự nhiên và xã hội:
Tự nhiên và xã hội thực sự có một mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau:
1.2.1 Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên:
Theo định nghĩa tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan vậy con
ngời và xã hội loài ngời cũng là một bộ phận của thế giới vật chất ấy - con ngời và
xã hội ncũng là bộ phận của tự nhiên.
Nguồn gốc của con ngời là tự nhiên. Quá trình phát triển của tự nhiên đã sản
sinh ra sự sống và theo quy luật tiến hóa, trong những điều kiện nhất định, con ngời
đã xuất hiên từ động vật. Con ngời sống trong giới tự nhiên nh mọi sinh vật khác
3
bởi con ngời là một sinh vật của tự nhiên. Ngay cả bộ óc con ngời, cái mà con ngời
vẫn tự hào cũng chính là sản phẩm cao nhất của vật chất. Chính tự nhiên là tiền đề
cho sự tồn tại và phát triển của con ngời.
Con ngời ra đời không chỉ nhờ những quy luật sinh học mà còn nhờ lao động.
Lao động là một quá trình đợc tiến hành giữa con ngời với tự nhiên, trong quá trình
này con ngời khai thác và cải tiến giới tự nhiên để đáp ứng nhu cầu tồn tại của
mình. Trong lao động cấu tạo cơ thể ngời dần hoàn thiện và do nhu cầu trao đổi
thông tin ngôn ngữ xuất hiện. Lao động và ngôn ngữ là hai kích thích chủ yếu

theo thời gian.
Con ngời là hiện thân của sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội:
Con ngời là sản phẩm của tự nhiên. Con ngời tạo ra xã hội. Con ngời vốn tồn tại
trong tự nhiên nhng sau khi tạo ra xã hội thì lại không thể tách rời xã hội. Để trở
thành một con ngời đích thực con ngời cần đợc sống trong môi trờng xã hội, trong
mối quan hệ qua lại giữa ngời với ngời với ngời.Con ngời mang trong mình bản tính
tự nhiên và bản chất xã hội.
Chính vì thế ta có thể nói rằng con ngời còn là hiện thân của sự thống nhất giữa
xã hội và tự nhiên.
1.2.3. Tự nhiên - nền tảng của xã hội:
Xã hội và tự nhiên thống nhất với nhau nên nó tơng tác với nhau. Đây là một
mối quan hệ biện chứng hai chiều, trớc hết ta xét chiều thứ nhất là những tác động
của tự nhiên lên xã hội loài ngời.
Tự nhiên vô cùng quan trọng với xã hội .Tự nhiên vừa là nguồn gốc của sự xuất
hiện xã hội vừa là môi trờng tồn tại và phát triển của xã hội.
Tự nhiên là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vì xã hội đựoc hình thành trong
sự tiến hóa của thế giới vật chất.
Tự nhiên là môi trờng tồn tại và phát triển của xã hội vì chính tự nhiên đã cung
cấp những điều kiện cần thiết nhất cho sự sống của con ngời và cũng chỉ có tự nhiên
mới cung cấp đợc những điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất xã hội.
Theo Mác, con ngời không thể sáng tạo ra đợc cái gì nếu không có giới tự nhiên,
nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu trong đó lao động của con
ngời đợc thực hiện, trong đó lao động của con ngời tác động, từ đó và nhờ đó, lao
độn của con ngời sản xuất ra sản phẩm.
Tóm lại tự nhiên đã xung cấp mọi thứ cho sự tồn tại của xã hội, mọi thứ mà lao
động của con ngời cần. Mà chính lao động đã tạo ra con ngời và xã hội do đó vai trò
của tự nhiên với xã hội là vô cùng to lớn. Tự nhiên có thể tác động thuận lợi hoặc
gây khó khăn cho sản xuất xã hội; có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm xã hội phát triển
bởi nó là nền tảng của xã hội.
