phân tích bản chất và thực tiễn của chính sách “hộp đỏ” trong hỗ trợ nông nghiệp - Pdf 24

KHÓA LUẬN MÔN CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
Chủ đề: Phân tích bản chất và thực tiễn của chính sách “hộp đỏ”
trong hỗ trợ nông nghiệp.
Nhóm 10 - Lớp KT50A
1. Phạm Thị Nhung
2. Đào Thị Như
3. Đinh Thị Niên
4. Ngô Việt Phương
5. Nguyễn Hoa Phượng
1
MỤC LỤC
2.1.1. Hỗ trợ 4
I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam đã được đẩy mạnh ngay từ đầu
thập niên của thế kỷ trước với sự tham gia vào các tổ chức như ASEAN,
AFTA, APEC, ASEM…Đặc biệt khi trở thành thành viên chính thức của
WTO từ 11-1-2007, Việt Nam bắt đầu bước vào sân chơi chung của thị
trường thương mại thế giới theo luật chơi chung dành cho tất cả các thành
viên của tổ chức này và từng bước thực hiện việc hội nhập kinh tế quốc tế
theo lộ trình phù hợp. Việc thực thi các cam kết, tận dụng thành công những
cơ hội và giảm tới mức thấp nhất các thách thức, khó khăn khi gia nhập
WTO bên cạnh nỗ lực của người dân, doanh nghiệp, còn phụ thuộc rất
lớn vào việc điều chỉnh quản lý các chính sách và thực hiện cam kết của
Việt Nam trong Hiệp định Nông nghiệp của WTO.
Nông nghiệp là ngành có nhiều rủi ro, đặc biệt là giá cả nông sản rất bấp
bênh. Do đó để có thể đứng vững và phát triển thì ngành nông nghiệp cần có
2
sự can thiệp và trợ giúp tích cực của Nhà nước. Tuy nhiên sự trợ giúp đó có
thể bóp méo tính cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Nếu tất cả các nước
thành viên WTO đều áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính cho các nhà sản

lại để hỗ trợ cho ngành nông nghiệp.
2.1.2. Trợ cấp xuất khẩu
Theo cách hiểu của WTO, trợ cấp xuất khẩu có thể là một khoản thanh
toán trực tiếp từ ngân sách hoặc cũng có thể là việc Nhà nước miễn một
khoản phải thu cho các nhà xuất khẩu khi họ xuất hàng hóa ra nước ngoài.
2.1.3. Hộp đỏ
Loại hỗ trợ mang tính bóp méo thương mại rõ ràng và do vậy sẽ không
được miễn và buộc phải cắt giảm. Mức độ hỗ trợ của chính phủ cho ngành
nông nghiệp trong hộp đỏ được tính bằng “Tổng mức hỗ trợ gộp” (AMS).
AMS được xác định bằng cách tính từ phần chi tiêu ngân sách Nhà nước
cũng phần thu ngân sách được miễn. 4
Hỗ trợ
tính gộp
theo sp
cụ thể
Hỗ trợ
tính gộp
không
theo sp
cụ thể
Mức hỗ
trợ
tương
đương
Tổng hỗ trợ
tính gộp
(Tổng AMS)