5

Tóm lại trong mối quan hệ với môi trờng tự nhiên xã hội có vai trò ngày càng
quan trọng. Để giữ gìn môi trờng tồn tại và phát triển của mình con ngời cần nắm
chắc các qui luật tự nhiên, kiểm tra điều tiết sử dụng hợp lí, bảo quản khai thác có
6
hiệu quả đảm bảo khả năng tái tạo các nguồn vật chất của tự nhiên, đảm bảo cân
bằng hệ thống tự nhiên - xã hội.
1.2.5. Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội:
Có nhiều yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội trong đó quan
trọng nhất là trình độ phàt triển của xã hội và sự độ nhận thức, vận dụng qui luật tự
nhiên, xã hội vào hoạt động thực tiễn của con ngời.
Mối quan hệ tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã
hội:
Thông qua các hoạt động của con ngời lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội đã
trở nên gắn bó và quy định lẫn nhau. Sự gắn bó và quy định này phụ thuộc vào trình
độ phát triển của xã hội mà tiêu chí để đánh giá là phơng thức sản xuất. Sự ra đời
của những phơng thức sản xuất mới quyết định sự biến chuyển về chất của xã hội
loài ngời. Chính phơng thức sản xuất quy định tính chất của mối quan hệ giữa tự
nhiên và xã hội vì mỗi phơng thức sản xuất khác nhau sẽ có những công cụ lao
động khác nhau để khai thác giới tự nhiên, sẽ có những mục đích tiến hành sản xuất
khác nhau. Khi công cụ thay đổi, mục đích sản xuất của mỗi chế độ sản xuất thay
đổi thì tính chất của mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên cũng thay đổi theo.
Ngày nay, khi có khoa học và kĩ thuật phát triển song với chế độ sở hữu t nhân t
bản chủ nghĩa thì con ngời coi tự nhiên không chỉ là môi trờng sống mà còn là đối
tợng chiếm đoạt nhằm mục đích lợi nhuận. Khủng hoảng môi trờng đã xảy ra ở
nhiều nơi và đang đe dọa sự sống của nhân loại. Để tồn tại và phát triển con ngời
phải chung sống hòa bình với thiên nhiên, thay đổi cách đối xử với tự nhiên mà
quan trọng nhất là phải xóa bỏ chế độ t hữu t nhân t bản chủ nghĩa - nguồn gốc sâu
xa của việc phá hoại tự nhiên nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nhiệm vụ này là nhiệm vụ
của tất cả mọi ngời.
Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ nhận thức và

hội.
Vai trò của môi trờng sinh thái đối với xã hội trong quá trình lịch sử ở những giai
đoạn khác nhau cũng đợc thể hiện một cách khác nhau.
Khi xã hội còn ở trình độ mông muội - khi con ngời chủ yếu chỉ biết săn bắt hái
lợm những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên thì hầu nh con ngời hoàn toàn bị giới tự
nhiên chi phối, thống trị. Cuộc sống xã hội hoàn toàn phụ thuộc môi trờng tự nhiên.
Khi con ngời văn minh hơn - nhất là khi khoa học kĩ thuật phát triển thì con ngời
đã từng bớc chế ngự đợc tự nhiên. Con ngời đã từng bớc chế ngự , khai thác tự
nhiên phục vụ cho nhu cầu của mình. Nhiều ngành nghề ra đời từ những điều kiện
tự nhiên nh nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, đồng thời có những
8
ngành ít phụ thuộc tự nhiên hơn cũng ra đời nh điện tử, phần mềm (mới ra đời trong
thời gian gần đây).
Tuy nhiên cho đến nay xã hội vẫn phụ thuộc môi trờng tự nhiên rất nhiều, nó có
thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất, do đó ảnh hởng đến
năng suất lao động, tốc độ phát triển của xã hội.
Ta có thể lấy một ví dụ về sự ảnh hởng của môi trờng đối với sự phát triển của xã
hội, hãy xem những sự phụ thuộc vào môi trờng tự nhiên từ xa xa của các xã hội đã
ảnh hởng đến tận ngày nay nh thế nào:
Đây là một đoạn trích từ bài viết "Jared Diamond và vận mệnh của các nền
văn minh" của tác giả Trần Hữu Dũng đăng trên tạp chí Tia Sáng số 3, tháng
3, năm 2005:
Trong cuốn "Súng, Vi trùng, và Thép: Định mệnh của các Xã hội Loài ngời"
(Guns, germs and Steel: The Fates of Human Societies", New York: Norton, 1997)
Jared Diamond viện dẫn những yếu tố môi trờng và cấu trúc để giải thích tại sao các
nớc Tây phơng trổ nên thống trị thế giới. Mục đích của ông, Diamond bộc bạch
ngay từ đầu, là nhằm triệt hạ những ý kiến cho rằng chủng tộc, văn hóa và truyền
thống có ảnh hởng quyết định đến những khác biệt về công nghệ của những xã hội
khác nhau, trên những châu lục khác nhau, trong suốt lịch sử.
Diamond tóm tắt phát hiện của ông nh sau: Lịch sử của các nhóm dân khác nhau

Càng truy gặng, càng lùi ngợc về quá khứ, Diamond càng thấy các yêu tố môi trờng
là quan trọng.
Cụ thể, Diamond phân biệt bốn cách khác nhau về môi trờng:
1. Khác nhau thứ nhất giữa các đại lục là về các giống thảo mộc và động vật
hoang dã mà con ngời có thể đem về nuôi trồng. Ông lý luận rằng khả năng
nuôi trồng là quyết định khả năng có lơng thực thặng d, và chỉ khi lơng thực
có thặng d thì xã hội mới "nuôi" đợc một thành phần
"chuyên viên" giúp xã phát triển những lĩnh vực nh công nghệ, văn hóa,
v.v Chính những phát triển này sẽ tạo cho xã hội liên hệ những u thế chính
trị và quân sự so với láng giềng.
2. Khác nhau thứ hai là về những yếu tố ảnh hởng đến sự chuyển dịch (cả ngời
lẫn vật) trong cùng một lục địa. Những sự chuyển dịch này là dễ dàng nhất ở
lục địa Âu á, bởi vì hớng chính của lục địa này là đông tây, tơng đói ít ngăn
trở môi sinh và địa lý.
3. Khác nhau thứ ba là về những yếu tố ảnh hởng đến sự chuyển dịch giữa các
lục địa. Vì những ngăn cản địa lý, nhiều lục địa không nhận đợc những công
nghệ hay thú vật, thảo mộc từ các lục địa khác. Song, Diamond cũng nhìn
10
nhận, sự biệt lập này lắm khi cũng có lợi vì nó khuyến khích phát triển những
giống vật nuôi trồng tại địa phơng, cũng nh các công nghệ bản địa.
4. Cái khác nhau cuối cùng là về dân số và diện tích đất đai. Lục địa càng rộng
càng đông dân thì càng có nhiều ngời phát minh. Hơn nữa, trong một lục địa
nh vậy sẽ có nhiều xã hội tranh đua hơn, rồi chính sự tanh đua giữa các xã
hội gần gũi nhau đó sẽ gây áp lực phát minh và cải cách, bởi lẽ những quốc
gia "tụt hậu" sẽ bị các quốc gia khác thống trị, thậm chí tiêu diệt.
Một đoạn thích thú trong quyển sách là sự so sánh của Diamond về sự tiến bộ
công nghệ giữa Trung Quốc và Tây phơng. Trung Quốc đã có những hạm đội viễn
dơng vào những năm đầu của thế kỷ XV nhng sau đó không lâu thì lại giải thể hạm
đội này, chấm dứt mọi hoạt động viễn du, vì lệnh triều đình (cụ thể là do sự tranh
chấp quyền lực giữa các phe trong triều đình lúc ấy). ở châu Âu, trái lại, nhà thám

không đề cập, đó là sự bùng nổ dân số.