+ Trợ cấp cho nông sản dựa theo tỉ lệ xuất khẩu;
+ Trợ cấp để giảm chi phí tiếp thị, kể cả chi phí xử lý, nâng cấp, tái
chế sản phẩm, chi phí vận tải quốc tế, cước phí vận chuyển;
+ Ưu đãi về cước phí vận tải trong nước và quốc tế đối với hàng xuất
khẩu hơn hàng nội địa.
Trong giai đoạn thực hiện, các nước đang phát triển được phép áp
dụng 2 loại trợ cấp cuối cùng.
2.2.2. Một số công cụ của chính sách hộp đỏ
+ Cố định giá đầu vào nhằm tránh biến động lớn về giá. Nông dân
được mua giá cố định không kể địa phương hay tầng lớp xã hội.
+ Trợ cước và trợ giá các đầu vào quan trọng để nông dân mua được
đầu vào với giá thấp hơn giá thị trường. Chính sách này áp dụng ở các vùng
sâu, xa, đặc biệt khó khăn.
+ Trợ cấp bù chênh lệch giá giữa thị trường và giá thực tế mà người
sản xuất nhận được.
+ Giá cố định định hoặc tối thiểu đối với người sản xuất và giá trần
đối với người bán buôn và bán lẻ gắn với hoạt động của các kho đệm được
mua vào ở mức giá sàn lúc thu hoạch và bán ra với giá trần lúc giáp hạt.
(Ngô Đức Cát, Vũ Đình Thắng, 2001, giáo trình phân tích chính sách nông
nghiệp, nông thôn, NXB Thống kê, Hà Nội, trang 126 – 133).
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ trong nông nghiệp
+ Việc thực thi các nguyên tắc thị trường trong chính sách nông
nghiệp khi gia nhập WTO: một số hình thức hỗ trợ nông nghiệp trong chính
sách hộp đỏ làm bóp méo tính cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Nếu
tất cả các nước thành viên WTO đều áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính cho
6
các nhà sản xuất để họ xuất khẩu nhiều hơn sẽ dẫn đến một cuộc đua về trợ
cấp giữa các nước, kéo theo sự bất bình đẳng về cạnh tranh.
+ Sự công bằng trong một quốc gia: khi Nhà nước hỗ trợ không phải
nông dân nào cũng được hưởng lợi. Có thể nông dân vùng này được nhưng

2
Đường cung sản phẩm dịch chuyển từ S1 đến S2 và lượng sản phẩm
cũng tăng từ Q1 đến Q2.
Thặng dư của người tiêu dùng luôn tăng một lượng là (a+d+e)
Thặng dư của người sản xuất:
Trước khi trợ giá là (a+b) và sau trợ giá là (b+c)
(b+c) – (a+b) = c - a
Nếu c > a thì người sản xuất được lợi
Nếu c < a thì người sản xuất bị thiệt
Tuy nhiên c lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào: độ co giãn của cầu đầu
vào theo giá đầu vào; độ co giãn của năng suất so với lượng đầu vào được sử
dụng.
Kết luận: ngay cả trong trường hợp cầu không co dãn thì kết quả đáng
ngạc nhiên của trợ giá đầu vào theo sản xuất là người tiêu dùng luôn được
lợi trong khi người nông dân có thể bị thiệt.
2.4.2. Tác động của trợ giá đầu vào tới an sinh xã hôi
và dịch chuyển tài nguyên8
Q1 Q2
S1
S2
e
c
a
b
d
P
0

a
Q3 Q1 Q2 Q4
D
S
Q
+ Giá cả thế giới là P
o
, lượng cung là Q
2
, tiêu dùng Q
1
và xuất khẩu là
(Q
2
- Q
1
)
+ Chính phủ trợ cấp (P
1
– P
o
)/đơn vị sản phẩm xuất khẩu thì mức giá
tăng lên P
1
, khi đó lượng cung là Q
4
, trong đó lượng cầu là Q
3
. Với mức giá
cao đó, nhà sản xuất có lợi, người tiêu dùng bị thiệt, quốc gia gánh chịu một