Mỗi cá thể ngời đều có những nhu cầu của riêng nó, nó cần tiêu thụ các nguồn
tài nguyên thiên nhiên, và gây ra các ảnh hởng nhất định đến môi trờng. Khi dân số
phát triển ngày càng cao thì nh cầu với tự nhiên càng lớn; những nhu cầu thiết yếu
nh ăn mặc, thực phẩm, thuốc men, nớc sạch ngày càng thiếu thốn. Đồng thời nhiều
vấn đề môi trờng cũng nảy sinh nh ô nhiễm nguồn nớc, rác thải đặc biệt là việc tăng
cờng khai thác các nguồn đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên nhằm đáp ứng các nhu
cầu của con ngời. áp lực lên môi trờng ngày càng lớn và thực sự khả năng chịu
đựng của môi trờng là có hạn.
Sự bùng nổ dân số thực tế là sự tăng lên rất nhanh của số lợng cá thể của quần
thẻ ngời là một ví dụ cho sự phát triển vốn có ở tất cả các loài. Một quy luật kèm
theo là: Khi số lợng cá thể của quần thể vợt quá khả năng chịu đựng của môi trờng
thì sự chết hàng loạt sẽ xảy ra nhng thờng là từng vùng chứ không phải là quy mô
toàn cầu (I.M. Barrett and oth, 1986)
Nếu điều này xảy ra với loài ngời thì quả là tai họa. Mà những cách ứng xử sai
của con ngời với tự nhiên hiện nay đang làm giảm đi sức chịu đựng của tự nhiên.
Do đó chúng ta cần giải quyết tốt vấn đề môi trờng va c xử đúng với tự nhiên.
Nguyên nhân của sai lầm này là do chế độ t hữu t bản chủ nghĩa, cần xóa bỏ nó,
khi xây dựng đựoc chế độ xã hội chủ nghĩa, con ngời sẽ c xử tốt hơn với tự nhiên vì
không còn bị lợi nhuận chi phối.
2. Vấn đề bảo vệ môi trờng hiện nay ở Việt Nam:
Qua phần trên chúng ta thấy rõ ràng cần phải bảo vệ môi trờng, gìn giữ sự cân
bằng của hệ thống tự nhiên - xã hội nhằm đảm bảo sự tồn tại phát triển lâu dài và ổn
định cho xã hội loài ngời. Giờ chúng ta sẽ xem xét vấn đề trong điều kiện cụ thể
của Việt Nam.
12
2.1. Khái quát về môi trờng và các nguồn tài nguyên của Việt Nam:
Việt Nam: Những số liệu thống kê chính
Thủ đô : Hà Nội
Ngôn ngữ chính thức : tiếng Việt

Địa Trung Hải.
Việt nam có hơn 3500 mỏ gồm 80 loại khoáng sản. Mới chỉ có 270 mỏ đợc khai
thác gồm 32 loại khoáng sản.
Khoáng sản chủ yếu: Than trữ lợng 3 đến 3,5 tỷ tấn; dầu mỏ trữ lợng Vịnh Bắc
bộ là 500 triệu tấn, Nam Côn sơn 400 triệu tấn, Cửu long 300 triệu tấn, Vịnh Thái
lan 300 triệu tấn; quặng sắt trữ lợng 700 triệu tấn; khí đốt thiên nhiên có trữ lợng
lớn.
Tài nguyên khoáng vật của Việt nam đợc đánh giá là to lớn, đủ cơ sở cho công
nghiệp hóa.
2.1.4. Môi trờng và tài nguyên biển Việt Nam:
Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 có nhiều tiềm năng về kinh tế và
có độ đa dạng sinh học cao.