nghiệp mới – (Farm Bill). Riêng chương trình ban hành năm 2002 nhằm
giúp các chủ trại bị hạn hán nặng nề đã cung cấp 635 triệu USD cho các chủ
trại và người nuôi bò sữa ở những vùng chỉ bị hạn vừa phải, thậm chí không
11
bị hạn hán, áp dụng đối với 16 loại cây trồng. Ngoài ra, Mỹ còn áp dụng
nhiều biện pháp hỗ trợ xuất khẩu thông qua các chương trình của mình.
Hay như Liên minh châu Âu EU được thành lập nhằm thiết lập một
thị trường nông nghiệp thống nhất vào đầu năm 1962. Theo cam kết với
WTO, mỗi năm EU được phép trợ cấp theo ‘’hộp màu đỏ’’ là 62 tỷ đô la.
Tuy nhiên hiện nay EU đang có lượng trợ cấp vượt quá qui định của WTO.
Nông nghiệp Nhật Bản cũng là một trong những khu vực được
bảo hộ cao trong quá trình hội nhập. Tổng số tiền chi cho chính sách
thuộc ‘’hộp màu hổ phách’’ là 27.13 tỷ đô la. Trong đó chi cho chênh lệch
giá giữa trong nước và ngoài nước là 25.4 tỷ đô la, chiếm 93.6%. Còn lại
1.73 tỷ đô la, chiếm 6.4% được dùng trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp.
Trong khi đó Trung Quốc giáng giềng của Việt Nam trợ cấp thuộc chính
sách hộp đỏ có thể chiếm tới 8,5% gía trị sản lượng nông nghiệp. (Bùi Xuân
Lưu (2004), Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, trang 76-122)
3.1.2 Đặc điểm của Việt Nam
Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, mở ra cơ hội mở rộng thị trường tăng kim ngạch xuất khẩu đối với
tất cả các mặt hàng trong nước đặc biệt là mặt hàng nông sản. Một số nông
sản của Việt Nam đang đứng ở vị trí cao trên thế giới: gạo (thứ 2 sau Thái
Lan), cà phê (thứ 2 sau Braxin), điều (thứ 2 sau Ấn Độ), tiêu (thứ nhất), cao
su (thứ 4 sau Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia), chè (thứ 6), lâm sản v.v Sau
khi gia nhập WTO, thị trường thế giới sẽ rộng mở hơn, những ngành hàng
này tiếp tục được hưởng lợi.
Thứ hai, nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế có vai trò
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, với gần 80% dân cư sống ở nông

thay đổi lớn từ bên ngoài. Do đó, Chính phủ vẫn còn áp dụng một số kiểm
soát về giá thông qua hạn ngạch và giới hạn số lượng nhà xuất khẩu tham
gia vào thương mại quốc tế. Việt Nam đã duy trì các biện pháp trợ giá đối
với hai mặt hàng gạo và đường trong giai đoạn 1996 – 2001. Với mặt hàng
gạo, trong giai đoạn 1996 – 2001, Chính phủ đã có những chính sách can
thiệp như hạn ngạch xuất khẩu, kiểm soát số lượng các nhà xuất khẩu. Các
NTM (các biện pháp phi thuế quan) này đã khiến cho giá nội địa và giá xuất
khẩu của mặt hàng gạo thấp hơn so với giá thế giới. Ví dụ năm 1996, giá gạo
5% tấm trong nước là 260 USD/tấn, giá xuất khẩu là 310 USD/tấn trong khi
giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Thái Lan là 360 USD/tấn. Năm 1998, khi
Chính phủ cho phép nhiều doanh nghiệp cùng tham gia xuất khẩu gạo và nới
rộng hạn ngạch xuất khẩu gạo, giá gạo năm 1999 ở thị trường nội địa là 226
USD/tấn, giá xuất khẩu là 228 USD/tấn trong khi giá gạo xuất khẩu của Thái
Lan là 239 USD/tấn.
Đối với mặt hàng đường, Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách
can thiệp khiến cho giá quản lý áp dụng của mặt hàng này cao hơn so với giá
tham khảo trên thị trường. Các biện pháp quản lý áp dụng đối với mặt hàng
này là giấy phép nhập khẩu (áp dụng đối với đường thô và đường tinh
luyện), chỉ định nhà nhập khẩu, quy định mức giá sàn mua mía tối thiểu cho
các nhà máy đường để đảm bảo thu nhập cho nông dân trồng mía. Trong
năm 1999, mức giá sàn thu mua mía được ấn định ở mức 240.000 đồng/tấn.
Hỗ trợ về giống: Việt Nam đã xây dựng được một chiến lược phát
triển giống cho một số mặt hàng nông sản chiến lược trong giai đoạn 1996 –
2001. Nhà nước đã ban hành các biện pháp nhằm hỗ trợ các cơ sở chăn nuôi
giống gốc. Thông thường chi phí để nuôi giữ đàn giống gốc rất cao do quy
trình kỹ thuật nghiêm ngặt. Vì vậy giá con giống sản xuất ra cao, trong khi
14
trình độ sản xuất và điều kiện kinh tế của người dân chưa đủ để tiếp nhận
con giống với giá cao như vậy. Do đó, hàng năm, Nhà nước chi hỗ trợ cho
các cơ sở sản xuất giống để họ bán sản phẩm với giá thấp hơn. Nguồn tài trợ