Việt Nam có trên 100 loài cá có sản lợng cao, còn có nhiều hải sản quý nh: cua,
mực, sò huyết, trai, hàu, hải sâm, bào ng, rùa biển, đồi mồi, ngọc trai. Ven bờ có sò,
ngao , điệp, hàu, phi, don với sản lợng hàng chục vạn tấn một năm.
Biển Việt Nam nằm trong một trong 5 ổ bão của hành tinh. Hơn 100 năm gần
đây có 493 cơn bão, trung bình 4,7 cơn một năm.
2.1.5. Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học:
Việt Nam là nớc có nguồn tài nguyên rừng lớn và có giá trị. Nhiều ngời dân
sống phụ thuộc vào rừng: Việt Nam có từ 7 đến 8 triệu dân sống ở rừng, 18 triệu
dân có cuộc sống gắn với rừng.
Rừng cho vật liệu xây dựng, năng lợng, dợc liệu, gien động vật hoang dã. Rừng
ngập măn là cái nôi của tôm cá biển, bảo tồn sinh học, chống sói mòn đất, điều hòa
khí hậu, tăng nớc ngầm, chống lũ lụt, xâm thực. Thảm thực vật
phong phú của rừng Việt Nam đã tạo cho lãnh thổ Việt Nam có một hệ động vật và
nguồn tài nguyên động vật vô cùng phong phú, đa dạng và đày sự hấp dẫn. Chính
nguồn tài nguyên động vật này đã từng là nguồn cung cấp thực phẩm, là
nguồn dợc liệu độc đáo, là nguyên liệu chế biến ra các mặt hàng mỹ nghệ trang
điểm cho cuộc sống.
14

nhiên Việt Nam với sự đa dạng sinh học có tầm cỡ quốc tế đợc chú ý và đánh giá
cao.
Tuy nhiên do các hoạt động khai thác không hợp lý các nguồn tài nguyên sinh
vật, phá hủy môi trờng sống, đa dạng sinh học Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm
trọng.
Nhiều loài động vật đã biến mất hoàn toàn (nh tê giác hai sừng), số loài bị đe
dọa ngày càng nhiều. Một số loài có nguy cơ bị tuyệt diệt là: tê giác một sừng, bò
xám, bò rừng, hạc cổ trắng, đồi mồi, cóc tía
Tê giác Java (tê giác một sừng: Rinoceros sondaicus) là loài có nguy cơ tuyệt
chủng cao hàng đầu ở Việt Nam và trên thế giới. ở Việt Nam chỉ có khoảng 7 cá
thể loài này tại Vờn quốc gia Cát Tiên.
2.1.6. Vấn đề môi trờng ở Việt Nam:
15
Do chiến tranh tàn phá, sự gia tăng dân số nhanh, sự phát triển của các ngành
kinh tế, tài nguyên môi trờngViệt Nam đã bị phá hủy nhiều. Thực sự Việt Nam
đang gặp nhiều vấn đề về môi trờng.
Ngày nay Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiên đại hóa đất n-
ớc, nền kinh tế mới chuyển đổi sang kinh tế thị trờng. Sự phát triển công nghiệp với
những công nghệ ít thân thiện với môi trờng đồng thời với một hệ thống chính sách
và thực hiện ít hiệu quả trong việc bảo vệ môi trờng đang làm cho môi trờng Việt
Nam trở nên ô nhiễm hơn. Cơ chế thị trờng cùng với một bộ phận nhân dân thiếu
hiểu biết sẵn sàng khai thác đến cạn kiệt mọi nguồn tài nguyê vì lợi nhuận. Đói
nghèo cũng đẩy nhiều ngời vào cảnh phải tàn phá thiên nhiên vì miếng cơm manh
áo hàng ngày. Ngay cả du lịch sinh thái, khi đợc tổ chc không hợp lí cũng phá hủy
cảnh quan môi trờng. Rác thải sinh hoạt, công nghiệp, khói bụi ngày càng nhiều
hơn và thực sự rất khó giải quyết.
Bảy vấn đề môi trờng gay cấn của Việt Nam:
1. Nạn phá rừng:
Năm 1943 ta có 37% đất phủ xanh
Năm 1975 " 29,1% "

nhiều ngời còn di chứng không khắc phục đợc.
Nhìn chung chất lợng môi trờng Việt Nam ngày một xấu đi.
2.2. Nhìn ra thế giới - Những bài học:
2.2.1. Vấn đề môi trờng trên thế giới:
Rất nhiều nớc trên thế giới cũng gặp những vấn đề về môi trờng nh Việt Nam.
Trung Quốc cùng ở trong giai đoạn phát triển nh Việt Nam song có đi trớc Việt
Nam một thời gian, cho đến nay những vấn đề môi trờng ở Trung Quốc là rất nan
giải: ô nhiễm nớc, rừng không còn, khói bụi
Nhiều nơi khác đã gặp thảm họa ngay từ bây giờ:
Biển Aral là một điển hình về thảm họa sinh thái do con ngời gây ra. Biển Aral ở
Trung á - một nơi ô nhiễm nhất trên Trái Đất. Một thời nổi tiếng la Biển Xanh, đã
từng là hồ nớc ngọt lớn thứ t thế giới, nhng chỉ trong vòng 30 năm, nó đã bị thu hẹp
tới hơn một nửa diện tích và nớc của nó trở nên mặn nh nớc biển. Khi nguồn nớc
cạn kiệt và bốc hơi, để lại trong lòng hồ3,6 triệu ha đất bị ô nhiễm và những trận
bão dữ dội lại quét lợng đất ô nhiễm này đổ sang các vùng đất xung quanh. Thực
phẩm giờ đây khan hiếm, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh đang tăng lên và tuổi thọ của ngời
dân vùng này, theo một số chuyên gia, đang giảm xuống 20 năm.
Thảm họa sinh thái này là do qua nhiều thập kỉ biển Aral không đợc chú ý đến
và bị quản lí sai lầm, nh khai thác nớc quá mức do hệ thống tới tiêu, để các chất thải
chảy từ sông ra biển một cách bừa bãi, sử dụng một lợng nớc lớn cho thủy điện.
17
Ngày nay, Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế Giới, Liên hiệp châu Âu và một số nớc
khác đang huy động nỗ lực quốc tế để phục hồi cân bằng sinh thái của vùng biển
Aral, bổ sung nguồn tài nguyên và cấp bách giải quyết các vấn đề nh sức khỏe cộng
đồng, nớc, thuốc trừ sâu và những vấn đề khẩn cấp khác trong cuộc chạy đua với
thời gian.
Haiti là một ví dụ khác, nớc này đã bị mất toàn bộ rừng nhiệt đới do chặt phá
bừa bãi dùng làm chất đốt. Cứ mỗi khi mùa ma đến nớc này lại phải chịu lũ lụt
khủng khiếp, lở đất xói mòn rửa trôi đất canh tác xảy ra ở khắp mọi nơi.
Số liệu về sự mất sinh cảnh ở một số nớc có độ đa dạng sinh học cao:

thảm hoạ mà con ngời không thể tởng tợng. Tuy nhiên có thể phác thảo thảm họa
này nh sau: Trái Đất nóng lên băng 2 cực tan ra các dòng hải lu thay đổi các
vùng đất thấp ngập trong nớc, khí hậu biến đổi mùa màng thất bát, bệnh dịch, mất
sinh cảnh, mất đa dạng sinh học khủng hoảng lơng thực khủng hoảng kinh tế,
18
tài chính toàn cầu: đó là thảm họa. Songcó nhiều ngời vẫn không công nhận Trái
Đất đang nóng lên, bởi nếu nhìn từng năm thì có năm nóng hơn nhng cũng có năm
lạnh hơn. Phải nhìn vào xu thế của hàng chụ c nămmới thấy đợc nhiệt độ đang tăng
lên. Việc giải quyết vấn đề naỳ cũng cần có thời gian, bởi khí hậu có sức ỳ lớn.