bình ổn giá (nay là Quỹ hỗ trợ xuất khẩu). Nhà nước thực hiện phụ thu đối
với hàng xuất nhập khẩu trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa giá
trong nước và giá xuất nhập khẩu nhằm mục đích ổn định giá cả thị trường
trong nước.
Đối với mặt hàng gạo, Chính phủ đã hỗ trợ lãi suất để mua gạo trong
vụ thu hoạch suốt giai đoạn 1996 – 2001 nhằm giúp các doanh nghiệp
thương mại Nhà nước mua gạo nhằm khắc phục tình trạng giá gạo giảm
mạnh trên thị trường nội địa trong vụ thu hoạch gây ảnh hưởng xấu đến
người nông dân. Chính phủ quyết định tạm trữ một triệu tấn gạo trong năm
2001 và kéo dài thời gian tạm trữ mặt hàng này thêm 6 tháng như quy định
của nghị quyết 05/2001/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/5/2001 về
bổ sung giải pháp điều hành kế hoạch kinh tế 2001.
Mặt hàng nông sản thứ hai rất được quan tâm hỗ trợ là mặt hàng
đường. Thực hiện chương trình mía đường quốc gia năm 1995, nhiều nhà
máy chế biến đường bằng nguồn vốn chủ yếu vay thương mại VNĐ và USD
tại thời điểm ký kết hợp đồng vay vốn mua thiết bị năm 2000 và 2001, các
nhà máy này mới được cấp tiền. Trong hai năm 1999-2000, theo quyết định
số 65/2000/QĐ – TTg ngày 7/6/2000 Thủ tướng Chính phủ đã giảm 50%
thếu VAT phải trả cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng
đường. Từ năm 2000 trở đi, một loạt các chính sách hỗ trợ đã được áp dụng
bao gồm hỗ trợ lãi suất cho vay để đầu tư trồng mía và sản xuất đường, bù
chênh lệch tỷ giá và cấp vốn lưu động theo quyết định 854/2000/QĐ-TTg
16
ngày 7/9/2000 và quyết định 194/1999/QĐ-TTg ngày 23/9/1999, hỗ trợ lãi
xuất thu mua đường trong vụ thu hoạch theo công văn số 562/CP-NN ngày
7/6/2000 của Chính phủ, và hỗ trợ các khu vực trồng mía từ nguồn ngân
sách địa phương. Theo đó, các địa phương chỉ hỗ trợ làm đất, giống, chuyển
đổi đất lúa sang trồng mía cho nông dân. Tỉnh Nghệ An hỗ trợ cho nông dân
khai hoang đất trồng mía 300.000-400.000/ha; phục hóa hỗ trợ 100.000 –
150.000 đ/ha; chuyển đổi cây trồng khác sang trồng mía hỗ trợ 100.000