Ngay cả khi lợng khí thải gây hiệu ứng nhà kính bây giờ đợc chấm dứt một cách
thần kỳ thì ảnh hởng của việc xả khí thải từ trớc vẫn còn làm tăng nhiệt độ và mực
nớc biển trong những thế kỉ tới. Bên cạnh đó còn có nhiều thảm họa toàn cầu khác
cũng đang đợi chúng ta.
Mà với tốc độ tăng trởng khiêm tốn là 3% một năm, nền kinh tế toàn cầu trong
50 năm tới sẽ có quy mô gấp bốn lần hiện nay. Liệu nền kinh tế to lớn đó có tạo ra
ít căng thẳng về xã hội và môi trờng hơn một nền kinh tế nhỏ bé hơn nhiều hiện nay
không?Hay liệu chúng ta có giải quyết đợc vấn đề hay không?
Câu trả lời là có và lối thoát là phát triển bền vững:
Phát triển bền vững (sustainable development) là một khái niêm mới ra đời từ
Hội nghị về môi trờng tại Rio de Zanero năm 1992 có ý nghĩa: một sự phát triển đ-
ợc coi là bền vững khi nó không làm ảnh hởng đến khả năng cung cấp các nhu cầu
thiết yếu cho các thế hệ mai sau.
Những nội dung của phát triển bền vững chủ yếu là quy hoạch sử dụng hợp lý lâu
bền các nguồn ttài nguyên thiên nhiên, chú ý bảo vệ môi trờng và gìn giữ đa dạng
sinh học, cân bằng một cách hài hòa lợi ích của ngời dân và các mục tiêu bảo vệ
môi trờng, chú ý đến giáo dục, y tế và cuộc sống của nhân dân.
Một trong 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ (MDGs) của LHQ là phát triển bền
vững
Mục tiêu 7: Đảm bảo sự bền vững môi trờng
- Lồng ghép phát triển bền vững vào các chính sách quốc gia và

Môi trờng ra đời.
+ Khuyến cáo phải quan trắc và thông tin bảo vệ môi trờng. Thực hiện
Monitoring.
+ Xây dựng chiến lợc phát triển bền vững cho ngành và địa phơng.
+ Đánh giá tác động môi trờng, tai biến môi trờng.
- 7 chơng trình hành động:
+ Quản lí xây dựng.
+ Quản lí tổng hợp lu vực các sông.
+ Quản lí tổng hợp vùng ven biển, cửa sông.
20
+ Bảo vệ vùng đất ngâp nớc.
+ Bảo vệ đa dạng sinh học, các vờn quốc gia.
+ Kiểm soát ô nhiễm và xử lí phế thải.
- Hai chơng trình hỗ trợ là:
+ Giáo dục đào tạo.
+ Quản lí hợp tác quốc tế.
Hiện nay chúng ta đã có bộ Bộ Tài nguyên và Môi trờng riêng để quản lý các
vấn đề tài nguyên môi trờng.
Những hoạt động này đã mang lại một số kết qua ban đầu song cần phải tiếp tục
duy trì lâu dài nhằm đạt đợc chiến lợc phát triển bền vững của nớc nhà. Thực sự vẫn
còn rất nhiều việc phải làm.

phần kết
Môi trờng thực sự là một vấn đề lớn và cấp bách song việc giải quyết nó lại cần
một thời gian dài. Việc giải quyết này sẽ quyết định trực tiếp đến tơng lai của loài
ngời chúng ta.
Điều quan trọng ở đây là chúng ta phải nhận thức đợc một cách đúng đắn mối
quan hệ giữa tự nhiên, môi trờng và xã hội. Đây là cơ sở đầu tiên cho việc giải
quyết những vấn đề môi trờng hiện nay.
Sau khi đã nhận thức tốt chúng ta cần biến những nhận thức đó thành hành động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status