3.2.2 Trợ cấp xuất khẩu
Trong giai đoạn 1998 trở về trước, Việt Nam không trợ cấp trực tiếp
xuất khẩu từ ngân sách Nhà nước. Nhưng trong giai đoạn 1999-2001, sau
khủng hoảng tài chính Châu Á, làm đồng tiền các nước này mất giá, kinh tế
thế giới tăng trưởng chậm, giá nông sản trên thị trường thế giới giảm mạnh,
ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nông dân, Chính phủ đã phải tăng
cường trợ cấp xuất khẩu, thông qua bù lỗ xuất khẩu, thưởng xuất khẩu.
Trong giai đoạn 1999-2001, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo được hỗ
trợ lãi suất trả chậm vay ngân hàng. Nhà nước hỗ trợ bù lỗ dự trữ và thưởng
xuất khẩu 180 đồng cho 1 USD gạo xuất khẩu, 220 đồng cho 1 USD cà phê
xuất khẩu, và 400-500 đồng/1 USD dứa hộp, dưa chuột hộp xuất khảu sang
thị trường Nga và Hoa Kỳ. Đối với sản phẩm thịt lợn, trong giai đoạn 1999-
2000, nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp bù lỗ từ việc xuất khẩu thịt lợn sang
Nga và Hồng Kông.
Trợ cấp xuất khẩu
Đơn vị: tỷ đồng
1999 2000 2001 Trung bình
Gạo 486,0 600,0 822,77 636,26
Thịt lợn 49,7 31,3 31,48 37,49
18
Cà phê 203,0 348,6 536,35 362,65
Rau Quả 12,0 9,9 165,00 62,30
Total 750,7 989,6 1.566,16 1.098,5
Nguồn: WTO document WT/ACC/SPEC/VNM/3/Rev.5, Bénédicte
Hermelin(2005)
3.3 Tác động của chính sách hộp đỏ
Việt Nam là nước đang phát triển nên vẫn được duy trì mức hỗ trợ
10% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.Do đó chúng tôi nghiên cứu tác động
của việc hỗ trợ của Việt Nam trong các hình thức được áp dụng
3.3.1 Tác động tích cực:

xuất khẩu đã tạo động lực để các doanh nghiệp tăng cường đẩy mạnh công
tác tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu; Ngoài ra giúp tiêu thụ hết
lượng trong dân giúp cho người dân có vốn sản xuất và có điều kiện để tổ
chức lại sản xuất chuyển dịch cơ cấu sản xuất thích hợp. Từ đó giúp người
sản xuất gia tăng sản xuất nâng cao thu nhập.
Người tiêu dùng:
Khi nhà nước hỗ trợ(mức 10% giá trị sản lượng) sản xuất nông nghiệp thì
người ta sản xuất nhiều hơn, người tiêu dùng trong nước được mua nhiều
hàng hóa và với giá rẻ hơn. Người tiêu dùng được hưởng lợi từ các chương
trình hỗ trợ trong nước từ đó làm tăng thặng dư.
Khi bỏ trợ cấp một số ngành không thể cạnh tranh, không thể tiếp tục sản
xuất, hàng hóa được nhập khẩu và bán với giá rẻ hơn,như vậy sẽ có lợi cho
người tiêu dùng.
Tới an sinh xã hội:
20
Thông qua các biện pháp hỗ trợ và trợ cấp một số ngành, địa bàn,tạo
công ăn việc làm, người nông dân yên tâm sản xuất, đời sống nhân dân được
cải thiện hơn. Điều này đặc biệt quan trọng với Việt Nam vì chúng ta có tới
70% dân số sinh sống bằng nghề nông. Đồng thời, người tiêu dùng có cơ hội
mua các sản phẩm nông sản với giá rẻ hơn, chất lượng cao hơn. Trong thời
gian qua, vấn đề an ninh lương thực quốc gia luôn luôn ổn định.
3.3.2 Tác động tiêu cực.
Tới nền kinh tế:
Chính phủ phải chi một lượng tiền làm hâm hụt ngân sách. Nhiều mục đích
hỗ trợ của chính phủ không đạt mục tiêu đề ra. Cơ cấu đầu tư còn chưa hợp lý, phân
bổ vốn trong các chương trình còn dàn đều, bình quân Tính tích cực và lợi ích
thu được thông qua trợ cấp xuất khẩu không có tính lâu dài, chi phí cơ hội
của trợ cấp xuất khẩu thường lớn, làm méo mó quan hệ cạnh tranh và
thường bị nước ngoài trả đũa.
Trong vài năm qua hàng xuất khẩu của ta bị các nước điều tra chống

trực tiếp cho người sản xuất (nông dân) rất ít, nhất là đối với dân nghèo,
vùng khó khăn.
3.4.2 Hỗ trợ nông nghiệp ở Việt Nam chưa vượt quá mức quy định
của WTO.
22
Cam kết quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực trợ cấp và hỗ trợ nông
nghiệp là xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu sau khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, Việt
Nam vẫn bảo lưu quyền được hưởng trợ cấp xuất khẩu nông sản dành riêng
cho các nước đang phát triển. Trước đây, một số nước cũng yêu cầu Việt
Nam cam kết “giữ nguyên trạng”, tức là sau khi gia nhập WTO sẽ không
tăng trợ cấp so với mức hiện hành. Đây là một khó khăn trong bối cảnh
chúng ta đang trong quá trình xây dựng chính sách hỗ trợ xuất khẩu. Trước
đây, do điều kiện hạn hẹp của nền kinh tế, chúng ta không thể hỗ trợ tài
chính cho sản xuất và chế biến nông sản, do vậy mức trợ cấp rất thấp. Trong
điều kiện hội nhập, ngành nông nghiệp rất cần sự hỗ trợ hơn nữa để nâng
cao năng suất, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang quy mô lớn hơn, nâng cao
chất lượng sản phẩm để phát triển sản xuất, cạnh tranh với sản phẩm của các
nước khác. Chúng ta đã cam kết duy trì hỗ trợ trong nước (AMS) ở mức
10% giá trị sản xuất nông nghiệp, theo quy định của WTO.
Theo bà Phạm Thị Tước, Vụ phó Vụ Kế hoạch Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, hiện tại có một số hình thức trợ cấp nhưng số tiền còn rất
nhỏ và đang được điều chỉnh giảm dần cho phù hợp mà không gây sốc đối
với nông dân. Qua khảo sát của Dự án hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực thể
chế giúp Việt Nam gia nhập WTO cho thấy, giá trị trợ cấp cao nhất dành cho
hai nhóm hàng gạo và cà phê; tỷ lệ trợ cấp cao nhất lại thuộc về thịt lợn
(6%) và rau quả (3%). Tuy nhiên, mức trợ cấp này không có giá trị kinh tế
lớn. Thậm chí mức này còn thấp hơn một số nước trong khu vực.
Khảo sát của dự án cũng cho biết: 84,5% tổng số chính sách hỗ trợ của
Việt Nam hướng vào xây dựng hạ tầng nông nghiệp; 10,7% được dùng vào
các chương trình phát triển mà chủ yếu là hỗ trợ đầu tư. Chỉ có 4,9% dùng

+ Nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại hỗ trợ doanh
nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Kim Chung (2005), Bài giảng chính sách nông nghiệp, Đại học Nông
nghiệp, Hà Nội.
Ngô Đức Cát, Vũ Đình Thắng (2001). giáo trình phân tích chính sách nông
nghiệp, nông thôn, NXB Thống kê, Hà Nội.
Bùi Xuân Lưu (2004). Bảo hộ hợp lý nông nghiệ Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội.
Phạm Vân Đình (2005). Giáo trình chính sách nông nghiệp, NXB nông
nghiệp, Hà Nội.
Đỗ Đức Thọ (1999). ‘Áp dụng phương pháp ma trận phân tích chính sách
(PAM) để đánh giá ảnh hưởng của chính sách trợ giá mía đường
vùng
mía đường Lam Sơn, Thanh Hóa’, luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế,
Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội.
Phạm Hoàng Ngân (2006). ‘Đổi mới chính sách nông nghiệp Việt Nam - Kỳ
II ‘, http://www.ipsard.gov.vn/news/newsdetail.asp?targetID=897
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (2006). ‘Hiệp định về Nông nghiệp
’http://www.kenhthuonggia.vn/cms/detail.php?id=3577
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status